BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: KHẢO SÁT QUI TRÌNH
SẢN XUẤT GIỐNG TÔM CÀNG XANH
(Macrobrachium rosenbergii de Man 1879)
THEO MÔ HÌNH NƯỚC TRONG HỞ
TẠI TRẠI SẢN XUẤT GIỐNG MỸ THẠNH
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Nguyễn Chí Thanh
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn: Trần Văn Phát Thành phố Hồ Chí Minh
2005
Thời gian xuất hiện post từ 17 đến 19 ngày đối với bể màu xanh từ 23 đến 25
ngày đối với các bể màu trắng.
Tỷ lệ sống các bể xanh từ 36 đến 42,75%, các bể trắng khu 1 đạt từ 23,6 đến
30%, các bể trắng khu 2 đạt thấp nhất từ 13,2% đến 25,2%.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- iii -
- iii -
ABSTRACT The study on “Freshwater giant prawn propagation technique using open clean
were from 13.2 to 25.2%.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- iv -
- iv -
CẢM TẠ Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu cùng quý Thầy Cô Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ
Chí Minh.
Ban Chủ Nhiệm cùng quý Thầy Cô Khoa Thủy Sản đã tạo điều kiện thuận lợi
cho chúng tôi trong suốt quá trình học và thực hiện đề tài tốt nghiệp. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- v -
- v -
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
TRANG TỰA i
TÓM TẮT TIẾNG VIỆT ii
TÓM TẮT TIẾNG ANH iii
CẢM TẠ iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH SÁCH HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ viii
I. GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt Vấn Đề 1
1.2 Mục Tiêu 1
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Tôm Càng Xanh 2
2.1.1 Phân loại 2
2.1.2 Phân bố 2
2.7.4 Bệnh đục cơ 16
2.7.5 Bệnh đen mang 17
2.7.6 Bệnh dính chân 17
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời Gian Và Đòa Điểm 19
3.2 Vật Liệu Và Trang Thiết Bò 19
3.3 Phương Pháp Thu Số Liệu 19
3.3.1 Phương pháp theo dõi các yếu tố môi trường 19
3.3.2 Phương pháp theo dõi qui trình kỹ thuật nuôi 20
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 20
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Sơ Lược Trại Giống 21
4.1.1 Vò trí trại 21
4.1.2 Cơ sở vật chất 22
4.1.3 Nhân lực 27
4.2 Quy Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Giống 29
4.2.1 Vệ sinh bể, dụng cụ trước khi tiến hành bố trí sản xuất 29
4.2.2 Chuẩn bò tôm trứng 31
4.2.3 Chuẩn bò nước ương ấu trùng 34
4.2.4 Thu và bố trí ấu trùng 34
4.2.5 Chăm sóc và cho ăn 37
4.2.6 Quản lý môi trường nước ương nuôi 41
4.2.7 Sự ngọt hóa và chăm sóc hậu ấu trùng 45
4.2.8 Thu hoạch hậu ấu trùng 45
4.3 Kết quả sản xuất 47
4.3.1 Số tôm trứng sử dụng 47
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- viii -
- viii -
DANH SÁCH HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ
4.24 Siphon bể ương 44
4.25 Thay nước bể ương 44
4.26 Ngâm rửa dụng cụ sau khi vệ sinh bể 44
4.27 Bố trí giá thể trong bể ương 46
4.28 Cấp nước ngọt cho bể ương 46
4.29 Thu hoạch hậu ấu trùng 46
4.30 Cân mẫu đònh lượng hậu ấu trùng 46
ĐỒ THỊ NỘI DUNG TRANG
4.1 Biến động nhiệt độ trong quá trình ương 42
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.I. GIỚI THIỆU 1.1 Đặt Vấn Đề
Tôm Càng Xanh (Macrobrachium rosenbergii) là loài giáp xác sống và phát
triển chủ yếu trong môi trường nước ngọt, có tốc độ tăng trưởng nhanh, kích thước cá
thể lớn, thòt thơm ngon, được nhiều người ưa chuộng. Hiện nay nó là một trong những
đối tượng quan trọng trong nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản của khu vực Đông
Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Ở nước ta, Đồng Bằng Sông Cửu Long là nơi có tiềm năng rất lớn cho nghề
nuôi thủy sản nói chung và nuôi Tôm Càng Xanh nói riêng. Trong số các tỉnh ở khu
vực, An Giang là tỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản,
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 2 -
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc Điểm Sinh Học Tôm Càng Xanh
2.1.1
Phân loại
Ngành : Arthropoda
Ngành phụ : Anterata
Lớp : Crustacea
Lớp phụ : Malacostraca
Bộ : Decapoda
Bộ phụ : Natantia
Phân bộ : Caridea
Họ : Palaemonidae
Họ phụ : Palaemoninae
Giống : Macrobrachium
Loài : Macrobrachium rosenbergii de Man 1879
2.1.2 Phân bố
Trong tự nhiên, Tôm Càng Xanh phân bố rộng ở các vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới, tập trung ở khu vực Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương, chủ yếu
ở khu vực từ Châu Úc đến New Guinea, Trung Quốc và Ấn Độ. Tôm phân bố ở hầu
hết các thủy vực nước ngọt trong nội đòa như sông, hồ, ruộng, đầm hay cả các thủy
có 12 – 15 răng. Chiều dài chủy của cá thể trưởng thành ở con cái thường bằng hoặc
ngắn hơn vỏ đầu ngực, còn chủy ở con đực dài hơn chiều dài vỏ đầu ngực.
Chân ngực thứ 2 luôn luôn phát triển hơn các chân khác, nhất là ở con đực
trưởng thành; đôi chân ngực thứ 2 có hình dạng và kích thước giống nhau ở hai phía
(trái và phải). Trong quá trình tăng trưởng, con đực thường lớn nhanh hơn con cái
(Phạm Văn Tình, 2004).
Khi chiều dài cơ thể đạt từ 8 – 14cm, trọng lượng cơ thể đạt từ 10 – 20g, tốc
độ phát triển ở con đực và cái tương đương nhau; nhưng khi chiều dài cơ thể tôm vượt
quá 14cm, con đực thường phát triển nhanh hơn con cái (Phạm Văn Tình, 2004).
Trong quá trình nuôi, thả nuôi trực tiếp tôm bột (Postlarvae) sau 7 tháng nuôi,
cá thể đực lớn nhất đạt 110g, cá thể cái lớn nhất chỉ đạt 50g (Phạm Văn Tình, 2004).
C, hoạt động sinh trưởng và sinh sản của tôm
sẽ bò suy giảm. Nhiệt độ cao thường làm cho tôm sớm thành thục và kích cỡ nhỏ.
2.1.4.2 Độ mặn
Giai đoạn ấu trùng cần độ mặn 6 – 16‰, tốt nhất 10 – 12‰.
Các giai đoạn tôm lớn hơn cần độ mặn thấp dưới 6‰. Tôm giống và tôm lớn
cần sống trong nước ngọt để sinh trưởng tốt nhất, tuy nhiên, chúng có thể chòu được
đến độ mặn 25‰. Ở độ mặn 30‰ hay trên tôm giống chết rất nhanh do quá trình
điều hòa áp suất thẩm thấu bò phá vỡ hoàn toàn. Ở độ mặn 2 – 5‰ tôm lớn tương đối
nhanh hơn so với ở 0‰ và nhanh hơn nhiều so với ở 15‰. Trong nuôi tôm, độ mặn
tốt nhất không quá 10‰.
2.1.4.3
Oxy
Nhu cầu Oxy cho hô hấp của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn
của tôm, nhiệt độ, độ mặn… Đối với tôm con, Oxy tối thiểu phải trên 2,1ppm ở nhiệt
độ 23
0
C, trên 2,9ppm ở 28
0
C và 4,7ppm ở 33
0
C. Tôm lớn cần nhiều Oxy hơn tôm
nhỏ. Trong sản xuất giống, Oxy nên được duy trì trên 5ppm.
2.1.4.4
Đạm
trong khoảng 50 – 150ppm. Đối với ương nuôi ấu trùng, độ cứng thấp dưới 50ppm có
thể gây ra hiện tượng mềm vỏ.
2.1.5 Tập tính ăn và bắt mồi
Tôm Càng Xanh là loài ăn tạp thiên về động vật, thức ăn của chúng trong tự
nhiên gồm các loại nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn
thể, các mảnh cá vụn, các loài tảo, mùn bã hữu cơ.
Tôm Càng Xanh xác đònh thức ăn trước hết là nhờ mùi và màu sắc. Tôm tìm
thức ăn bằng cơ quan xúc giác, dùng râu quét ngang dọc phía trước đường đi của nó,
khi tìm được thức ăn, chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp gắp thức ăn đưa vào miệng.
Cường độ bắt mồi của tôm sẽ giảm nếu độ no của dạ dày tăng và trong thời
gian ấp trứng chúng có thể nhòn ăn vài ba ngày.
Tôm thường bắt mồi vào chiều tối và sáng sớm. Chúng ưa ăn thòt các cá thể
mới lột xác đồng giới tính hơn các cá thể khác giới tính. Hiện tượng này thường xảy
ra trong các bể nuôi tôm bố mẹ thiếu thức ăn.
2.2
Đặc Điểm Sinh Sản Tôm Càng Xanh
2.2.1 Vòng đời của Tôm Càng Xanh
Theo Nguyễn Việt Thắng (1993) và Phạm Văn Tình (1996), (trích bởi
Nguyễn Thò Thanh Thủy, 2002) mùa đẻ rộ của Tôm Càng Xanh ở Đồng Bằng Nam
Bộ tập trung vào hai thời điểm, từ tháng 4 đến tháng 6 và từ tháng 8 đến tháng 10.
Vòng đời Tôm Càng Xanh có 4 giai đoạn bao gồm: trứng, ấu trùng, hậu ấu
Hình 2.3 Vòng đời Tôm Càng Xanh Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 7 -
2.2.2 Sự thành thục, nở và ấp trứng
Theo Phạm Văn Tình, 2004 (trích bởi Trung Tâm Khuyến Ngư Quốc Gia,
2004) đã nghiên cứu:
Tôm Càng Xanh trưởng thành sống chủ yếu ở vùng nước ngọt. Khi con cái và
Ấu trùng thường sống trong nước có độ mặn 7 – 18‰ để tồn tại và phát
triển. Thời gian ấu trùng chuyển thành tôm bột nhanh nhất là 16 ngày và dài nhất là
40 ngày. Khi chuyển thành tôm bột chúng sẽ di chuyển về vùng nước ngọt để sinh
trưởng và phát triển. Lúc này tôm bột có sự thích ứng độ thẩm thấu độ mặn rộng.
(Phạm Văn Tình, 2004; trích bởi Trung Tâm Khuyến Ngư Quốc Gia, 2004).
Ấu trùng nở ra sống phù du. Ấu trùng ăn liên tục và trong tự nhiên, thức ăn
chính là các phiêu sinh động vật (chủ yếu là các giáp xác nhỏ), giun rất nhỏ và ấu
trùng của các động vật không xương sống thủy sinh khác (M.B. New và S. Singholka,
1985).
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 8 -
Trải qua 11 lần biến thái tương ứng với 11 lần lột xác (Uno và Soo, 1969;
trích bởi Nguyễn Thò Thanh Thủy, 2002) để trở thành hậu ấu trùng. Lúc này tôm có
xu hướng tiến vào vùng nước ngọt như sông, rạch, ruộng, ao hồ …, ở đó, chúng sinh
sống và lớn lên.
Bảng 2.1: Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của Tôm Càng Xanh
Giai đoạn
Ngày
tuổi
(ngày)
Chiều dài
ấu trùng
(mm)
Đặc điểm
I
2,80
3,75
4,06
4,68
6,07
7,05
7,73
7,69
Mắt chưa có cuống
Mắt có cuống
Xuất hiện chân đuôi (Uropod)
Có hai răng trên chủy, chân đuôi có hai nhánh,
có lông tơ
Telson hẹp và kéo dài ra
Mầm chân bụng xuất hiện
Chân bụng có hai nhánh, chưa có lông tơ
Chân bụng có lông tơ
Nhánh trong của chân bụng có nhánh phụ trong
Có 3 – 4 răng trên chủy
Răng xuất hiện hết nửa trên chủy
Răng xuất hiện cả trên và dưới chủy, có tập tính
như tôm lớn
(Nguồn: Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003)
2.2.4
Sự phát triển của hậu ấu trùng
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003:
Giai đoạn hậu ấu trùng (Postlarvae), tôm có hình dạng và tập tính sống như
Hình2.4 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của Tôm Càng Xanh
(
Nguồn:
con tôm post giống ở đợt ương đầu tiên.
Khắc phục những hạn chế thực tế từ đợt đầu tiên, trong niên vụ năm 2003,
trung tâm đã giao được trên 4,6 triệu con tôm post cung ứng cho ngư dân, hầu hết đều
có tỷ lệ sống cao.
Dù quy trình sản xuất theo mô hình này có chi phí, giá thành con giống thấp,
nhưng con giống ấy lại mẫn cảm với môi trường nên tỷ lệ hao hụt cao khi nuôi thương
phẩm.
Để tiếp tục khắc phục những tồn tại, tháng 3 – 2004 trại Mỹ Thạnh đã tiếp
nhận chuyển giao công nghệ của Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II mô hình
sản xuất giống Tôm Càng Xanh theo quy trình nước trong hở. Đợt đầu tiên trại ương
được 3.500.000 con tôm post, tỷ lệ sống đạt từ 40 – 50% trở lên.
Từ đó đến nay, quy trình nước trong hở đã dần đi vào hoạt động ổn đònh; sản
xuất giống theo sự hợp đồng với ngư dân, trung bình mỗi năm trại sản xuất được ba
đợt lớn (sản xuất hết công suất các bể). Mỗi đợt sản xuất được khoảng 1,5 – 1,7 triệu
tôm post.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 11 -
2.5 Các Mô Hình Sản Xuất Giống Tôm Càng Xanh
Hiện nay có bốn dạng quy trình khác nhau được ứng dụng trong ương nuôi ấu
trùng Tôm Càng Xanh. Sự khác nhau cơ bản giữa các quy trình là chế độ quản lý chất
lượng nước ương nuôi ấu trùng. Tùy theo điều kiện kỹ thuật và kinh tế của từng vùng
mà áp dụng các quy trình khác nhau. Sau đây là bốn hệ thống cơ bản theo sự tổng
hợp của Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003.
Nguyên tắc hoạt động của quy trình là ổn đònh môi trường nước ương nhờ hệ
thống lọc sinh học. Đặc điểm cơ bản của hệ thống này là dùng bể lọc sinh học để lọc
nước thải ra từ bể ương và tái sử dụng. Không thay nước trong suốt quá trình ương,
chỉ bổ sung thêm nước mới để bù vào lượng nước đã bay hơi và điều chỉnh độ mặn
không thay đổi trong quá trình ương.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 12 -
Ưu điểm: Đơn giản khi vận hành và tiết kiệm được nước phù hợp với những
trại xa nguồn nước mặn và chất lượng nước không được ổn đònh, giảm công lao động
hằng ngày trong việc thay nước và bơm nước. Hạn chế được lượng nước thải ra môi
trường xung quanh.
Nhược điểm: Quy trình đòi hỏi trại có kỹ thuật cao, đầu tư cao, thiết bò đồng
bộ, phức tạp khi lắp đặt. Khi xảy ra sự cố khó xử lý.
2.5.3
Hệ thống nước xanh
Quy trình nước xanh được bắt đầu nghiên cứu từ năm 1966 do Fujimura khởi
xướng và đã hoàn thiện vào năm 1974. Tiếp theo Liao (1979), Adisukressno (1980),
M.B. New và S. Singholka (1982), Malecha (1983) đã bổ sung hoàn chỉnh quy trình.
Quy trình này đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia.
Nguyên tắc hoạt động của quy trình này là dùng tảo để ổn đònh môi trường
nước ương. Đặc điểm chính của quy trình này là thường xuyên bổ sung tảo Chlorella
2.6 Môi Trường Ương Nuôi Ấu Trùng
2.6.1 Độ mặn
Theo những tổng hợp của Nguyễn Thò Thanh Thủy (2002), có nhiều ý kiến
về ngưỡng độ mặn ương nuôi ấu trùng Tôm Càng Xanh. Nhưng nhìn chung chúng dao
động từ 12 – 15‰. Aquacop (1984) và Grissinger (1986) đã duy trì độ mặn 12‰
suốt thời gian ấp và ương, chỉ giảm xuống 6 – 10‰ khi ương hậu ấu trùng
(Postlarvae) và đã thu được kết quả tốt. Nguyễn Việt Thắng và ctv (1988, 1991) đã
chọn 12‰ suốt quá trình ương cho đến khi thu hoạch hậu ấu trùng.
Theo những thí nghiệm của Nguyễn Thò Thanh Thủy (2002), duy trì độ mặn
cho suốt quá trình ương là 12 ± 1‰. Tuy nhiên, khi theo dõi một số ấu trùng ngẫu
nhiên còn sót lại trong bể nuôi giữ tôm bố mẹ ở nước giếng có độ mặn 4 – 8‰,
chúng vẫn sống bình thường và biến thái thành hậu ấu trùng. Điều này cho thấy khả
năng chòu đựng với sự dao động độ mặn của ấu trùng tôm khá rộng. Do vậy, độ mặn
trong các bể ương không cần thật chính xác, có thể dao động ±2‰ nhưng không nên
thay đổi lớn.
2.6.2 Nhiệt độ, pH và Oxy hòa tan
Ling (1969), Fujimura (1974), New (1982), Aquacop (1977, 1984) và một số
tác giả khác (trích bởi Nguyễn Thò Thanh Thủy, 2002) gần như đều thống nhất khi
đưa ra khoảng dao động thích hợp của các chỉ tiêu trên đối với ấu trùng tôm như sau:
t
0
C : 25 – 28 ± 0,5
0
C
100mg/l CaCO
3
cho kết quả tốt hơn và hàm lượng CaCO
3
cao hơn 150mg/l sẽ là tiền
đề cho sự phát triển các loại ký sinh sau này đối với ấu trùng Tôm Càng Xanh
(Nguyễn Thò Thanh Thủy, 2002).
2.6.4 Các hợp chất nitơ trong nước
Aquacop (1977, 1983); Grissinger (1986); Liao và Mayo (1972) (trích bởi
Nguyễn Thò Thanh Thủy, 2002) đã xác đònh ngưỡng sinh lý của một số hợp chất nitơ
đối với ấu trùng Tôm Càng Xanh trong môi trường ương:
NH
4
+
: 0,005 – 1mg/l
NO
2
-
: 0,002 – 0,35mg/l
NO
3
-
: 0,5 – 3,5mg/l
Vượt quá nồng độ giới hạn của các chất nêu trên, nhất là NH
4
+
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 15 -
2.7 Một Số Bệnh Thường Gặp Trong Sản Xuất Giống
Ở điều kiện nước ta, theo Nguyễn Việt Thắng (1993) và Phạm Văn Tình
(1996) (trích bởi Nguyễn Thò Thanh Thủy, 2002), trong một chu kỳ ương nuôi, ấu
trùng thường bò bệnh vào giai đoạn 5 – 8. Theo Trung Tâm Khuyến Ngư Quốc Gia
(2004) một số bệnh thường gặp là:
2.7.1 Bệnh gây chết giữa chu kỳ nuôi
2.7.1.1
Đặc điểm bệnh
Bệnh thường gặp khi đã nuôi ấu trùng từ 10 – 20 ngày. Khi bò bệnh, ấu trùng
thường chết rất nhiều, sau 2 – 3 ngày có thể chết hết.
Ấu trùng yếu, bơi lội chậm chạp hơn bình thường, bơi theo hình xoắn ốc, màu
sắc xám nhạt (sau 10 ngày nuôi màu sắc của ấu trùng thường nâu sáng), ăn Nauplius
Artemia ít, có Artemia thừa trong bể (tôm khỏe mạnh sau 10 ngày nuôi khi cho
Artemia vào sau 2 giờ ấu trùng ăn hết). Những ấu trùng yếu sẽ bò những con khỏe ăn
thòt.
Khi xem ấu trùng qua kính hiển vi thấy phần gan tụy co lại, nhỏ hơn bình
thường, các sắc tố bò mất. Khi quan sát bể vào ban đêm thấy có hiện tượng những con
2.7.2.2
Phòng và trò bệnh
Cho formol 10 – 15ppm kích thích tôm dễ lột xác, cho thêm Lecithin vào
trong thức ăn, giúp hạn chế mắc bệnh.
2.7.3 Bệnh hoại tử
2.7.3.1 Đặc điểm bệnh
Bệnh này thường hay gặp trong sản xuất giống Tôm Càng Xanh cũng như
tôm biển. Ở Tôm Càng Xanh bệnh thường xuất hiện từ giai đoạn 5 trở đi.
Khi quan sát trong bể nuôi thấy ấu trùng bơi không bình thường, hoặc chìm
nhiều ở đáy bể, quan sát trên kính hiển vi thấy các phần phụ của ấu trùng bò ăn mòn,
hoặc cụt (như chủy, chân bụng, chân ngực), chỗ bò ăn mòn có màu vàng cam. Khi bò
bệnh nặng, không chữa trò kòp thời ấu trùng chết nhiều.
Chủ yếu do môi trường nước nuôi bò sốc, trong đó yếu tố nhiệt độ là chủ yếu.
Khi nhiệt độ nước nuôi trên 29
0
C tôm thường bò bệnh này.
2.7.3.2
Phòng và trò bệnh
Khống chế nhiệt độ nước nuôi ổn đònh từ 27 – 28
0
C, lúc thay nước chú ý các