CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
Trường
Khoa……………….
………… o0o…………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Xây dựng đề tài: thực trạng và các giải pháp giải
quyết ô nhiễm môi trường làng nghề xã Hữu Bằng
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
1
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Chương I: Cơ sở lý luận về vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề 2
I. Khái niệm bảo vệ môi trường 2
1. Khái niệm 2
2. Một số nội dung về ô nhiễm môi trường làng nghề 3
II. Các chính sách bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống 6
1. Luật bảo vệ môi trường 6
2. Các văn bản của thành phố 8
3. Các văn bản của UBND huyện 8
III. Tác động của ô nhiễm môi trường đến đời sống dân cư 8
1. Tác động đến cảnh quan 8
2. Tác động đến sức khỏe 8
3. Tác động đến hệ sinh thái 9
4. Tác động đến sản xuất kinh doanh 9
IV. Kinh nghiệm một số địa phương trong bảo vệ MT làng nghề truyền thống 10
1. Tổ chức khơi thông dòng chảy 10
2. Tổ chức thu gom rác thải 10
3. Tổ chức sản xuất tập trung 10
III. Kiến nghị 33
Phần kết luận
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
3
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
LỜI MỞ ĐẦU
Xã Hữu Bằng nằm ở phía Đông Nam huyện Thạch Thất, ngoại thành Hà
Nội, cách thị trấn huyện 3km, phía Đông xã giáp xã Phùng Xá, phía Tây giáp xã
Thạch Xá - xã Bình Phú, phía Bắc giáp xã Dị Nậu, phía Nam giáp xã Bình Phú,
cách thủ đô Hà Nội gần 30km được nối liền bởi trục đường giao thông quan trọng
Láng - Hòa Lạc bám sát hai bên đường này là một chuỗi đô thị và các khu công
nghiệp, rất thuận tiện cho việc giao thông giữa huyện với thủ đô. Đó là điều kiện
thuận lợi để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế của huyện Thạch Thất và địa
phương trong huyện.
Với đặc điểm một làng nghề có lịch sử truyền thống lâu đời, đất chật người
đông. Tổng diện tích đất tự nhiên là 178,4 ha; trong đó đất ở 30 ha. Tổng dân số xã
hữu bằng là 15.607 nhân khẩu, số lao động ở xã là 8.076 số lao động ở nơi khác
đến làm việc trên địa bàn xã khoảng 4.000 lao động, xã có 57 doanh nghiệp và
HTX, 3.276 hộ sản xuất TTCN và dịch vụ thương mại kinh tế phát triển theo
hướng (CN-TTCN-DVTM). Kinh tế làng nghề phát triển phong phú, đa dạng.
Kinh tế địa phương rất phát triển nhưng cũng tạo ra rất nhiều bất cập đi kèm theo
như các tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, cân bằng sinh thái bị phá vỡ…
Là một sinh viên, sau khi học tập, nhận được sự hướng dẫn tận tình của nhà
trường, tôi xin được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cơ sở, mà cụ
thể là ( Xây dựng đề tài: thực trạng và các giải pháp giải quyết ô nhiễm môi
trường làng nghề xã Hữu Bằng ) tại địa phương
Đây là đề tài tôi đã lựa chọn làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp cho
mình.qua quá trình thực tập nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy chuyên đề tốt nghiệp
có những yêu cầu sau:
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
môi trường và công tác bảo vệ môi trường hiện nay đối với chúng ta còn rất
mới mẻ,lên mọi công việc triển khai của chính quyền các cấp cũng như đối cới
người dân, còn rất bỡ ngỡ và lúng túng vì chưa có kinh nghiệm trong thực tiễn nói
chung và nhất là đối với các làng nghề truyền thống hiện nay đang gặp phải rất
nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống
vì lý do nêu trên lên tôi chọn nghiên cứu đề tài ( Thực trạng và các giải pháp
gải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề xã Hữu Bằng )
đề tài mà tôi lựa chọn nghiên cứu làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp là rất
phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương hiện nay vì xã Hữu Bằng là một xã
làng nghề truyền thống, công tác bảo vệ môi trường tuy đã được triển khai nhưng
cũng còn nhiều bất cập và lúng túng chưa đáp ứng được như mong muốn
2 . mục tiêu nghiên cứu của đề tài
đề tài mà bản thân tôi đã lựa chọn làm chuyên đề thực tập tốt nghiếp sẽ làm
rõ những vấn đề sau:
trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thực trạng và các giải pháp giải
quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề xã Hữu Bằng hiện nay
khái quát hoá được một số kinh nghiệm của một số làng nghề truyền thống ở
các địa phương khác
phân tích và đánh giá thực trạng về ô nhiễm môi trường ở xã Hữu Bằng và
các giải pháp giải quyết ô nhiễm môi trường trong thời gian qua
xây dựng và đề xuất các quan điểm và định hướng đưa ra các giải pháp chủ
yếu để nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề xã Hữu Bằng
3 . đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
6
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
đối tượng nghiên cứu là môi trường làng nghề truyền thống và bảo vệ môi
trường làng nghề truyền thống
phạm vi nghiên cứu:
thân hiểu rộng hơn và vận dụng được nhiều hơn những kiến thức đã học vào thực
tiễn phát triển ở địa phương trong quá trình công tác. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
I. KHÁI NIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1. Khái niệm:
Chúng ta biết rằng: Môi trường của một sự vật hoặc của một sự kiện là tổng
thể các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sự vật và sự kiện đó. Khi nói đến môi
trường thì phải nói đến môi trường của sự vật và sự kiện gì vì những đối tượng này
chỉ tồn tại ở môi trường xác định vì các yếu tố bên ngoài.
Chúng ta có những khái niệm về môi trường như sau:
- Định nghĩa về Môi trường của Kalesnick: Môi trường là một bộ phận của
Trái đất bao quanh con người mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có
quan hệ trực tiếp với nó.
- Định nghĩa về Môi trường của UNESCO: Môi trường là bao gồm toàn bộ
các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình. Trong
đó con người sinh sống bằng lao động của mình để khai thác các tài nguyên thiên
nhiên và nhân tạo nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người.
- Định nghĩa về Môi trường của Việt Nam (luật 2005):
+ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có
quan hệ mật thiết với nhau do đó nó có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại
phát triển của con người và tự nhiên.
+ Môi trường sống là tất cả các điều kiện tự nhiên bao quanh sinh vật có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật.
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác,
sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên bảo vệ đa dạng sinh học.
2. Một số nội dung về ô nhiễm môi trường làng nghề:
Khí thải: Là chất thải gây ô nhiễm môi trường ở thể khí được thải ra từ các
hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ sinh hoạt và các hoạt động khác của cộng
đồng dân cư.
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng
trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi,
có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi).
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn tự
nhiên và nguồn nhân tạo.
1.2. Nguồn tự nhiên:
• Núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói bụi giàu
sunfua, mêtan và những loại khí khác. Không khí chứa bụi lan toả đi rất xa vì
nó được phun lên rất cao.
• Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên xảy ra
do sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre, cỏ. Các đám cháy này
thường lan truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí.
• Bão bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và
gió thổi tung lên thành bụi. Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt
mang theo bụi muối lan truyền vào không khí.
• Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên cũng phát thải
nhiều chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành các
khí sunfua, các loại muối v.v Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không
khí.
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
11
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
2.2. Nguồn nhân tạo:
Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ yếu là do hoạt động
nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các
tác nhân vật lý.
- Rác thải: Là chất gây ô nhiễm ở thể rắn được thải ra từ các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt động khác của cộng đồng dân cư.
Ví dụ: túi nilon, xác động vật chết, hoa quả thối,…
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoạt động của
con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học,
các trung tâm dịch vụ, thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm
kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư
thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải , giấy, rơm, rạ,
xác động vật, vỏ rau quả v.v… Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các
loại chất thải rắn sau:
- Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau, quả… loại chất thải
này mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các chất có
mùi khó chịu, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Ngoài các loại thức ăn dư
thừa từ gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách
sạn, ký túc xá, chợ …
- Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và
phân của các động vật khác.
- Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu
vực sinh hoạt của dân cư.
- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt
cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than , củi và các chất thải dễ cháy khác
trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than.
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
13
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
- Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là các lá cây, que,
củi, nilon, vỏ bao gói…
II. CÁC CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN
- Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô
nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư.
- Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn
đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường
trong ngân sách nhà nước hằng năm.
- Ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi
trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và
sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển.
- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và
chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình
thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam
kết quốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực
hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
15
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
- Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng
lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại.
2. Các văn bản của thành phố:
Quyết định số 51 của thành phố Hà Nội về việc thu phí vệ sinh môi trường
thể hiện trong việc bảo vệ môi trường có Nhà nước cùng các tổ chức và cá nhân
chung sức đồng lòng góp công góp sức trong công tác bảo vệ môi trường chung.
3. Các văn bản của ủy ban nhân dân huyện:
Ủy ban nhân dân huyện đưa ra các văn bản hướng dẫn về công tác bảo vệ
môi trường và quyết định hỗ trợ kinh phí cho việc thu gom và vận chuyển rác thải
nhằm tạo điều kiện để mọi người có thể xử lí rác thải một cách có khoa học nhất.
Bên cạnh đó, UBND huyện cũng cử các cán bộ về thôn xóm tuyên truyền vận
động người dân cùng bảo vệ môi trường, đem lại nguồn không khí trong lành cho
- Khói lẫn sương làm giảm ánh sáng mặt trời mà thực vật nhận được để thực
hiện quá trình quang hợp.
- Các loài xâm lấn có thể cạnh tranh chiếm môi trường sống và làm nguy hại
cho các loài địa phương, từ đó làm giảm đa dạng sinh học.
- Khí CO
2
sinh ra từ các nhà máy và các phương tiện qua lại còn làm tăng
hiệu ứng nhà kính. Trái Đất ngày một nóng dần lên. Phá hủy dần các khu du lịch tự
nhiên mà nó sẵn có.
4. Tác động đến sản xuất kinh doanh:
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
17
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
Vấn đề tồn đọng rác làm ách tắc dòng chảy, gây nên cản trở giao thông, làm
mất mặt bằng sản xuất, gây ra các mầm bệnh làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe
lao động của người dân. Từ đó gián tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả lao động của họ,
và tác động đến hiệu quả kinh doanh của xí nghiệp nhà máy. Hơn nữa việc tồn
đọng rác sẽ dẫn tới vấn đề xử lý số rác thải tiếp theo của các doanh nghiệp gặp
nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến cả chất lượng sản phẩm…
IV. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG:
Sau đây là kinh nghiệm của một địa phương thuộc Hà Nội:
1.Kinh nghiệm từ huyện Chương Mỹ
(HNM) - Từ tháng 1 năm 2009 đến nay, tại nhiều khu dân cư ở các huyện
ngoại thành Hà Nội, tình trạng rác thải lấn làng, lấn ruộng, lấn ra cả đường quốc lộ,
tỉnh lộ trở nên phổ biến do công tác thu gom, xử lý rác thải bị đình trệ. Hiện mỗi
ngày, khu vực ngoại thành có hàng trăm nghìn tấn rác thải sinh hoạt không được
thu gom, gây ô nhiễm, mất vệ sinh. Bên cạnh đó, huyện Chương Mỹ đã bước đầu
có những giải pháp thu gom xử lý rác hiệu quả.
Rác nhiều, thu gom khó! Hiện nay, phần lớn
2. Cách làm từ Chương Mỹ
Theo điều tra mới đây của Trung tâm Tài nguyên nước và Môi trường (Viện
Khoa học thủy lợi): có 32,86% số xã có người dân đổ xả rác bừa bãi ven đường.
Tương tự, 30,43% lượng rác không đổ ven đường nhưng đổ lộ thiên ở bất cứ đâu
mà người dân thấy tiện. Chỉ có 35,71% gia đình tự xử lý rác thải.
Ngoài thu gom rác trên địa bàn 3 huyện Chương Mỹ, Quốc Oai, Thạch Thất,
từ đầu năm 2009, Công ty MTĐT Xuân Mai đã mở rộng địa bàn thu gom rác thải
sinh hoạt đến khu vực nông thôn ở các xã thuộc huyện Mỹ Đức. Công ty cũng đã
tư vấn cho các xã, thị trấn quy hoạch các điểm tập kết và thành lập tổ thu gom rác,
tổ chức thu phí vệ sinh của các hộ gia đình để trả công cho các tổ này. Để giải
quyết vấn đề rác đang tồn tại rải rác ở các huyện chưa được thu gom xử lý, Công
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
19
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
ty MTĐT Xuân Mai khẳng định: DN cùng các ngành chức năng đang gấp rút hoàn
thành việc xử lý sự cố bãi rác ở núi Thoong, tháng 3-2009 sẽ hoàn thành, lúc này,
rất cần sự đồng thuận, chia sẻ khó khăn của nhân dân.
Hiện nay, huyện Chương Mỹ không chấp nhận phương án quy hoạch mỗi xã
một bãi rác, mà 100% các xã, thị trấn nên ký hợp đồng với Công ty MTĐT Xuân
Mai để thu gom, xử lý tập trung. Bởi DN sẽ có điều kiện đầu tư công nghệ xử lý
rác thải tốt hơn. Hiện nay, trên địa bàn huyện Chương Mỹ đã có 13 xã, thị trấn ký
hợp đồng thu gom rác thải sinh hoạt với Công ty MTĐT Xuân Mai.
Kinh nghiệm thu phí VSMT thành công ở một số xã của huyện Chương Mỹ
cho thấy phải có sự quan tâm, vào cuộc của chính quyền cơ sở. Nhiều xã, thị trấn
đã lập được sổ nghĩa vụ công dân, trong đó coi việc hoàn thành phí VSMT là một
trong những tiêu chí để giao dịch công dân và bình xét gia đình văn hóa. Một số
địa phương lại giao cho các HTX NN thu phí VSMT cùng với các khoản phí khác
mỗi năm 2 lần theo mùa vụ… Cả 2 cách thu này đều được nhân dân hưởng ứng, từ
chỗ tỷ lệ thu phí VSMT chỉ đạt từ 30% đã lên tới 90%.
Thiết nghĩ đã đến lúc các địa phương khu vực nông thôn trên địa bàn thành
mương chung trong khu dân cư. Nguồn thải hữu cơ khối lượng lớn, ứ đọng trong
môi trường nước gây ô nhiễm nghiêm trọng. Đã từ lâu, các dòng mương tại 2 xã
này đã chuyển màu đen. Cứ hễ tới gần kênh là mùi khắm lặm của nước đã xộc
thẳng vào mũi.
Chợ cũng là nơi tập kết rất nhiều rác thải hỗn hợp. Tại hầu hết các chợ, nhất
là chợ cóc, đến cuối buổi sáng, khi chợ đã tan thì quang cảnh chợ đúng như một
bãi chiến trường rác, có gọn thì người bán hàng chất thành từng đống tại chỗ, còn
không họ bán hàng xong, rác thế nào thì vẫn nằm nguyên thế, họ cho rằng đã nộp
tiền chợ thì sẽ có người phải dọn.
Mà rác tại chợ thường đến chiều mới được dọn, thu gom lại để chuyển đến
nơi tập kết rác, do vậy trong khoảng thời gian từ cuối giờ sáng đến chiều thì người
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
21
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
dân sống quanh đây phải hứng chịu đủ thứ mùi bốc lên khó chịu, mùi hôi thối, bẩn
thỉu bốc lên từ cống rãnh, từ mặt đất nhờn nhợt nước và đủ thứ rác rưởi trộn lẫn
với các mùi thực phẩm sống, chín. Đây là nguyên nhân gây ra bệnh dịch và gây ô
nhiễm môi trường nghiệm trọng
Những chiếc xe đựng rác không đảm bảo an toàn vệ sinh là nơi phát tán
những nguồn lây bệnh nguy hiểm cho người đi đường. Những ổ vi trùng này nằm
ở khắp các khu chung cư, các đường phố đến các ngõ hẽm,…
Thường cứ vào khoảng 5 - 6h chiều, tại nhiều nơi ở các khu vực, đường phố,
ngõ hẽm lại nồng nặc mũi hôi thối. Nguyên nhân là do rác được tập kết để chờ xe
ép rác đến xử lý tại chỗ. Việc xử lý rác tại chỗ chỉ diễn ra khoảng 10-15 phút
nhưng nhiều chỗ đường hẹp nên mùi hôi thối từ công đoạn mở nắp thùng rác, đổ
vào xe ép đã tra tấn người đi đường.
4. bài học kinh nghiệm từ các địa phương rút ra cho xã Hữu Bằng.
Xã Hữu Bằng là một trong những làng nghề đã được UBND tỉnh Hà Tây
công nhận "Làng nghề MỘC – MAY – KIM CƠ KHÍ" từ năm 2001. Tuy nhiên,
Hữu Bằng cũng phải đối mặt với thách thức rác thải không hề nhỏ. Ngay từ những
thỉu bốc lên từ cống rãnh, từ mặt đất nhờn nhợt nước và đủ thứ rác rưởi trộn lẫn
với các mùi thực phẩm sống, chín. Đây là nguyên nhân gây ra bệnh dịch và gây ô
nhiễm môi trường nghiệm trọng
Những chiếc xe đựng rác không đảm bảo an toàn vệ sinh là nơi phát tán
những nguồn lây bệnh nguy hiểm cho người đi đường. Những ổ vi trùng này nằm
ở khắp các khu chung cư, các đường phố đến các ngõ hẽm,…
Thường cứ vào khoảng 5 - 6h chiều, tại nhiều nơi ở các khu vực, đường phố,
ngõ hẽm lại nồng nặc mũi hôi thối. Nguyên nhân là do rác được tập kết để chờ xe
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
23
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
ép rác đến xử lý tại chỗ. Việc xử lý rác tại chỗ chỉ diễn ra khoảng 10-15 phút
nhưng nhiều chỗ đường hẹp nên mùi hôi thối từ công đoạn mở nắp thùng rác, đổ
vào xe ép đã tra tấn người đi đường
Chính quyền địa phương từ những năm đầu thập kỷ 90 cũng đã quan tâm tổ
chức cho thu gom nhưng số lượng lúc đó lhông nhiều và chỉ một đến hai người
làm công tác thu gom,rác được thu gom được đổ ra cac khoảng đất thùng đào
thùng đấu và các rãnh hoang của xã,rác được thu gom cơ bản là rác ở các chợ thải
còn rác của hộ gia đình lúc đó rất ít
Vào cuối những năm 90 và đầu những năm 2000 nền kinh tế đất nước phát
triển dần theo nền kinh tế thị trường, hoà nhịp cùng phát triển kinh tế địa phương
cũng ngày càng phát triển.kinh tế kéo theo lượng rác thải cũng nhiều ra nơi đổ rác
càng ngày càng bị thu hẹp số người đi thu gom rác thải ngày càng không đáp ứng
được yêu cầu đặt ra
Năm 2001 – 2003 UBND xã Hữu Bằng đã thành lập tổ thu gom rác thải gồm 5
người tổ chức đi thu gom rác thải trong toàn xã với phương châm tự thu tự chi
phục vụ cho công tác thu gom rác thải nhưng vấn đề đặt ra là rác thu gom chuyển
đi đâu
Năm 2006 – 2009 khi UBND huyện Thạch Thất ký hợp đồng vận chuyển và sử
lý rác thải với công ty môi trường đô thị Xuân Mai,UBND xã Hữu Bằng là xã đầu
Phía Bắc giáp xã Dị Nậu
Tổng diện tích 178.4 ha đất: trong đó, 30ha được sử dụng làm đất ở, 32ha là đất
chuyên dùng, còn lại là đất nông nghiệp. Tổng dân số của xã là 15607 người, số
lao động chính lá 8976 người, ngoài ra còn có khoảng 4000 dân lao động của các
xã lân cận đến làm ăn sinh sống tại xã.
2. Đặc điểm về kinh tế:
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
25