thực trạng và các giải pháp giải quyết ô nhiễm môi trường làng nghề xã Hữu Bằng - Pdf 33

Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
LỜI MỞ ĐẦU
Xã Hữu Bằng nằm ở phía Đông Nam huyện Thạch Thất, ngoại thành Hà
Nội, cách thị trấn huyện 3km, phía Đông xã giáp xã Phùng Xá, phía Tây giáp xã
Thạch Xá - xã Bình Phú, phía Bắc giáp xã Dị Nậu, phía Nam giáp xã Bình Phú,
cách thủ đô Hà Nội gần 30km được nối liền bởi trục đường giao thông quan trọng
Láng - Hòa Lạc bám sát hai bên đường này là một chuỗi đô thị và các khu công
nghiệp, rất thuận tiện cho việc giao thông giữa huyện với thủ đô. Đó là điều kiện
thuận lợi để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế của huyện Thạch Thất và địa
phương trong huyện.
Với đặc điểm một làng nghề có lịch sử truyền thống lâu đời, đất chật người
đông. Tổng diện tích đất tự nhiên là 178,4 ha; trong đó đất ở 30 ha. Tổng dân số xã
hữu bằng là 15.607 nhân khẩu, số lao động ở xã là 8.076 số lao động ở nơi khác
đến làm việc trên địa bàn xã khoảng 4.000 lao động, xã có 57 doanh nghiệp và
HTX, 3.276 hộ sản xuất TTCN và dịch vụ thương mại kinh tế phát triển theo
hướng (CN-TTCN-DVTM). Kinh tế làng nghề phát triển phong phú, đa dạng.
Kinh tế địa phương rất phát triển nhưng cũng tạo ra rất nhiều bất cập đi kèm theo
như các tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, cân bằng sinh thái bị phá vỡ…
Là một sinh viên, sau khi học tập, nhận được sự hướng dẫn tận tình của nhà
trường, tôi xin được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cơ sở, mà cụ
thể là ( Xây dựng đề tài: thực trạng và các giải pháp giải quyết ô nhiễm môi
trường làng nghề xã Hữu Bằng ) tại địa phương
Đây là đề tài tôi đã lựa chọn làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp cho
mình.qua quá trình thực tập nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy chuyên đề tốt nghiệp
có những yêu cầu sau:
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
1
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
1. sự cần thiết nghiên cứu đề tài.

mới mẻ,lên mọi công việc triển khai của chính quyền các cấp cũng như đối cới
người dân, còn rất bỡ ngỡ và lúng túng vì chưa có kinh nghiệm trong thực tiễn nói
chung và nhất là đối với các làng nghề truyền thống hiện nay đang gặp phải rất
nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống
vì lý do nêu trên lên tôi chọn nghiên cứu đề tài ( Thực trạng và các giải pháp
gải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề xã Hữu Bằng )
đề tài mà tôi lựa chọn nghiên cứu làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp là rất
phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương hiện nay vì xã Hữu Bằng là một xã
làng nghề truyền thống, công tác bảo vệ môi trường tuy đã được triển khai nhưng
cũng còn nhiều bất cập và lúng túng chưa đáp ứng được như mong muốn
2 . mục tiêu nghiên cứu của đề tài
đề tài mà bản thân tôi đã lựa chọn làm chuyên đề thực tập tốt nghiếp sẽ làm
rõ những vấn đề sau:
trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thực trạng và các giải pháp giải
quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề xã Hữu Bằng hiện nay
khái quát hoá được một số kinh nghiệm của một số làng nghề truyền thống ở
các địa phương khác
phân tích và đánh giá thực trạng về ô nhiễm môi trường ở xã Hữu Bằng và
các giải pháp giải quyết ô nhiễm môi trường trong thời gian qua
xây dựng và đề xuất các quan điểm và định hướng đưa ra các giải pháp chủ
yếu để nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề xã Hữu Bằng
3 . đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
3
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
đối tượng nghiên cứu là môi trường làng nghề truyền thống và bảo vệ môi
trường làng nghề truyền thống
phạm vi nghiên cứu:
- vê không gian:trong địa giới hành chính xã Hữu Bằng

thân hiểu rộng hơn và vận dụng được nhiều hơn những kiến thức đã học vào thực
tiễn phát triển ở địa phương trong quá trình công tác. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khoa: Kế hoạch và Phát triển
5
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
I. KHÁI NIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1. Khái niệm:
Chúng ta biết rằng: Môi trường của một sự vật hoặc của một sự kiện là tổng
thể các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sự vật và sự kiện đó. Khi nói đến môi
trường thì phải nói đến môi trường của sự vật và sự kiện gì vì những đối tượng này
chỉ tồn tại ở môi trường xác định vì các yếu tố bên ngoài.
Chúng ta có những khái niệm về môi trường như sau:
- Định nghĩa về Môi trường của Kalesnick: Môi trường là một bộ phận của
Trái đất bao quanh con người mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có
quan hệ trực tiếp với nó.
- Định nghĩa về Môi trường của UNESCO: Môi trường là bao gồm toàn bộ
các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình. Trong
đó con người sinh sống bằng lao động của mình để khai thác các tài nguyên thiên
nhiên và nhân tạo nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người.
- Định nghĩa về Môi trường của Việt Nam (luật 2005):
+ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có
quan hệ mật thiết với nhau do đó nó có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại
phát triển của con người và tự nhiên.
+ Môi trường sống là tất cả các điều kiện tự nhiên bao quanh sinh vật có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật.

7
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác,
sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên bảo vệ đa dạng sinh học.
2. Một số nội dung về ô nhiễm môi trường làng nghề:
Khí thải: Là chất thải gây ô nhiễm môi trường ở thể khí được thải ra từ các
hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ sinh hoạt và các hoạt động khác của cộng
đồng dân cư.
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng
trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi,
có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi).
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn tự
nhiên và nguồn nhân tạo.
1.2. Nguồn tự nhiên:
• Núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói bụi giàu
sunfua, mêtan và những loại khí khác. Không khí chứa bụi lan toả đi rất xa vì
nó được phun lên rất cao.
• Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên xảy ra
do sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre, cỏ. Các đám cháy này
thường lan truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí.
• Bão bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và
gió thổi tung lên thành bụi. Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt
mang theo bụi muối lan truyền vào không khí.
• Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên cũng phát thải
nhiều chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành các
khí sunfua, các loại muối v.v... Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không
khí.
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
8

Khoa: Kế hoạch và Phát triển
9
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm
nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các
tác nhân vật lý.
- Rác thải: Là chất gây ô nhiễm ở thể rắn được thải ra từ các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt động khác của cộng đồng dân cư.
Ví dụ: túi nilon, xác động vật chết, hoa quả thối,…
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoạt động của
con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học,
các trung tâm dịch vụ, thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm
kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư
thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải , giấy, rơm, rạ,
xác động vật, vỏ rau quả v.v… Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các
loại chất thải rắn sau:
- Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau, quả… loại chất thải
này mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các chất có
mùi khó chịu, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Ngoài các loại thức ăn dư
thừa từ gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách
sạn, ký túc xá, chợ …
- Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và
phân của các động vật khác.
- Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu
vực sinh hoạt của dân cư.
- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt
cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than , củi và các chất thải dễ cháy khác
trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than.
Khoa: Kế hoạch và Phát triển

- Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư,
hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường.
- Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp
hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương
trong hoạt động bảo vệ môi trường.
- Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng
sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải.
- Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô
nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư.
- Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn
đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường
trong ngân sách nhà nước hằng năm.
- Ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi
trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và
sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển.
- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và
chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình
thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam
kết quốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực
hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
12
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
- Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng
lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại.
2. Các văn bản của thành phố:
Quyết định số 51 của thành phố Hà Nội về việc thu phí vệ sinh môi trường

yếu do ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lý. Các chất hóa học và kim loại nặng
nhiễm trong thức ăn nước uống có thể gây ung thư. Dầu tràn có thể gây ngứa rộp
da. Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc, cao huyết áp, trầm cảm, và bệnh mất ngủ., gây
nhiều hậu quả nghiêm trọng…
3. Tác động đến hệ sinh thái:
- Điôxít lưu huỳnh và các ôxít Nitơ có thể gây mưa axít làm giảm độ pH của
đất
- Đất bị ô nhiễm có thể trở nên cằn cỗi, không thích hợp cho cây trồng. Điều
này sẽ ảnh hưởng đến các cơ thể sống khác trong lưới thức ăn.
- Khói lẫn sương làm giảm ánh sáng mặt trời mà thực vật nhận được để thực
hiện quá trình quang hợp.
- Các loài xâm lấn có thể cạnh tranh chiếm môi trường sống và làm nguy hại
cho các loài địa phương, từ đó làm giảm đa dạng sinh học.
- Khí CO
2
sinh ra từ các nhà máy và các phương tiện qua lại còn làm tăng
hiệu ứng nhà kính. Trái Đất ngày một nóng dần lên. Phá hủy dần các khu du lịch tự
nhiên mà nó sẵn có.
4. Tác động đến sản xuất kinh doanh:
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
14
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
Vấn đề tồn đọng rác làm ách tắc dòng chảy, gây nên cản trở giao thông, làm
mất mặt bằng sản xuất, gây ra các mầm bệnh làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe
lao động của người dân. Từ đó gián tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả lao động của họ,
và tác động đến hiệu quả kinh doanh của xí nghiệp nhà máy. Hơn nữa việc tồn
đọng rác sẽ dẫn tới vấn đề xử lý số rác thải tiếp theo của các doanh nghiệp gặp
nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến cả chất lượng sản phẩm…
IV. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG BẢO VỆ MÔI

MTĐT Xuân Mai ví dụ: với mức thu phí vệ sinh môi trường (VSMT) ở khu vực
ngoại thành, mỗi nhân khẩu chỉ có 200 đồng/người/ngày, vậy mà có những nơi
mức thu chỉ đạt có 30%. Lãnh đạo một đơn vị thu gom rác khu vực ngoại thành
cho hay: Có huyện với trên 400 DN sản xuất, kinh doanh nhưng cũng chỉ có 15
DN nộp phí VSMT. Bên cạnh đó, nhiều làng, xã kinh tế phát triển, hàng trăm hộ
gia đình mua sắm được ô tô, nhiều hộ thu nhập hàng chục, hàng trăm triệu
đồng/tháng… nhưng vẫn còn 40% số hộ chưa có hố xí hợp vệ sinh, nhiều hộ
không nộp lệ phí VSMT.
2. Cách làm từ Chương Mỹ
Theo điều tra mới đây của Trung tâm Tài nguyên nước và Môi trường (Viện
Khoa học thủy lợi): có 32,86% số xã có người dân đổ xả rác bừa bãi ven đường.
Tương tự, 30,43% lượng rác không đổ ven đường nhưng đổ lộ thiên ở bất cứ đâu
mà người dân thấy tiện. Chỉ có 35,71% gia đình tự xử lý rác thải.
Ngoài thu gom rác trên địa bàn 3 huyện Chương Mỹ, Quốc Oai, Thạch Thất,
từ đầu năm 2009, Công ty MTĐT Xuân Mai đã mở rộng địa bàn thu gom rác thải
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
16
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
sinh hoạt đến khu vực nông thôn ở các xã thuộc huyện Mỹ Đức. Công ty cũng đã
tư vấn cho các xã, thị trấn quy hoạch các điểm tập kết và thành lập tổ thu gom rác,
tổ chức thu phí vệ sinh của các hộ gia đình để trả công cho các tổ này. Để giải
quyết vấn đề rác đang tồn tại rải rác ở các huyện chưa được thu gom xử lý, Công
ty MTĐT Xuân Mai khẳng định: DN cùng các ngành chức năng đang gấp rút hoàn
thành việc xử lý sự cố bãi rác ở núi Thoong, tháng 3-2009 sẽ hoàn thành, lúc này,
rất cần sự đồng thuận, chia sẻ khó khăn của nhân dân.
Hiện nay, huyện Chương Mỹ không chấp nhận phương án quy hoạch mỗi xã
một bãi rác, mà 100% các xã, thị trấn nên ký hợp đồng với Công ty MTĐT Xuân
Mai để thu gom, xử lý tập trung. Bởi DN sẽ có điều kiện đầu tư công nghệ xử lý
rác thải tốt hơn. Hiện nay, trên địa bàn huyện Chương Mỹ đã có 13 xã, thị trấn ký

Những năm gần đây, số hộ làm nghề giảm, nhưng quy mô lại mở rộng, trong
khi công nghệ còn bán thủ công nên lượng rác thải lớn, không thân thiện với môi
trường. Trung bình mỗi ngày trong xã Minh Khai có khoảng 2,5 tấn rác thải công
nghiệp và sinh hoạt. Chưa nói, từ việc chế biến nông sản, mỗi ngày mỗi hộ còn
thải ra 20m
3
cặn bã/ngày.
Tại xã Dương Liễu (Hoài Đức), các hộ dân chế biến sắn đót là chủ yếu, thời
điểm mùa vụ (khoảng tháng 8 âm lịch) có thể thải ra tới 400 tấn rác, bã thải/ngày.
Điều đáng nói, là nguồn bã thải từ làng nghề được tống thẳng ra nguồn kênh,
mương chung trong khu dân cư. Nguồn thải hữu cơ khối lượng lớn, ứ đọng trong
môi trường nước gây ô nhiễm nghiêm trọng. Đã từ lâu, các dòng mương tại 2 xã
này đã chuyển màu đen. Cứ hễ tới gần kênh là mùi khắm lặm của nước đã xộc
thẳng vào mũi.
Chợ cũng là nơi tập kết rất nhiều rác thải hỗn hợp. Tại hầu hết các chợ, nhất
là chợ cóc, đến cuối buổi sáng, khi chợ đã tan thì quang cảnh chợ đúng như một
bãi chiến trường rác, có gọn thì người bán hàng chất thành từng đống tại chỗ, còn
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
18
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
không họ bán hàng xong, rác thế nào thì vẫn nằm nguyên thế, họ cho rằng đã nộp
tiền chợ thì sẽ có người phải dọn.
Mà rác tại chợ thường đến chiều mới được dọn, thu gom lại để chuyển đến
nơi tập kết rác, do vậy trong khoảng thời gian từ cuối giờ sáng đến chiều thì người
dân sống quanh đây phải hứng chịu đủ thứ mùi bốc lên khó chịu, mùi hôi thối, bẩn
thỉu bốc lên từ cống rãnh, từ mặt đất nhờn nhợt nước và đủ thứ rác rưởi trộn lẫn
với các mùi thực phẩm sống, chín. Đây là nguyên nhân gây ra bệnh dịch và gây ô
nhiễm môi trường nghiệm trọng
Những chiếc xe đựng rác không đảm bảo an toàn vệ sinh là nơi phát tán

mương chung trong khu dân cư. Nguồn thải hữu cơ khối lượng lớn, ứ đọng trong
môi trường nước gây ô nhiễm nghiêm trọng. Đã từ lâu, các dòng mương tại xã này
đã chuyển màu đen. Cứ hễ tới gần kênh là mùi hôi thối của nước đã xộc thẳng vào
mũi.
Chợ cũng là nơi tập kết rất nhiều rác thải hỗn hợp. Tại hầu hết các chợ, nhất
là chợ cóc, đến cuối buổi sáng, khi chợ đã tan thì quang cảnh chợ đúng như một
bãi chiến trường rác, có gọn thì người bán hàng chất thành từng đống tại chỗ, còn
không họ bán hàng xong, rác thế nào thì vẫn nằm nguyên thế, họ cho rằng đã nộp
tiền chợ thì sẽ có người phải dọn.
Mà rác tại chợ thường đến chiều mới được dọn, thu gom lại để chuyển đến
nơi tập kết rác, do vậy trong khoảng thời gian từ cuối giờ sáng đến chiều thì người
dân sống quanh đây phải hứng chịu đủ thứ mùi bốc lên khó chịu, mùi hôi thối, bẩn
thỉu bốc lên từ cống rãnh, từ mặt đất nhờn nhợt nước và đủ thứ rác rưởi trộn lẫn
với các mùi thực phẩm sống, chín. Đây là nguyên nhân gây ra bệnh dịch và gây ô
nhiễm môi trường nghiệm trọng
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
20
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
Những chiếc xe đựng rác không đảm bảo an toàn vệ sinh là nơi phát tán
những nguồn lây bệnh nguy hiểm cho người đi đường. Những ổ vi trùng này nằm
ở khắp các khu chung cư, các đường phố đến các ngõ hẽm,…
Thường cứ vào khoảng 5 - 6h chiều, tại nhiều nơi ở các khu vực, đường phố,
ngõ hẽm lại nồng nặc mũi hôi thối. Nguyên nhân là do rác được tập kết để chờ xe
ép rác đến xử lý tại chỗ. Việc xử lý rác tại chỗ chỉ diễn ra khoảng 10-15 phút
nhưng nhiều chỗ đường hẹp nên mùi hôi thối từ công đoạn mở nắp thùng rác, đổ
vào xe ép đã tra tấn người đi đường
Chính quyền địa phương từ những năm đầu thập kỷ 90 cũng đã quan tâm tổ
chức cho thu gom nhưng số lượng lúc đó lhông nhiều và chỉ một đến hai người
làm công tác thu gom,rác được thu gom được đổ ra cac khoảng đất thùng đào

môi trường
Chương II:
THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở LÀNG
NGHỀ HỮU BẰNG
Nói đến Hữu Bằng là nói đến một xã giàu nhất của huyện Thạch Thất - Hà
Nội nhưng cũng là một điểm bức xúc nhất về ô nhiễm môi trường. Chúng ta hãy
cùng tìm hiểu về làng nghề này:
I.KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI XÃ HỮU BẰNG:
1. Điều kiện tự nhiên:
Xã Hữu Bằng nằm ở phía Đông Nam huyện Thạch Thất, cách thị trấn 3km,
ở ngoại thành Hà Nội.
Phía Đông giáp xã Phùng Xá
Phía Nam giáp xã Bình Phú
Phía Tây giáp xã Bình Phú và xã Thạch Xá
Phía Bắc giáp xã Dị Nậu
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
22
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
Tổng diện tích 178.4 ha đất: trong đó, 30ha được sử dụng làm đất ở, 32ha là đất
chuyên dùng, còn lại là đất nông nghiệp. Tổng dân số của xã là 15607 người, số
lao động chính lá 8976 người, ngoài ra còn có khoảng 4000 dân lao động của các
xã lân cận đến làm ăn sinh sống tại xã.
2. Đặc điểm về kinh tế:
Hữu Bằng là một xã dân cư đông đúc, có nghề truyền thống. Sự phát
triển kinh tế của địa phương cơ bản là phát triển theo hướng sản xuất tiểu thủ
công nghiệp dịch vụ và thương mại. Về nông nghiệp, tỷ trọng chiếm một
phần rất ít trong nền kinh tế địa phương. Trong điều kiện cơ chế chính sách
mở cửa hiện nay của Đảng và Nhà nước, nhất là khi nước ta vừa gia nhập
WTO, thì tốc độ phát triển kinh tế của làng nghề ngày càng tăng lên.

hết thời gian nhàn rỗi, tạo được nguồn thu nhập đồng đều, trung bình 1.100.000
đồng/1 người/1tháng.
Sản phẩm chế biến lâm sản, sản xuất đồ gỗ, trang trí nội thất ở Chàng Sơn,
Thạch Xá, Bình Phú, Canh Nậu, Hữu Bằng, Dị Nậu, Hương Ngải. Nguyên liệu gỗ
được nhập về Hữu Bằng, Chàng Sơn, Thạch Xá từ đó được chế biến thành sản
phẩm thô và được sản xuất thành sản phẩm đồ gỗ, đồ trang trí nội thất ở các làng
nghề, sản phẩm sản xuất ra đa dạng phong phú được tiêu thụ ở thị trường nội địa
rộng lớn. Nghề mộc dân dụng ở Thạch Thất thu hút nhiều lao động nhất trong các
nghề truyền thống. Hiện có tổng số 72 doanh nghiệp sản xuất mộc dân dụng trên
địa bàn các xã Canh Nậu, Dị Nậu, Chàng Sơn trong đó Canh Nậu có 18 doanh
nghiệp, thu hút 2700 lao động trên tổng số 5931 lao động, chiếm 46,7%; Dị Nậu có
11 doanh nghiệp với 1100 lao động trong nghề mộc dân dụng chiếm 37% tổng số
lao động; Chàng Sơn có 43 doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, trang trí nội thất thu hút
1700 lao động trên tổng số 3922 lao động, chiếm 43,3%. Thu nhập bình quân của
lao động làm nghề mộc dân dụng khoảng từ 1.200.000 đồng đến 1.400.000 đồng/1
người/ 1tháng.
Sản phẩm chè lam - đặc sản Thạch Thất - là sản phẩm của làng nghề Thạch
Xá. Chè lam được sản xuất với những bí quyết riêng tạo nên hương vị đặc trưng,
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
24
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP SV: Nguyễn Đình Nhu
được tiêu thụ trên thị trường rộng lớn ở miền Bắc. Trên địa bàn xã có 12 doanh
nghiệp sản xuất chè lam với 570 lao động trên tổng số 1035 lao động.Thu nhập
bình quân của lao động làng nghề chè lam Thạch Xá khoảng 1.100.000 đồng/1
người/ 1 tháng.
Sản phẩm mây tre giang đan song mây ở Hạ Bằng, Cần Kiệm, Chàng Sơn
và một số sản phẩm phụ ở các xã Lại Thượng, Bình Yên, Thạch Hoà cũng đã có
bước phát triển.
Nhắc đến các làng nghề trên thì không thể không nhắc đến Hữu Bằng. Hữu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status