phương hướng và giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề. - Pdf 31

SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
Lời mở đầu
Khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự định hướng của nhà nước
thì các làng nghề thủ công truyền thống ở nhiều địa phương cũng được phục hồi
và phát triển sản nhanh chóng. Sản phẩm của các làng nghề không chỉ đáp ứng
nhu cầu trong nước mà còn vươn ra thị trường nước ngoài thu được nguồn ngoại
tệ lớn và cải thiện đời sống nhân dân. Phát triển các làng nghề là một hướng đi
rất đúng vì tạo thêm việc làm cho người dân tại các làng nghề lại giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc. Bên cạnh những dấu hiệu đáng mừng ấy, một nỗi lo lắng và
day dứt là nguy cơ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề truyền thống. Nguy cơ
này phát sinh chính từ hoạt động đặc thù của các làng nghề như: quy mô nhỏ,
manh mún, công nghệ thủ công lạc hậu, không đồng bộ phát triển tự phát chủ
yếu chịu sự chi phối của thị trường. Và một thực tế nữa là do sự thiếu hiểu biết
của chính những người dân ở các làng nghề về sự tác động của hoạt động sản
xuất đến sức khoẻ của bản thân và những người xung quanh.
Vấn đề ô nhiễm ở các làng nghề đáng báo động như hiện nay thì các doanh
nghiệp và hộ gia đình đã làm gì? Các cơ quan nhà nước và các địa phương có
những giải pháp nào để khắc phục triệt để tình trạng trên. Đề án này sẽ đi xem
xét thực trạng và giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường tại
các làng nghề. Nội dung của đề án gồm ba phần:
Phần 1: phát triển nghề truyền thống và tác động đến môi trường sinh thái.
Phần 2: thực trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề.
Phần 3: phương hướng và giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm
môi trường làng nghề.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để trình bầy, nhưng không tránh khỏi các
thiếu sót, rất mong được sự góp ý của thầy và các bạn đọc.
1
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
Phần 1: Phát triển nghề truyền thống và tác động đến môi
trường sinh thái
1. Phát triển nghề truyền thống tại Việt Nam

Phân bố làng nghề ở vùng nông thôn Việt Nam
Làng nghề là giải pháp phát triển kinh tế nông thôn rất có hiệu quả. Lao
động nghề đã giải quyết được vấn đề lao động dư thừa và lao động trong thời
gian nông nhàn. Có 27% số hộ nông dân sản xuất nông nghiệp kiêm các ngành
2
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
nghề và 13% số hộ chuyên về nghành nghề. Lao động tại các làng nghề đã thu
hùt được 10 triệu lao động thường xuyên. Đó cũng là nguồn thu nhập đáng kể tại
các hộ gia đình, tại nhiều làng hoạt động nghế không còn là hoạt động phụ nữa
mà đã là thu nhập chính của các hộ gia đình. Ví dụ như làng Đồng Kỵ ở Từ Sơn,
Bắc Ninh chuyên sản xuất đồ gỗ có thu nhập rất cao, hầu như các hộ gia đình ở
đây đã không sản xuất nông nghiệp nữa.
2. Phát triển nghề truyền thống tác động đến môi trường sinh thái
Bên cạnh những dấu hiệu đáng mừng ấy là nỗi lo lắng và day dứt không
kém là nguy cơ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề. Nguy cơ này phát sinh
chính từ đặc thù của các làng nghề như quy mô nhỏ manh mún, công nghệ thủ
công lạc hậu không đồng bộ và cũng do sự thiếu hiểu biết của người dân trong
việc bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe của chính mình và mọi người xung
quanh. Hơn nữa các làng nghề có mật độ dân cư đông đúc, vì vậy thiếu mặt
bằng sản xuất, các xưởng sản xuất xen kẽ với khu dân cư. Theo lẽ thường tình
các làng nghề phàt triển thì thu hút càng nhiều lao động. Trước hết là con em các
làng nghề không phải ly hương tìm đường cứu sống, thứ nữa là làng nghề phát
triển sẽ thu hút thêm lao động các vùng lân cận làm cho dân cư ở đây càng thêm
đông đúc. Tình trạng phổ biến tại các làng nghề là nơi sản xuất trùng với nơi ở
nên quy mô sản xuất càng mở rộng thì diện tích đất ở càng hẹp và sử dụng thiết
bị, hoá chất càng nhiều làm cho môi trường sống càng thêm ô nhiễm nặng nề.
Mỗi một làng nghề đều có đặc thù riêng nên mức độ ô nhiễm môi trường hay
loại ô nhiễm riêng như ô nhiễm về nguồn nước; ô nhiễm không khí; ô nhiễm
tiếng ồn… Nhưng bất kỳ loại ô nhiễm nào cũng ảnh hưởng đến sức khỏe, môi
trường sống của người dân.

Tiêu chuẩn
cho phép
Tinh bột
Bình Minh
Bún Phú
Đô
Nước mắm
Hải Thanh
Rượu
Tân Đô
Đậu phụ
Quang Bình
pH 5.5-9 4.6 6.1 9,59 12 5.1
SS(mg/l) 100 926 414 10 266 1.764
COD(ml/g) 100 1.858 2.967 597 3.868 1.271
BOD5(ml/g) 50 743 1.850 250 1.700 1.080
SN(ml/g) 60 145,6 20,9 9,26 1.002 67
SP(ml/g) 6 27,5 2,79 0,034 44,2 23
Chỉ tiêu tại một số làng nghề chế biến nông sản
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy đa phần các nước thải đều bị ô nhiễm
nặng thậm trí dân cư ở những vùng này phải mua nước ngột từ nơi khác để sử
dụng. Mặt khác các làng nghề này đều tận thu phế liệu để chăn nuôi. Nước thải
từ nguồn này cũng gây ô nhiễm môi trường không khí và nước đáng kể. Theo
kết quả điều tra y tế ta mới thấy rõ hết được ảnh hưởng của môi trường đến sức
khoẻ của người dân như: phụ khoa ở phụ nữ là 13-38%; viêm da là 4,5-23%;
đường hô hấp là 6-18%; đau mắt là 9-15%. Nguyên nhân chính là môi trường
sinh hoạt không bảo đảm vệ sinh, nguồn nước sạch khan hiếm.
Xét một ví dụ cụ thể tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề tại Dương
Liễu, Hoài Đức, Hà Tây chuyên chế biến các sản phẩm nông sản đã có uy tín
trên thị trường như miền dong, đỗ xanh bóc tách, bún khô, phở khô… Khi về

xay… Việc khai thác 1m
3
đá nguyên khai qua chế biến sẽ sinh ra 0,1-0,5kg bụi
giầu silic,vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3-5 lần và tiếng ồn thưong xuyên ở mức
cao. Lượng khí thải từ các lò gạch thủ công còn ảnh hưởng đến hoa mầu và mùa
màng của nông dân tại các làng nghề và các vùng lân cận xung quanh nữa.
Ngoài ra việc khai thác không đúng quy hoạch gây thoái hoá đất, phá huỷ thảm
thực vật, tăng nguy cơ xói mòn và giảm độ phì nhiêu của đất, hậu quả cũng gây
ảnh hưởng đến chất lượng mùa màng. Người dân làng nghề sản xuất vật liệu xây
dựng trực tiếp sống trong môi trường có nồng độ bụi, khí độc cao công việc
6
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
nặng nhọc nên tỷ lệ mắc các đường hô hấp, da và các bệnh về mắt và các rối
loạn thần kinh cao. Làng nghề Đông Tâm, Thanh Hoá và làng nghề Kiện Khê,
Hà Nam có tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp do sản xuất trên 50%. Ngoài ra, các vấn
đề về an toàn lao động cũng chưa được quan tâm thoả đáng ở các làng nghề này
dẫn tới nhiều tai nạn lao động như bỏng hơi, bỏng nhiệt, bị mảnh vỡ đá. nổ
mìn…
3. Làng nghề tái chất thải: giấy, nhựa, kim loại…
Đây là nhóm làng nghề tận phế liệu làm nguyên liệu cho sản xuất, nhờ đó
giảm chi phí đầu tư và giảm lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường nên các
làng nghề rất được khuyến khích phát triển. Mặt khác, trong khi chưa có các cơ
sở lớn tái chế chất thải, thì các làng nghề tái chất thải đã trở thành một mạng
lưới thu gom phế liệu và chất thải. Các nghành tái chế được chia làm ba loại
chính đó là: giấy, kim loại và nhựa. Chủ yếu tập chung ở miền Bắc và nghành
tái chế kim loại là chủ yếu (có 81 làng tái chế kim loại trong tổng số 90 làng
nghề tái chế). Số lượng làng tái chế không lớn nhưng tỷ lệ cơ giới hoá cao hơn
các làng nghề khác rất nhiều, chiếm từ 50-70%. Khi nói về các làng tái chế phế
liệu thì không thể không nhắc tới làng tái chế giấy ở Dương Ổ, Bắc Ninh sản
xuất hàng năm là 12.000 tấn với rất nhiều chủng loại, thu hút hơn 5.000 lao

khô cằn, năng suất cây trồng giảm mạnh.
Sức khoẻ: 100% người lao động nhiễm bụi chì, hàm lượng chì trong nước
tiểu là 0,25-0,56mg/l (đối với người bình thường khoảng 0,06mg/l), hàm lượng
chì trong máu người lao động là 135mg/l, 48 trẻ em bị dị tật, 97 trẻ em bị viêm
phổi, thiếu máu, xanh xao, tỷ lệ người mắc bệnh thần kinh, bại liệt não, lao phổi
cao hơn các nơi khác từ 2-3 lần.
8
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
Bài báo trên đã là một minh chứng khá cụ thể và dễ hiểu về tình trạng ô
nhiễm tại các làng nghề tái chế phế liệu chì.
Nếu ai có cơ hội đến thăm các xưởng sản xuất, tái chế giấy phế liệu ở
Phong Khê, Bắc Ninh cách Hà Nội khoảng 50km đi về phía Bắc thì mỗi khi
dùng giấy ăn ở các quán bình dân rất phổ biến thì chắc hẳn mọi người phải “cân
nhắc” sử dụng. Nước thải không được xử lý qua bất kỳ công đoạn nào và được
thải trực tiếp ra ngoài do vậy hoá chất dư, bột giấy và lượng chất hữu cơ còn lại
rất nhiều. Hơn nữa, không khí ở đây chứa rất nhiều bụi giấy, hơi kiềm, Clo do
dùng nước ra Javen để tẩy trắng và hơi H
2
S rất có hại cho sức khoẻ. Tại một số
vị trí sản xuất, hàm lượng Clo vượt tiêu chuẩn cho phép tới 3 lần, hơi H
2
S tại các
bãi rác, cống rãnh vượt tiêu chuẩn cho phép 1-3 lần.
Đối với các làng nghề tái chế nhựa, do đặc thù nguyên liệu thu gom từ
nhiều nguồn và đều là nhựa phế thải có dính nhiều tạp chất, nên trong quá trình
công nghệ sử dụng rất nhiều nứơc để rửa phế liệu. Tính riêng làng nghề tái chế
Minh Khai hàng năm thải ra khoảng 455.000m
3
nước thải. Thành phần của này
rất phức tạp, vì chứa rất nhiều chất thải vô cơ và hữu cơ dính trên nhựa trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status