PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cây cao su có mặt trên đất Thừa Thiên Huế từ năm 1993, theo các dự án trong
Chương trình 327, phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Lúc đầu, các hộ nông dân trực
tiếp thực hiện dự án ở các huyện Phong Điền, Hương Trà, Nam Đông, A Lưới cũng
không mấy tin tưởng vào hiệu quả kinh tế của cây cao su.
Thế nhưng, điều bất ngờ thú vị đã xảy ra, cây cao su bén duyên rất nhanh trên
đất Thừa Thiên Huế. Nhiều vùng đất xưa kia nghèo khó, chỉ sau hơn 10 năm trồng
cao su đã trở nên giàu có hơn, như vùng kinh tế mới Phú Mậu (Nam Đông), các xã
vùng gò đồi Phong Mỹ, Phong Xuân, Phong Sơn (Phong Điền); Hương Vân, Hương
Bình, Bình Điền (Hương Trà)... Gần 6.000 hộ gia đình nghèo ở vùng sâu vùng xa đã
thoát nghèo, nhiều người vươn lên thành triệu phú, tỷ phú từ cây cao su. Vụ khai thác
mủ cao su năm 2006, 2007 và 2008, nhiều hộ trồng cao su ở Hương Trà, Phong Điền,
Nam Đông, A Lưới... đã có thu nhập trên 1 triệu đồng/ngày, bình quân toàn tỉnh thu
50 triệu đồng/ha/năm. Chính từ hiệu quả kinh tế thiết thực nên diện tích trồng cao su
ở Thừa Thiên Huế được nhân rộng rất nhanh. Nếu giai đoạn 1993 - 1997, toàn tỉnh
trồng được 1.600ha, thì đến giữa năm 2007, diện tích này đã lên đến 8.500ha, tập
trung nhiều nhất là huyện Nam Đông với gần 3.000ha, Phong Điền 2.500ha, Hương
Trà 2.500ha... Diện tích cao su được khai thác trong năm 2007 là gần 3.500ha, sản
lượng mủ khô trên 3.000 tấn và kim ngạch xuất khẩu cao su đạt hơn 7 triệu
USD/năm. Có thể nói, cây cao su đang trở thành cây trồng chủ lực trong xóa đói
giảm nghèo ở Thừa Thiên Huế, bởi chưa một loại cây trồng nào ở Thừa Thiên Huế có
tốc độ nhân rộng diện tích nhanh và đem lại hiệu quả kinh tế cao như cây cao su.
Loại cây này đã thế chỗ cho rất nhiều cây trồng truyền thống hiện nay như sắn, mía,
chè, tiêu... ở huyện Nam Đông và Phong Điền. Nhờ có cây cao su mà một xã như
Phong Mỹ nghèo nhất tỉnh Thừa Thiên Huế trước đây, sau hơn 10 năm gắn bó với
cây cao su nay đã vươn lên thành địa phương có thu nhập tính theo đầu người cao
nhất huyện Phong Điền.
1
Sau gần 15 năm có mặt trên đất Thừa Thiên Huế, cây cao su đã khẳng định
được vị thế trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng chủ lực của địa phương,
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn 90 hộ sản xuất cao su của 3
xã thuộc 3 huyện trên địa bàn tỉnh.
Phương pháp tổng hợp số liệu thống kê: Để tổng hợp các số liệu thống kê
sử dụng các phương pháp sau:
+ Tổng hợp, phân tích, so sánh các chỉ tiêu cơ bản của sản xuất nông nghiệp
+ Phân tổ thống kê
+ Sơ đồ, bảng biểu...
Phương pháp phân tích ANOVA được dùng để kiểm định sự khác nhau về
trị trung bình các ý kiến đánh giá của nông hộ điều tra về có hay không có sự khác
nhau về mức độ quan trọng của cơ sở hạ tầng, chính sách của Nhà nước đối với nông
hộ và năng lực của hộ sản xuất đến sản xuất cao su giữa các địa phương với nhau và
giữa từng địa phương với mức trung bình của các đơn vị điều tra.
Phương pháp phân tích chuỗi chung nhằm phân tích các khâu trung gian,
các đầu mối thu mua và quá trình tạo lại giá trị qua các khâu.
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu
Tình hình sản xuất cao su trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian
Đề tài nghiên cứu tại 3 xã của 3 huyện: Xã Phong Mỹ huyện Phong Điền; xã
Hương Bình huyện Hương Trà; xã Hương Hòa huyện Nam Đông. Đây là 3 xã có sản
xuất cao su hàng hóa với số lượng lớn, còn ở các xã khác chủ yếu là đang ở thời kỳ
kiến thiết cơ bản.
+ Về thời gian
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 6/2008 đến tháng 6/2009.
3
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA
1.1.2 Ý nghĩa của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là hình thức sản xuất vượt qua được ngưỡng tự cung tự
cấp, vượt qua được ngưỡng tự sản tự tiêu để hướng đến đáp ứng được nhu cầu của
thị trường mà biểu hiện cao hơn nữa là đáp ứng được đa nhu cầu và khó tính của
người tiêu dùng. Sản xuất hàng hóa là biểu hiện bên ngoài và rõ nét về sự phát triển
chung của xã hội và mức độ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất.
Sản xuất hàng hóa đang ngày càng hướng đến nhu cầu dựa vào tính hữu dụng, tính tự
nhiên của vật phẩm, do áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật con người ngày
càng cố gắng tìm ra những đặc tính riêng để đáp ứng hơn nữa nhu cầu riêng của tính
hữu ích đó.
Quá trình sản xuất đi từ sản xuất nhỏ lẻ chỉ đáp ứng được một số nhu cầu hiện
hữu đến sự phát triển đại công nghiệp như ngày nay, người tiêu dùng đi từ sự “xếp
hàng mua hàng” đến chức danh “thượng đế” mua hàng chính hiệu. Người tiêu dùng
đang đứng trước sự lựa chọn đa dạng về mẫu mã, chất lượng, giá cả, hậu mãi sau bán
hàng... phù hợp với yêu cầu và sở thích của mình. Hiện nay, nhà sản xuất không chỉ
sản xuất và bán những cái mình có mà đi theo hướng sản xuất và bán những cái thị
trường đang cần tức là sản xuất hướng nhu cầu người tiêu dùng. Sản xuất không
những chỉ chạy theo số lượng mà đang ngày càng hướng đến chất lượng với mục tiêu
“chất lượng là hàng đầu” với việc áp dụng khoa học công nghệ là nền tảng, là kim chỉ
nam cho sự phát triển riêng lẽ.
Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất mở của các quan hệ hàng hóa
tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương trong nước và quốc tế
5
ngày càng phát triển. Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật chất và
văn hóa nhân dân.
1.1.3. Sản xuất hàng hóa nông sản
1.1.3.1. Khái niệm sản xuất nông sản hàng hóa
Nông nghiệp hàng hóa là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa, là kiểu tổ chức
kinh tế - xã hội sản xuất ra nông sản phẩm không phải để tự mình tiêu dùng mà để trao
đổi, mua bán trên thị trường, nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội, vừa có lợi nhuận cho
sở tính đa dạng sinh học của vùng miền.
Ba là, sản xuất hàng hóa nông nghiệp có sự khác biệt tương đối so với sản
xuất hàng hóa công nghiệp, điều này thể hiện qua sự phân công lao động. Phân công
lao động trong công nghiệp có sự phân công cao còn trong nông nghiệp bao giờ cũng
kết hợp chuyên môn hóa với phát triển tổng hợp. Mặt khác nông nghiệp còn phụ
thuộc vào thiên nhiên trong khi sản xuất công nghiệp sản xuất phụ thuộc vào thị
trường. Sản xuất nông nghiệp hướng đến mùa vụ trong khi sản xuất công nghiệp
hướng đến nhu cầu người tiêu dùng... Trong nền kinh tế hiện đại, sản xuất nông
nghiệp trở thành ngành sản xuất nông sản hàng hóa [9].
1.1.3.3. Những đặc trưng của nông sản hàng hóa
Giá cả dễ biến động mạnh
Giá cả của sản phẩm nông sản dễ thay đổi đáng kể và đột ngột trong vòng một
ngày hoặc một tuần. Do không có công nghệ bảo quản và sơ chế nên hàng hóa nông
sản đều được mua bán dưới dạng tươi sống và phạm vi phân phối hẹp. Mức độ biến
động giá do nhu cầu điều phối kém hoặc do không thể bảo quản lâu mà phải bán
ngay. Do đó, giá của sản phẩm nông sản có xu hướng giảm nhiều vào cuối ngày vì
lúc này loại hàng hóa này bắt đầu hỏng. Hơn nữa khi có một lượng nông sản lớn đột
ngột xâm nhập do tính chất thu hoạch đại trà và rầm rộ nên làm cung vượt quá cầu thị
trường.
Bên cạnh đó, giá nông sản hiện nay còn phụ thuộc vào nhu cầu thế giới thông
qua con đường xuất nhập khẩu, ngoài yếu tố nội tại trong nước còn phụ thuộc rất lớn
vào mức độ khan hiếm của cung cầu thị trường thế giới.
7
Tính thời vụ
Các sản phẩm nông nghiệp thường có thời vụ thu hoạch nhất định, hoặc theo
từng chu kì nên giá cả hàng hóa nông sản lúc vào vụ thường rớt giá xuống thấp do
lượng cung quá lớn nhưng sau đó lại được đẩy lên cao vào lúc khan hiếm hàng. Tính
chất sinh học và tính thích nghi nên tạo mỗi loại cây trồng đều có những mùa vụ nhất
định trong năm. Do đặc điểm khí hậu nước ta phân bố đều giữa các vùng miền nên
việc gieo trồng và thu hoạch các nông sản thường vào một thời điểm giống nhau.
sản nhập khẩu từ các nước phát triển bán trên thị trường với giá thấp sẽ gây sức ép
lớn cho kinh tế nông thôn. Nhiều doanh nghiệp có thể phải đối mặt với nguy cơ phá
sản, cả kinh tế nông hộ, nông dân lao động nông nghiệp thủy sản sẽ gặp nhiều khó
khăn. Nếu không nắm bắt lấy cơ hội quan trọng trong quá trình mở cửa và hội nhập
để thúc đẩy kinh tế phát triển, tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. Đây thực sự là
thách thức lớn nhất cần phải vượt qua đối với phát triển nông nghiệp nông thôn.
Chi phí giao dịch và chi phí tiếp thị cao
Sau hơn 6 năm thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính
phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng, rất
nhiều doanh nghiệp và nông dân đã gặp nhau giữa “cung và cầu”. Tuy nhiên, khoảng
cách này đang khá lớn, hàng hóa nông sản phải đi qua nhiều khâu, nhiều kênh phân
phối khác nhau, chênh lệch giá giữa người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng có
một khoảng cách khá xa. Đây là bất cập vẫn đang thách thức dẫn đến biên độ thị
trường lớn cho hàng hóa nông sản Việt Nam [21].
Biên độ thị trường lớn là do quy mô sản xuất nông sản của các hộ nông dân
còn rất nhỏ, lại nằm ở các vùng sâu, vùng xa. Vì thế, làm tăng chi phí thu gom, chi
phí vận chuyển do các thương nhân phải đi đến tận nơi để thu mua. Và mỗi lần thu
mua các tư thương cũng phân loại, sơ chế... bảo quản, cất giữ và tạo một giá trị mới
lớn hơn giá trị ban đầu để có lợi trước khi bán lại cho các khâu trung gian trong chuỗi
tiếp theo.
9
Bên cạnh đó, hàng hóa nông sản trước thềm hội nhập WTO phải chịu sự cạnh
tranh khốc liệt từ những hàng hóa nông sản có giá trị và chất lượng cao ở các nước
khác, việc tìm bạn hàng mới, thị trường mới cộng với chiến lược giá thấp và chất
lượng cao buộc ngành nông nghiệp hàng hóa phải đầu tư một lượng chi phí lớn cho
công việc quảng cáo và tiếp thị ở những thị trường mới [21].
Thiếu thông tin
Khả năng tiếp cận thông tin thị trường kém là một nguyên nhân quan trọng
làm cho thị trường nông sản không hiệu quả. Nhìn chung, kiến thức và sự hiểu biết
của nông dân về các phương thức hoạt động của thị trường là hạn chế. Bên cạnh đó
Trong thời kỳ hội nhập, sự xâm chiếm của thị trường hàng ngoại nhập buộc các
doanh nghiệp nông nghiệp trong nước nói chung và tất cả các doanh nghiệp nói riêng
phải không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và đặc biệt là đa đạng
hóa mặt hàng để đáp ứng được sự đa dạng nhu cầu của khách hàng.
1.2. GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CAO SU
Cây cao su được nhân trồng với quy mô lớn trên thế giới là nhờ vào sản phẩm
đặc biệt của cây là mủ cao su, đó là một nguyên liệu cần thiết trong nhiều ngành công
nghiệp hiện nay. Ngoài ra cây cao su còn cho các sản phẩm khác cũng có công dụng
không kém phần quan trọng như: gỗ, dầu hạt... Cây cao su còn có tác dụng bảo vệ
môi trường sinh thái, cải thiện vấn đề kinh tế xã hội nhất là các vùng miền núi, góp
phần bảo vệ an ninh quốc phòng tại các vùng biên giới.
Các sản phẩm kinh tế
a. Mủ cao su nguyên liệu
Sản phẩm chủ yếu của cao su là mủ cao su với các đặc tính hơn hẳn cao su
tổng hợp về độ giãn, độ đàn hồi cao, chống đứt, chống lạnh tốt, ít phát nhiệt khi cọ
xát, dễ sơ luyện... Mủ cao su là nguyên liệu không thể thiếu được trong đời sống hằng
ngày của con người. Các sản phẩm cao su có thể chia thành các loại chính như: Vỏ, ruột
xe; các vật dụng phục vụ cho công nghiệp, y tế...
b. Gỗ cao su
Khi cao su hết niên hạn kinh tế phải thanh lý thì gỗ cao su là một sản phẩm rất
quan trọng, một nguồn kinh tế đáng kể. Sản lượng gỗ tùy thuộc vào mật độ cây còn
11
lại trên vườn và vào độ lớn của cây (đường kính, chiều cao cây...), nếu tính bình quân
vườn cây cao su khi thanh lý còn 200 cây với sản lượng gỗ bình quân là 0,25 - 0,3 m
3
gỗ/cây thì mỗi ha cao su có được 50 - 60 m
3
gỗ và một khối lượng củi ước lượng từ
30 - 40% lượng gỗ. Gỗ cao su đang được giới tiêu thụ trên thế giới ưa chuộng [13].
c. Dầu hạt cao su
Thời gian kiến thiết cơ bản phổ biến từ 7- 8 năm. Tuy nhiên với điều kiện chăm sóc,
quản lý vườn cây đúng quy trình, chọn giống và vật liệu trồng thích hợp thì có thể rút
ngắn thời gian kiến thiết cơ bản từ 6 tháng đến 1 năm [24].
Giai đoạn kinh doanh: Là khoảng thời gian khai thác mủ cao su. Cây cao su được
khai thác khi có trên 50% tổng số cây có vành thân ≥ 50cm. Giai đoạn kinh doanh có
thể dài từ 25 đến 30 năm. Trong giai đoạn này cây vẫn tiếp tục tăng trưởng nhưng ở
mức thấp hơn nhiều so với giai đoạn kiến thiết cơ bản [24].
Để trồng cây cao su có năng suất và hiệu quả kinh tế cao cần phải chú ý những
đặc điểm, điều kiện về thực vật học của cây cao su và những điều kiện sinh thái nhất
định để có những tác động thích hợp. Những điều kiện đó là:
Điều kiện thời tiết, khí hậu
- Nhiệt độ: Cây cao su cần nhiệt độ trung bình ở mức cao và đều, với nhiệt độ
thích hợp nhất từ 25-30
o
C. Nhiệt độ trên 40
o
C cây sẽ trở nên khô héo và ở mức dưới
10
o
C cây có thể chịu đựng được một thời gian tương đối ngắn. Mức nhiệt độ trung
bình khoảng 25
o
C thì cây cho năng suất mủ ở mức cao nhất. Trong khoảng thời gian
khai thác mủ (1-5 giờ sáng) thì yêu cầu nhiệt độ phải mát dịu để lượng mủ lấy ra đạt
chất lượng tốt và nhiều [24].
- Lượng mưa: Cây cao su có thể trồng ở nhiều vùng đất khác nhau nhưng
thích hợp nhất vẫn là những vùng đất có lượng mưa từ 1500 - 2000 mm/năm. Tuy
vậy đối với các vùng có lượng mưa thấp <1500mm/năm thì lượng mưa cần phân bố
đều trong các tháng của năm. Đất trồng cao su phải có khả năng giữ nước tốt, có
thành phần sét trong đất chiếm khoảng 25%. Ở những nơi không có những điều kiện
đới ẩm ướt, nhưng hiệu kinh tế của cây là một vấn đề cần lưu ý khi nhân trồng cao su
trên quy mô lớn vì chu kỳ sản xuất và kinh doanh kéo dài, đầu tư lớn, nên sẽ rủi ro
cao nếu không có sự tính toán kỹ lưỡng. Do vậy việc lựa chọn các vùng đất thích hợp
cho cây cao su là một vấn đề cơ bản cần được đặt ra.
14
- Cao trình: Cây cao su thích hợp với các vùng đất có cao trình tương đối thấp.
Càng lên cao càng bất lợi do nhiệt độ thấp dần và gió càng mạnh. Độ cao thích hợp
nhất là 500-600m so với mực nước biển.
- Độ dốc: Đất càng dốc thì độ xói mòn càng lớn, khiến cho chất dinh dưỡng ở
trong đất nhất là lớp đất mặt bị mất đi. Khi trồng cây cao su ở vùng đất dốc nên có hệ
thống chống xói mòn đất, vì vậy nên trồng cao su ở khu ít đất dốc.
- Độ pH: Thích hợp cho cây cao su là 4,5-5,5
- Đất có tầng canh tác dày khoảng 2m, tuy nhiên trên thực tế các loại đất có
tầng canh tác dày từ 1 mét trở lên có thể xem là đạt yêu cầu để trồng cao su. [24]
1.3.2. Yêu cầu kỹ thuật đối với cây cao su
Các yêu cầu kỹ thuật trồng cao su
Để nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng cây trồng thì việc thực hiện
đúng cách các biện pháp, quy trình kỹ thuật là hết sức quan trọng. Muốn vậy cần nắm
rõ các nhân tố kỹ thuật có ảnh hưởng đến cây cao su và nắm vững các biện pháp kỹ
thuật thâm canh. Hiện tại, quy trình kỹ thuật cao su chia thành 2 thời kỳ là KTCB và
kinh doanh.
* Thời kỳ cao su KTCB: Bao gồm các khâu như chọn đất, khai hoang, trồng
mới và chăm sóc.
+ Chọn đất: Đất là một trong những yếu tố cơ bản có tính quyết định đến hiệu
quả kinh tế của vườn cây và là một yếu tố khó sửa đổi nhất. Do đó cần xác định và
xếp hạng các diện tích có khả năng trồng cao su và nhất là loại bỏ ngay từ đầu các
diện tích không thích hợp cho cây cao su.
+ Khai hoang: Yêu cầu công tác khai hoang là làm sạch thực bì, cân bằng độ
cao, nhất là loại bỏ được các mầm bệnh chứa trong các loại rễ cây rừng còn tồn tại
trong đất nhưng vẫn giữ được độ phì của đất.
đúng quy trình.
- Công tác làm cỏ: Phải định kỳ làm cỏ, cày trên đường luồng đúng quy trình,
đúng tiến độ, không để cỏ dại tranh chấp dinh dưỡng của cây.
- Thực hiện tốt việc tỉa chồi thường xuyên cho cây và phải hoàn tất công tác
tạo tán trong thời gian từ 2,5 năm đến 3 năm sau khi trồng [27].
- Trồng xen, trồng thảm phủ: Trong thời gian 2 năm đến 3 năm đầu tiên sau khi
trồng do tán cây còn nhỏ và khoảng cách giữa hàng cao su tương đối rộng (6m-7m) nên
16
có thể vận dụng để trồng xen cây lương thực ngắn ngày hoặc các cây thảm phủ nhằm
tăng thu nhập và chống xói mòn cho đất.
- Bón phân: Ở giai đoạn KTCB cây chỉ yêu cầu tăng trưởng nhanh, khỏe. Khi
có đủ chất dinh dưỡng cây phát triển nhanh rút ngắn thời gian KTCB.
- Công tác phòng bệnh: Thường xuyên kiểm tra cây bệnh trong vườn để chữa
trị kịp thời. Đặc biệt là từng thời điểm giao mùa và mùa mưa cây dễ có nhiều bệnh hại.
- Công tác phòng chống cháy: Cây cao su không chịu nhiệt độ cao (nhiệt độ
phải < 40
0
C), mặt khác sản phẩm mủ thu nhờ bộ phận vỏ cây do vậy phải có phương
án phòng chống cháy, tuyệt đối không để cháy vườn cây và gia súc phá hoại. [24]
* Chăm sóc cây cạo mủ
- Cây cao su sản xuất mủ nhờ lớp vỏ, để vườn cây có năng suất cao, không bị
bệnh ở mặt cạo, theo quy trình hiện tại, cần chăm sóc cây cạo ở một số điểm sau:
+ Chăm sóc mặt cạo: Theo định kỳ (1 hay 2 tháng 1 lần) dùng nạo da me, nạo
nhẹ lớp vỏ bên ngoài ngay bên dưới miệng cạo cho tróc hết lớp mủ dây, mủ vỏ và lớp
vỏ xù xì bên ngoài.
+ Chăm sóc lớp vỏ tái sinh: Để giúp cho vỏ tái sinh được liền lại, không bị u
bướu để khai thác lớp vỏ tái sinh.
+ Kiểm tra bệnh cây trên vườn: bệnh rễ nâu, bệnh nấm hồng dễ lây lan trong
mùa mưa.
Tóm lại, với công nghệ sinh học phát triển, ở nước ta cũng như nhiều nước
muốn bán được phải được thị trường thừa nhận thông qua việc thực hiện giá cả.
Sản xuất cao su thiên nhiên được thực hiện chủ yếu ở các nước đang phát
triển, tuy nhiên việc tiêu thụ sản phẩm là chủ yếu ở các nước phát triển. Các nước
trồng cao su cũng cố gắng phát triển ngành công nghiệp chế biến, tạo ra thị trường
nội địa vì thị trường tiêu thụ quyết định rất lớn đến quá trình sản xuất cao su. Người
ta không sản xuất nếu không có thị trường tiêu thụ và ngược lại. Cho nên phải nghiên
cứu, phải lựa chọn thị trường đối với sản phẩm cao su, phân tích chiều hướng phát
triển của thị trường từ đó xây dựng chiến lược lâu dài và ổn định cho phát triển cây
cao su.
Song song với việc lựa chọn thị trường, thì vấn đề giá cả các nguyên liệu đầu
18
vào và sản phẩm đầu ra quyết định đến thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh,
đặc biệt cây cao su là cây công nghiệp lâu năm nên yếu tố biến động về giá ảnh
hưởng rất lớn. Người sản xuất xác lập một chính sách giá, tìm ra mọi cách hạ giá
thành nâng cao năng xuất cây trồng.
Đối với người nông dân sản xuất nông sản phẩm ngoài việc họ sản xuất ra để
tiêu dùng trong gia đình thì họ còn phải bán ra thị trường một lượng nông sản phẩm
của mình và mua các mặt hàng tiêu dùng, mua các yếu tố đầu vào trên thị trường để
đầu tư cho sản xuất. Ở đây, các hộ nông dân sản xuất mủ cao su với mục tiêu là bán
ra thị trường, chính vì thế giá cả của sản phẩm cao su cũng như giá sản phẩm đầu vào
trên thị trường có quyết định rất lớn đến hành vi người sản xuất. Trên cơ sở giá cả,
khả năng của mình và căn cứ vào đất đai thổ nhưỡng khác... mà hộ nông dân tự quyết
định sản xuất cây gì, nuôi con gì với quy mô và quyết định đầu tư cho sản xuất như thế
nào để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Sự phát triển hệ thống dịch vụ
Sự phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ sản xuất có tác động rất lớn đến việc hình
thành và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa. Nó đảm bảo cho quá trình sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm được diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả, đồng thời nó góp phần
nâng cao giá trị nông sản hàng hóa nói chung và hàng hóa cao su nói riêng.
+ Hệ thống dịch vụ đầu vào
động, TLSX sao cho giữa các yếu tố có sự phối hợp chặt chẽ để có thể tạo ra nhiều
sản phẩm nhất.
Tập trung hóa sản xuất làm cho quy mô sản xuất kinh doanh được mở rộng.
Nó tạo điều kiện thuận lợi nhằm sử dụng tốt hơn, có hiệu quả hơn hệ thống cơ sở vật
chất và áp dụng nhanh chóng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Tập trung hóa sản
xuất gắn bó chặt chẽ với quá trình chuyên môn hóa. Nó là điều kiện để chuyên môn
hóa sản xuất hợp lý.
- Mức độ đầu tư thâm canh
Thâm canh trong nông nghiệp là phương thức tăng đầu tư và sử dụng một
cách hợp lý, có hiệu quả các yếu tố nguồn lực với mục đích nâng cao độ phì nhiêu
kinh tế của ruộng đất nhằm tăng thêm khối lượng trên đơn vị diện tích đất đai, đồng
thời hạ giá thành sản phẩm. Như vậy chúng ta phải hiểu thâm canh không chỉ đơn
20
thuần đầu tư thêm vật tư, lao động để thu thêm khối lượng sản phẩm mà vấn đề quan
trọng ở đây là với một khối lượng chi phí đầu tư như nhau trên một đơn vị diện tích,
nhưng nếu có sự kết hợp hợp lý trong cơ cấu đầu tư sẽ làm cho sản xuất mang lại
hiệu quả cao hơn hoặc việc đưa các yếu tố sản xuất mới vào làm cho chi phí trên đơn
vị diện tích có thể giảm xuống.
Với sự phát triển của xã hội, thì nhu cầu về sản phẩm từ nông nghiệp của con
người ngày càng cao về số lượng cũng như chất lượng, trong khi đó diện tích đất đai
lại có hạn. Đặc biệt, việc mở rộng diện tích nông nghiệp lại càng khó khăn. Đòi hỏi
con người phải nâng cao chất lượng canh tác thông qua con đường thâm canh dựa
trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh
đó việc gia tăng mức độ thâm canh cây trồng cần phải chú trọng đến hoạt động bảo
vệ tài nguyên và môi trường nhằm phát triển nông nghiệp một cách bền vững.
- Tổ chức sản xuất
Đa dạng hoá nông nghiệp là chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước,
sản xuất cao su phải được tiến hành trên quy mô tương đối lớn. Do vậy việc quy
hoạch, bố trí sản xuất phải gắn liền với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội
của vùng, nên cần xác định đúng vùng cần trồng cao su, loại đất trồng cao su cho phù
tấn (61,0% so với Thái lan). Tiếp theo là Ấn độ năm 1985 đạt sản lượng là 198,3
ngàn tấn, đến năm 1995 đạt 199,6 ngàn tấn, như vậy mức độ gia tăng là 152% trong
10 năm (BQ tăng 15,2% mỗi năm) Trung quốc đạt sản lượng là 187,9 ngàn tấn năm
1985, đến năm 1995 đạt 360 ngàn tấn như vậy mức độ gia tăng là 91,6% trong 10
năm (BQ tăng 9,2% mỗi năm) [13].
1.5.1.2. Tình hình tiêu thụ và xuất khẩu cao su
Cao su thiên nhiên (NR) là loại hàng hoá có sự hồi phục lớn nhất trong vài
năm lại đây. Với giá thấp kỷ lục 0,58 USD/kg năm 2001, giá cao su trung bình đã lên
2,01 USD/kg trong suốt năm 2006 và dự báo lên 2,40 USD/kg trong năm 2008, tăng
4 lần trong vòng 4 năm. Việc tăng giá cao su một phần phản ánh nhu cầu cao và nhân
tố quan trọng hơn cả là giá dầu thô cao. Sản lượng cao su được sản xuất trong năm
2005 gần 21 triệu tấn, trong đó khoảng 42% là cao su tự nhiên (tương đương hơn
22
8,82 triệu tấn. Thái lan và Indonesia là hai nước sản xuất cao su tự nhiên với sản
lượng cao, chiếm 32,8% và 25,6% tổng sản lượng và sự hiện diện của Việt Nam ngày
càng rõ với sản lượng hiện tại (năm 2005) lên 436.000 tấn. Trung quốc là nước tiêu
thụ cao su thiên nhiên lớn nhất, với nhu cầu lớn về làm lốp ôtô, môtô và hiện chiếm
khoảng 21% tiêu thụ toàn cầu. Bảng 1.1 phản ánh thực trạng sản xuất tiêu thụ và xuất
khẩu cao su tự nhiên của thế giới giai đoạn 2002- 2005. [13]
Bảng 1.1: Thực trạng sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu cao su tự nhiên
(ĐVT: 1.000 tấn)
Chỉ tiêu
2002 2003 2004 2005
SL % SL % SL % SL %
SẢN XUẤT
Thái lan 2.615 35,6 2.876 36,0 2.984 34,5 2.911 32,8
Indonesia 1.630 22,2 1.792 22,4 2.066 23,9 2.270 25,6
Malaysia 890 12,1 986 12,3 1.169 13,5 1.131 12,8
Ân đô 641 8,7 707 8,8 743 8,6 771 8,7
Trung quốc 468 6,4 480 6,0 486 5,6 428 4,8
Từ năm 1995 trở lại tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su thiên nhiên ngày
càng tăng. Đặc biệt là những năm gần đây.
Năm 2005, cả nước có khoảng 478.200ha, tăng hơn 5,4% so với 454.100ha
năm 2004, chiếm 10,2% đất nông nghiệp ở Việt Nam. Diện tích cao su chủ yếu phát
triển tại Đông Nam Bộ (312.150ha), kế tiếp là Tây Nguyên (109.340ha), vùng duyên
hải phía Nam (18.310ha) và Bắc Trung Bộ (40.400ha) [13].
Sản lượng cao su thiên nhiên của Việt Nam năm 2005 là 468.600 tấn, tăng
hơn 11,8% so với mức 419.000 tấn năm 2004. Khu vực sản lượng cao nhất là Đông
Nam Bộ (375.470 tấn), tiếp theo là Tây Nguyên (72.780 tấn), Bắc Trung Bộ (13.680
tấn) và Nam Trung Bộ (6.670 tấn)
Năng suất cao su thiên nhiên cao nhất tại Việt Nam là ở Đông Nam Bộ, ước
đạt 1.517 kg/ha tại Đông Nam Bộ, 1.215 kg/ha tại vùng Tây Nguyên, 968 kg/ha tại
Bắc Trung Bộ và 1.245 kg/ha tại Nam Trung Bộ năm 2005.
Đông Nam Bộ là vùng cao su truyền thống, độ cao khoảng 200m, có điều kiện
khí hậu thích hợp cho cây cao su phát triển.
Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng và năng suất cao su trong nước giai đoạn 2003 -2005
Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005
Diện tích
Sản lượng
Năng suất
ha
tấn
kg/ha/năm
440.800
363.500
1.363
454.100
419.000
1.380
480.200
Trong năm 2004-2005, diện tích cao su trồng mới chủ yếu là tiểu điền và tư
nhân, ước tính khoảng 22.000ha, trong khi diện tích đại điền quốc doanh chỉ tăng ít
khoảng 4000 ha. Năm 2005, diện tích cao su tiểu điền khoảng 188.500 ha, chiếm
39,2% tổng diện tích cao su, nhưng sản lượng chỉ chiếm 23,6% tổng sản lượng cao su
cả nước.
Năng suất cao su quốc doanh cao là nhờ việc ứng dụng các giống mới năng
suất cao và các kỹ thuật tiên tiến như sử dụng chất kích thích, máng che mưa, trồng
bầu, công tác bảo vệ thực vật hiệu quả... Ước lượng năng suất quốc doanh đạt khoảng
1.590kg/ha trong năm 2005.
Quy mô cao su tiểu điền khác nhau tuỳ từng vùng, từ 1,43ha/hộ tại các tỉnh
Bắc Trung Bộ đến 3,21ha/hộ tại Tây Nguyên và diện tích cao su tiểu điền bình quân
là 2,49ha/hộ trong những năm 2004-2005 [13].
Năng suất cao su tiểu điền vẫn còn thấp do thiếu vốn đầu tư, kỹ năng kém.
Ước tính đạt 1.095kg/ha trong năm 2005.
25