LỜI MỞ ĐẦU
Con người là yếu tố hàng đầu quyết định sự thịnh vượng hay suy tàn
của doanh nghiệp và cũng một trong những yếu tố quyết định sự thành bại
của mọi hoạt động kinh tế trong xã hội. Chính vì vậy việc thu hút được những
người lao động giỏi, có năng lực làm việc và quản lý tốt là một vấn đề hết sức
khó khăn.
Một trong những yếu tố tạo ra sức hút đối với người lao động mà cũng
là một vấn đề mà các nhà quản lý rất quan tâm. Đó là tiền lương trả cho người
lao động.
Con người không bao giờ thỏa mãn với mình, trong khi đó xã hội ngày
nay càng phát triển, đời sống kinh tế ngày càng được nâng cao và giá cả thị
trường cũng không ngừng biến đổi. Chính vì lẽ đó việc trả lương cho người
lao động làm sao để đảm bảo được mức sống tương đương với năng lực và trí
tuệ mà họ đã cống hiến là một vấn đề luôn được các nhà quản lý quan tâm và
nghiên cứu và đổi mới.
Đối với các doanh nghiệp xây dựng thì chất lượng sản phẩm tạo ra phụ
thuộc lớn và tay nghề của người lao động. Mặt khác,tiền lương của người lao
động không chỉ là một trong những yếu tố cấu thành chi phí sản xuất kinh
doanh mà nó còn là yếu tố tạo đòn bẩy tích cực cho việc ý thức làm chủ tập
thể và thái độ lao động của công nhân viên.
Từ những lý luận trên ta thấy công tác phân tích lao động - tiền lương ở
các doanh nghiệp này là rất quan trọng. Thông qua việc phân tích lao động
tiền lương ở doanh nghiệp sẽ giúp người quản lý đưa ra được những kế hoạch
về việc tuyển dụng, đào tạo và sử dụng lao động hợp lý đồng nhất mới đạt
được các mục đích, kế hoạch sản xuất kinh doanh trong tương lai.
Nhận thức được vai trò quan trọng của yếu tố lao động - tiền lương đối
với hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp. Cùng với những
kiến thức tích lũy được trong quá trình học tập tại trường và quá trình thực tập
tại Công ty Cổ Phần Sông Đà 2.07 em đã chọn đề tài “Kế toán tiền lương và
các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ Phần Sông Đà 2.07”.
Nội dung chuyên đề được chia thành ba phần:
đơn vị đã sáp nhập và trở thành đơn vị thành viên của Công Ty Sông Đà 2 với
tên gọi Xí Nghiệp Sông Đà 2.07.
Tháng 12/2006, thực hiện chủ trương đổi mới và phát triển doanh
nghiệp của Đảng và Nhà Nước, HĐQT Tổng Công Ty Sông Đà đã ra nghị
quyết số 475 TCT/HĐQT ngày 28 tháng 12 năm 2006 thành lập Công Ty Cổ
Phần Sông Đà 2.07 trên cơ sở nguồn lực hiện có của Xí Nghiệp Sông Đà 2.07
và ngày 01 tháng 02 năm 2007 Công Ty Cổ Phần 2.07 chính thức đi vào hoạt
động với số vốn điều lệ là 30 tỷ VN đồng. Giấy phép đăng ký kinh doanh số
0103015669 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Thành Phố Hà Nội cấp ngà
25/01/2007.
Qua quá trình 5 năm hoạt động và phát triển, mặc dù còn non trẻ nhưng
cới sự năng động sáng tạo, chủ động trong công việc của đội ngũ Ban Giám
Đốc và tập thể cán bộ công nhân viên. Công ty đã từng bước khẳng định được
vị trí của mình trên thị trường xây dựng dân dụng và một số lĩnh vực kinh
doanh khác.
1.3 - Nhiệm vụ của công ty
- Sản xuất kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng
- Xây dựng công trình công nghiệp công cộng, nhà ở, xây dựng dây tải điện,
trạm biến thế.
- Xây dựng công trình công nghiệp và dân dụng với quy mô lớn, sản xuất lắp
đặt cấu kiện xây dựng và kết cấu cơ khí công trình, lắp đặt thiết bị điện, nước,
thiết bị công nghệ, thiết bị công trình.
1.4 - Loại hình công ty
Công Ty Cổ Phần
Vốn điều lệ: 30 tỷ đồng
2. Tổ chức bộ máy kế toán của công ty
Công ty áp dụng hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung theo chế
độ kế toán mới nên các công việc từ phân loại chứng từ, định khoản kế to đến
việc lập báo cáo kế toán đều thực hiện tại phòng kế toán
Sơ đồ bộ máy kế toán của công ty cổ phần Sông Đà 2.07
ngân
hàng
Kế
toán
tại các
công
trình
Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận kế toán
*Kế toán tổng hợp: có nhiệm vụ nhập các chứng từ kế toán để ghi
vào nhật ký chung và có trách nhiệm báo cáo quản trị tháng, quý, năm vào
ngày 05 tháng, ngày 07 quý, ngày 10 năm sau, đảm bảo chính xác số liệu kế
toán. Lập báo cáo quyết toán các công trình. Theo dõi các khoản thu nộp cấp
trên với công ty, kế toán thanh toán, theo dõi việc thanh quyết toán đối với
các công trình khoán gọn, công nợ cá nhân, công nợ nội bộ trong công ty.
Phụ trách kế toán vật tư đối với các công trình tập trung.
- Kế toán TSCĐ: Chuyên theo dõi về tình hình tăng giảm TSCĐ và
tính trích khấu hao cho từng đối tượng. Tính lương hàng tháng khối gián
tiếp, theo dõi BHXH, BHYT, KPCĐ trích nộp cho toàn công ty
- Kế toán thanh toán nội bộ: Theo dõi công nợ khách hàng, lập báo
cáo tháng, quý , năm. Theo dõi toàn bộ các loại hợp đồng kinh tế, hợp đồng
giao khoán, mau bán vật tư, thuê máy và kế toán quản trị các công trình
khoán gọn
- Thủ quỹ kiêm kế toán ngân hàng: Lập các ủy nhiệm chi, hàng
tháng có đối chiếu số dư tiền gửi với ngân hàng kịp thời cho kế toán nhật ký
chung. Lập báo cáo tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, hàng ngày nộp trưởng ban
trước 8 giờ sáng hàng ngày.
- Kế toán tại công trình: Lập sổ sách theo dõi đúng quy định kế toán
thống kê và công văn hướng dẫn theo dõi các chi phí, tập hợp bảng chấm
công của các đội tại các công trình, có trách nhiệm tập hợp các báo cáo để
làm căn cứ đối chiếu.
Quan hệ đối chiếu kiểm tra phải đảm bảo tổng số phát sinh nợ phải bằng
số phát sinh có trên sổ nhật ký chung và sổ cái.
Các chế độ kế toán áp dụng:
Là một đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập đặc biệt lại là ngành xây
dựng, do quy mô và tính chất của công ty, Công Ty Cổ Phần Sông Đà 2.07
đang sử dụng hình thức kế toán: “ Sổ Nhật Ký Chung”.
Các tài khoản công ty hay sử dụng là: 111, 112, 334, 338, 154, 622,
623, 627…..
Chứng từ gốc: bảng tổng hợp
chứng từ gốc
Nhật ký
chuyên dùng Nhật Ký Chung
Sổ kế toán
chi tiết
Sổ Cái Bảng tổng
hợp chi tiết
Bảng đối chiếu số
phát sinh
Báo cáo kế toán
Do công ty hoạt động kinh doanh ở lĩnh vực xây dựng nên chi phí bỏ ra
tùy thuộc ở từng công trình. Tùy thuộc vào từng công trình mà trả lương cho
công nhân số tiền tương ứng.
a, Niên độ kế toán, Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
* Niên độ kế toán :
Niên độ kế toán của Công ty bắt đầu từ ngày 01/01/N và kết thúc ngày
31/12/N
* Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán :
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán tại Công ty là VNĐ. Hạch toán
theo nguyên tắc giá gốc.
Kỳ kế toán của đơn vị thường được tính theo từng công trình cụ thể hoặc theo
Chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có thể có hàng tồn kho ở địa
điểm và trạng thái hiện tại.
Gía trị thuần có thể thực hiện được là giá trị bán ước tính của hàng tồn
kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ chi phí ước tính cần thiết
cho việc tiêu thụ chúng.
* Phương pháp hạch toán hàng tồn kho : Phương pháp Kê khai thường
xuyên.
* Phương pháp xác định hàng tồn kho cuối kỳ : Nguyên liệu, vật liệu, hàng
hóa, thành phẩm đều áp dụng theo phương pháp bình quan gia quyền.
* Sản phẩm dở dang :
Sản phẩm dở dang tại các công trình, hợp đồng, dự án : Bao gồm giá
vốn nguyên vật liệu, hàng hóa tồn kho, chi phí nhân công và chi phí sản xuất
chung. Chi phí nhân công và chi phí sản xuất chung được phân bổ theo giá trị
thực tế.
* Phương pháp tính giá vốn hàng bán :
Gía trị nguyên vật liệu, chi phí nhân công và chi phí sản xuất chung
được tập hợp phân bổ theo từng công trình, hợp đồng theo giá trị dự toán.
Đối với sản phẩm kinh doanh thương mại, giá vốn hàng bán là giá trị
hàng hóa mua vào cộng với các chi phí mua hàng, chi phí lưu thông bổ sung,
chi phí lưu thông thuần túy để tiêu thụ hàng hóa và các chi phí khác.
* Tình hình trích lập và hoàn nhập hàng tồn kho :
Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng
tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá
gốc của hàng tồn kho với giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng.
Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được thực hiện trên cơ sở
từng mặt hàng tồn kho. Đối với dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng
giảm giá hàng tồn kho được tính theo từng loại dịch vụ có mức giá riêng biệt.
Tăng hoặc giảm khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được kết chuyển vào
giá vốn hàng bán trong năm.
ánh đầy đủ trình độ lao động trong thời kỳ nhằm tạo ra chất lượng sản phẩm
tốt nhất, với chi phí lao động thấp nhất.
Công Ty Cổ Phần Sông Đà 2.07 có một đội ngũ lao động bao gồm
nhiều loại khác nhau về trình độ chuyên môn kỹ thuật. Sử dụng hợp lý sẽ đem
lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao.
Về số lượng lao động: Là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đên
năng suất lao động, ngược lại năng suất lao động cũng là một chỉ tiêu dung để
đánh giá hiệu quả sử dụng lao động. Số lượng lao động của Công Ty biến
động qua các năm theo yêu cầu sản xuất kinh doanh từng thời kỳ.
Lực luợng lao động chủ yếu của Công ty tập trung vào đội ngũ kỹ sư
tư vấn xây dựng có kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn xây dựng, đặc biệt là
trong lĩnh vực tư vấn thiết kế các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, xây dựng
dân dụng và công nghiệp và công trình ngầm và kế đến là đội ngũ công nhân
kỹ thuật lành nghề trong công tác khảo sát, thí nghiệm. Trong những năm
vừa qua lực lượng lao động của công ty đã không ngừng tăng lên về số
lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, công ty còn có đội ngũ công nhân được
phân bổ tại các đội thi công và được tuyển chọn kỹ lưỡng với nhiều năm
kinh nghiệm về lĩnh vực xây dựng. Lực lượng lao động tại các công trường
luôn phải được yêu cầu đặt yếu tố an toàn lên hàng đầu. Công ty thường
xuyên tổ chức các lớp học vê an toàn lao động cho công nhân, tìm hiểu đời
sống vật chất, tinh thần của cán bộ tại phòng ban và công nhân viên để tạo
điều kiện tốt nhất cho họ về vật chất và tinh thần để họ có thể yên tâm làm
việc có hiệu quả nhất.
Trong ngành tư vấn xây dựng, yếu tố chất lượng nguồn nhân lực luôn
đặt lên hàng đầu bởi người kỹ sư tư vấn chỉ bán thời gian và kiến thức của
mình. Nhận thức được điều đó, trong những năm qua, Công ty luôn có chính
sách thu hút nguồn cán bộ có kinh nghiệm từ các đơn vị khác và các sinh
viên tốt nghiệp loại giỏi và khá về làm việc tại đơn vị bằng các hình thức đãi
ngộ bằng lương, thưởng, chế độ ưu đãi cho cán bộ làm việc tại các công
trình ở vùng sâu, vùng xa và chế độ khuyến khích cho các cán bộ có năng
Trình độ học vấn
200
5
200
6
200
7
So sánh 06/05 So sánh 07/06
+/- % +/- %
Trình độ trên đại học 5 5 7 0 0,0% 2 40%
Trình độ đại học 97 101 107 4 4,1% 6 5,9%
Trình độ cao đẳng 30 39 40 9 30% 1 2,6%
Trình độ trung cấp 49 44 45 -1 -2,0% 1 2,3%
Trình độ sơ cấp 7 7 7 0 0,0% 0 0,0%
Tổng công nhân kỹ thuật
100
2 997 988 -5
-0,5%
-11
-1,1%
Tổng cộng
119
0
119
3
119
4 3
0,3%
1
0,08%
sau:
Ví dụ tính lương cho nhân viên Phạm Đình Hiệp như sau:
- Hệ số lương: 5,65
- Số ngày làm: 22 ngày
- Mức lương cơ bản: 540.000đ
Mức lương thời gian của nhân viên Phạm Đình Hiệp như sau:
5,65 x 540.000
X 22 = 3.051.000 đồng
22
Các khoản phải trừ:
+ BHXH trích: 5% x Lương cơ bản
= 5,65 x 540.000 x 5% = 152.550 đồng
+ BHYT phải nộp: 1% x Lương cơ bản
= 5,65 x 540.000 x 1% = 30.510 đồng
Như vậy lương tháng 3/2008 của nhân viên Phạm Đình Hiệp thực lĩnh là:
3.051.000 – (152.550 + 30.510) = 2.867.940 đồng
Căn cứ vào bảng chấm công kế toán lập bảng thanh toán tiền lương và phụ
cấp cho các bộ phận.
*Hình thức trả lương theo sản phẩm.
Hình thức này được áp dụng đối với công nhân trực tiếp làm việc tai công
trường, đội thi công xây dựng.
Đơn giá tiền lương được tính theo từng công nhân theo biên bản nghiệm
thu hợp đồng giao khoán hoặc phiếu xác nhận sản phẩm, công việc hoàn
thành.
Ví dụ tính lương theo sản phẩm của đội xây dựng số 5. Hàng ngày tổ
trưởng của đội số 5 sẽ phải theo dõi thời gian làm việc của công nhân và theo