Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––
VŨ THỊ BÍCH HOÀN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. MAI NGỌC CƢỜNG THÁI NGUYÊN - 2013 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử
dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ
rõ nguồn gốc./.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn Vũ Thị Bích Hoàn
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tẳt vi
Danh mục các bảng vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 3
6. Những đóng góp chủ yếu của luận văn 3
7. Kết cấu của luận văn 4
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN TRONG
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 5
1.1. Tài chính và quản lý tài chính bệnh viện trong nền kinh tế thị trường 5
1.1.1. Bệnh viện: lịch sử hình thành và bản chất 5
1.1.2. Quản lý tài chính bệnh viện: khái niệm, bản chất và nguyên tắc 11
1.2. Nhân tố ảnh hưởng và tầm quan trọng của quản lý tài chính bệnh
viện trong điều kiện kinh tế thị trường 21
1.2.1. Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính bệnh viện 21
1.2.2. Tầm quan trọng của quản lý tài chính bệnh viện 31
33
1.3.1. Mô hình quản lý tài c
33
34
v
4.1.2. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân tỉnh Phú Thọ đến năm 2015 73
4.2. Phương hư
Xây d 74
4.3. Một số g
viện những năm tới 78
4.3.1. Hoàn thiện hệ thống luật pháp tạo môi trường pháp lý cho quản
lý nhà nước đối với Bệnh viện 78
4.3.2. Hoàn thiện công tác kế hoạch, tạo nguồn để tăng nguồn thu 79
4.3.3. Xây dựng hệ thống định mức, tiêu chuẩn chế độ chi tiêu nội
bộ hợp lý 80
4.3.4. Tăng cường năng lực tổ chức bộ máy quản lý và kiểm tra, giám
sát hoạt động đối với Bệnh viện Xây d 83
4.3.5. Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật
vào quản lý bệnh viện nói chung, quản lý tài chính nói riêng 86
4.4. Một số kiến nghị 87
4.4.1. Với nhà nước và Bộ Y tế 87
4.4 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẲT
STT
Chữ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
NSNN
Ngân sách nhà nước
12
QĐ
Quyết định
13
TCCB
Tổ chức cán bộ
14
TTB
Trang thiết bị
15
TTLB
Thông tư liên bộ
16
XHH
Xã hội hóa Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
2009-2012 47
Bảng 3.2: Dự toán sử dụng kinh phí cho hoạt động của Bệnh viện
2009-2012 48
2009-2012 49
Bảng 3.4: Tổng hợp thu sự nghiệp và hoạt động của Bệnh viện X
chất lượng KCB và khả năng phục vụ người bệnh của các cơ sở y tế. [10]
Thực hiện chủ trương đổi mới trong lĩnh vực y tế với phương châm:
“Nhà nước và nhân dân cùng làm” theo tinh thần Nghị quyết đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI, Chính phủ đã cho phép các cơ sở KCB thực hiện thu
một phần viện phí. Giải pháp này đã giúp các bệnh viện khắc phục được một
phần về tài chính. Song tình hình tài chính cho các cơ sở y tế vẫn còn gặp khó
khăn. Trước tình hình đó, từ năm 1994, Nhà nước ta có chủ trương đổi mới cơ
chế quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp nói chung, các cơ sở y tế công lập
nói riêng, theo hướng tăng quyền tự chủ tài chính cho các bệnh viện.
Sau 16 năm thực hiện các chủ trương tăng quyền tự chủ cho đơn vị sự
nghiệp công lập nói chung, các cơ sở y tế nói riêng, hoạt động của các bệnh
viện công lập ngày càng đạt được những thành tựu. Tuy nhiên vẫn còn có
những khó khăn, hạn chế đòi hỏi phải tiếp tục tháo gỡ.
Là một bệnh viện công, được thành lập từ đầu những năm 1987, Bệnh
viện cũng nằm chung trong tình trạng trên. Vì vậy việc
nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện quản lý tài chính ở Bệnh viện
” là vấn đề có ý nghĩa thiết thực về lý luận và thực tiễn.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về quản lý tài chính bệnh viện đã được một số nhà khoa
học trong lĩnh vực kinh tế y tế quan tâm. Phổ biến các nghiên cứu này được
công bố trong các tài liệu giảng dạy của ngành y tế. Có thể nêu lên một số
công trình chủ yếu như sau:
- Trần Tấn Trâm: Quản lý tài chính bệnh viện tại thành phố Hồ chí
Minh, Tăng “vốn” và bảo toàn “trị giá vốn”, trong cuốn Quản lý bệnh viên.
Bộ Y tế. NXB Y học, năm 2001, đã phân tích các đặc điểm của tài chính bệnh
viện, phân tích đầu vào , đầu ra tài chính bệnh viện các quy định, quy trình chi
Bệnh viện Xây dựng Việt trì.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý tài chính tại
Bệnh viện Xây dựng Việt trì.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu công tác quản lý tài chính
tại Bệnh viện Xây dựng Việt trì.
- : Tài liệu, số liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu
công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Xây dựng Việt trì trong giai đoạn
2009 - 2012.
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý tài chính tại
Bệnh viện Xây dựng Việt trì.
5. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu bổ ích đối với Bệnh viện
Xây dựng Việt trì, các Bệnh viện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính tại đơn vị và các đối tượng
khác có quan tâm.
6. Những đóng góp chủ yếu của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý tài chính tại
các bệnh viện trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Phân tích kinh nghiệm từ các bệnh viện ở Thành phố để cung
cấp thêm cơ sở thực tiễn của lý thuyết quản lý tài chính bệnh viện nói chung.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4
- Phân tích thực trạng về quản lý tài chính ở Bệnh viện
hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong
quản lý tài chính đối với bệnh viện.
cơ sở cho khám và điều trị bệnh nhân sớm nhất thế giới được xây dựng tại
Srilanca năm 137 trước công nguyên dưới quyền quản lý nhà nước phong
kiến thời vua Konig Dootoogamen. Đến thế kỷ thứ VIII một bệnh viện đầu
tiên ở châu Âu đã xuất hiện ở thủ đô Rome ( Italia) gọi là Saintsito. Những
thế kỷ tiếp theo nhiều bệnh viện đã được các nhà nước phong kiến xây dựng ở
khắp châu Âu và chỉ mươi thế kỷ gần đây hình thức điều tri bệnh nhân nội trú
tại bệnh viện mới phát triển sang Đông Á. [17]
Theo danh từ tiếng anh “Hospital” có nghĩa là tổ chức từ thiện, ngày
nay được chính thức dịch sang các thứ tiếng là “bệnh viện”. Trong tiếng việt
những cơ sở từ thiện được gọi là “ nhà tế bần” hay “nhà thương”. Nhiều tài
liệu cho biết các nhà tế bần chủ yếu do các bà xơ tại các nhà thờ thiên chúa
giáo tự đứng ra tổ chức để cứu chữa cho các người bệnh mà đại đa số họ là
những người nghèo. [17]
Ở nước ta, tổ chức chữa bệnh đã có từ lâu. Đời nhà lý (1010-1224) đã
tổ chức Ty Thái Y chăm lo sức khoẻ cho nhà vua và quan lại.Nguyễn Bá
Tĩnh, hiệu là Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV đã xây dựng 24 ngôi chùa, trong đó có
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6
chùa Hải Triều ở Cẩm Giàng (Hải Dương) là những cơ sở chữa bệnh làm
phúc sớm nhất ở nước ta. Cuối thế kỷ XVII có một linh mục người Pháp là
Langlois được triều đình Huế cấp đất xây dựng bệnh viện. Có thể nói đây là
bệnh viện đầu tiên ở nước ta và cũng từ đây xuất hiện hai hình thức điều trị:
Nội trú và ngoại trú. Đầu thời kỳ pháp thuộc (năm 1863) Chính phủ Pháp đã
xây dựng bệnh viện Grall (nay là bệnh viện Nhi Đồng I Thành phố Hồ Chí
Minh), bệnh viện Đồn Thuỷ (Lanessan) vào năm 1893 dành cho quân đội và
công chức Pháp (hiện nay là viện Quân y 108 và bệnh viện Hữu nghị). Sau đó
năm 1906 Pháp cho xây dựng nhà thương bảo hộ (nay là bệnh viện Việt Đức).
Sau cách mạng tháng tám năm 1945 và đặc biệt sau ngày giải phóng hoàn
tế và quản lý kinh tế trong bệnh viện. [6]
Thứ nhất, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc điều dưỡng và
phục hồi chức năng. Nhiệm vụ này là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của
bệnh viện. Muốn thực hiện nhiệm vụ này bệnh viện cần phải có đội ngũ thầy
thuốc lâm sàng giỏi, có tổ chức chặt chẽ, có trang thiết bị và thuốc đảm bảo
cho nhu cầu khám chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng. Mục tiêu
của nhiệm vụ này và là khám và chuẩn đoán đúng bệnh sớm, điều trị đúng,
kịp thời, chăm sóc điều dưỡng phù hợp tránh được các tai nạn điều trị, phục
hồi chức năng nhanh, trả bệnh nhân về với cuộc sống lao động, sản xuất và
sinh hoạt bình thường càng sớm càng tốt.
Có hai loại hình thức khám và điều trị:
Khám và điều trị nội trú trong bệnh viện thì bệnh nhân bắt buộc phải
nằm nội trú bệnh viện trong suốt thời gian điều trị nội trú và được theo dõi
24/24 giờ.
Khám và điều trị ngoại trú thì bệnh nhân chỉ đến khám theo sự chỉ dẫn
của thầy thuốc hoặc bản thân bệnh nhân thấy cần, không nhất thiết phải nằm
viện theo dõi trong thời gian điều trị.
Ngày nay công tác khám và điều trị ngoại trú bệnh viện ngày càng
được chú trọng và phát triển bởi vì nhờ đó mà bệnh viện có thể phát hiện sớm
bệnh qua các đợt khám sàng tuyển và mang lại lợi ích kinh tế cao cho bệnh
nhân do điều trị sớm hoặc không cần nằm trong viện để điều trị.Thông qua
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
8
nhiệm vụ khám và điều trị, bệnh viện tiến tới quản lý được bệnh tật trong khu
dân cư do bệnh viện phụ trách.
Ngoài ra bệnh viện còn thực hiện giám định tình trạng sức khoẻ, tiêu
chuẩn mất sức lao động, về hưu cho nhân dân.
Thứ hai, phòng bệnh. Đây là quan điểm trong phân biệt bệnh viện
mùa, vùng địa lý, dân tộc, tôn giáo, kinh tế, văn hoá…
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật hay phương pháp mới, các thuốc mới
phục vụ cho nhiệm vụ của bệnh viện; Phát huy sáng kiến cải tiến hay các phát
minh mới có.
Thứ năm, chỉ đạo tuyến dưới. Nhiệm vụ này thể hiện quan điểm rất
mới về bệnh viện vì thông qua nhiệm vụ này bệnh viện thể hiện rõ chức năng
trong chỉ đạo, quản lý công tác dự phòng tại địa phương do bệnh viện phụ
trách. Nội dung chỉ đạo cụ thể là:
Đào tạo cán bộ về các chuyên khoa lâm sàng;
Cố vấn, hỗ trợ, chuyên gia hoặc giúp tuyến dưới về công nghệ, cơ sở
vật chất;
Đặc biệt chỉ đạo tuyến dưới thực hiện các nội dung chăm sóc sức khoẻ
ban đầu. Nếu bệnh viện chỉ đạo tốt tuyến dưới thì bệnh viện có điều kiện đi
sâu vào các mũi nhọn khoa học kỹ thuật mà bệnh viện quan tâm.
Thứ sáu, quản ký kinh tế. Nhiệm vu quản lý kinh tế là nhiệm vụ hết
sức nặng nề do bệnh viện có cơ sở vật chất lớn. Thêm vào nữa, ngày nay ở
nước ta bệnh viện chuyển hướng từ cơ chế bao cấp sang cơ chế hạch toán.
Theo các chủ trương của chính phủ, bệnh viện tự chủ về tài chính nên nhiệm
vụ quản lý kinh tế của bệnh viện là rất nặng nề. Nhiệm vụ quản lý kinh tế
trong bệnh viện thể hiện cụ thể ở những mặt sau đây:
Quản lý cơ sở trang thiết bị như quản lý đất đai, nhà cửa, máy móc, xe
cộ và những dụng cụ, hoá chất. Tất cả điều phải có sổ sách theo dõi. Đối với
máy móc phải có lý lịch máy. Mọi tài sản vật chất đều có quy định sử dụng
riêng, bảo dưỡng và duy trì riêng. Cần lập kế hoạch mua, sắm, thay thế và bảo
dưỡng các thiết bị, máy móc. Hiện đại hoá dần các thiết bị bệnh viện.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
Quản lý tài chính. Đây là khâu quan trọng và khó khăn nhất đối với bệnh
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
11
Trước đây bệnh viện chỉ được coi là một cơ sở khám và điều trị bệnh
nhân đơn thuần. Bước sang thế kỷ XX, cách mạng kỹ thuật trên thế giới đã
phát triển như vũ bão và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, tác động sâu sắc làm
thay đổi quan niệm về bệnh viện. Bệnh viện không chỉ đơn thuần làm công tác
khám và điều trị mà còn thực hiện những chức năng khác trong chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ nhân dân như giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh,
chăm sóc sức khoẻ tại nhà, và đồng thời còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và
tiến hành các nghiên cứu y học về khám chữa bệnh và phòng bệnh. [17]
Ở nước ta, đến năm 2009, ở nước ta có hơn 900 bệnh viện, các cơ sở
khám chữa bệnh đã khám khoảng 155.680.300 lượt người, điều trị nội trú
khoảng 7.075.300 lượt người bệnh. Nhờ đội ngũ cán bộ và trang thiết bị tốt,
bệnh viện còn là cơ sở nghiên cứu y học và đào tạo cán bộ y tế cho Ngành Y
tế. [10]
1.1.2. Quản lý tài chính bệnh viện: khái niệm, bản chất và nguyên tắc
1.1.2.1. Khái niệm về tài chính
Tài chính là một hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình
phân phối và sử dụng dưới hình thức giá trị nguồn của cải vật chất xã hội,
thông qua đó các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình thành và
sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu về tái sản xuất và thoả mãn nhu cầu đời
sống của các cá nhân và cộng đồng.
Với ý nghĩa đó, tài chính bệnh viện là hệ thống các quan hệ phân phối
và sử dụng dưới hình thức tiền tệ nguồn của cải vật chất của xã hội, thông
qua đó hình thành các quỹ tập trung và không tập trung nhằm đảm bảo cho
bệnh viện thực hiện được các chức năng nhiệm vụ của mình. [16]
Về cơ bản, tài chính bệnh viện là tài chính của đơn vị cơ sở, một bộ
phận của hệ thống tài chính quốc gia hoạt động trong lĩnh vực y tế. Nó phản
ánh mối quan hệ giữa 4 chủ thể cơ bản trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
Trong hoạt động tài chính, 4 bộ phận cơ bản này quan hệ với nhau một
cách chặt chẽ.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
1.1.2.2. Quản lý tài chính bệnh viện
Quản lý tài chính bệnh viện là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh
tế bệnh viện và là khâu quản lý mang tính tổng hợp. Quản lý tài chính bệnh
viện được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý
thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
nhân dân theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định. Việc quản lý,
sử dụng nguồn tài chính bệnh viện có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế
xã hội do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa
các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài
chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính.
Là chủ thể quản lý, Nhà nước có thể quản lý hoạt động tài chính của
các đơn vị sự nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục
tiêu nhất định. Để đạt được những mục tiêu đề ra, công tác quản lý tài chính
đơn vị sự nghiệp bao gồm ba khâu công việc: Thứ nhất,.
Quản lý tài chính bệnh viện là sử dụng tổng thể các phương pháp, các
hình thức và công cụ để xây dựng dự toán thu, chi tài chính, tổ chức chấp
hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ, chính sách của Nhà
nước và thực hiện quyết toán thu, chi ngân sách của bệnh viện. [16]
Như vậy, về thực chất, đó là hoạt động nhằm quản lý và sử dụng toàn
bộ các nguồn vốn (vốn do Chính phủ cấp, vốn viện trợ, vốn vay và các nguồn
vốn khác ), tài sản, vật tư của đơn vị để phục vụ hoạt động bệnh viện (công
tác phòng bệnh, khám chữa bệnh, chăm sóc y tế ban đầu, nghiên cứu khoa
học,tuyên truyền, huấn luyện…)
Quản lý tài chính bệnh viện với phương châm là sử dụng các nguồn lực
hiệu quả về mặt xã hội (đem lại lợi ích cho xã hội ).
Thứ tư, đảm bảo tính công bằng. Quản lý tài chính cũng là làm thế nào
cho đồng tiền sử dụng vừa có hiệu quả, vừa công băng. Vậy thế nào là công
bằng trong phân bổ tài chính? Các tiêu chí sau đây giúp chúng ta hiểu cụ thể
hơn về quản lý tài chính một cách công bằng.
Trả phí dịch vụ y tế được gọi là công bằng là mức trả phí cho cùng một
dịch vụ tỷ lệ thuận theo mức thu nhập. Người giàu phải đóng góp (trả phí)
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
nhiều hơn và ngược lại, người nghèo phải đóng góp ít hơn. Như vậy sẽ không
công bằng khi: Người giàu và nghèo phải chi phí cho cùng một dịch vụ như
nhau. Vùng giàu và nghèo (huyện) trong một địa phương (tỉnh) cùng có
chung một mức phân bổ ngân sách hoặc mức ưu tiên cho đầu người không
khác nhau.
Hiện nay các bệnh viện chưa có cơ chế thu phí rõ ràng và chưa có cơ sở
pháp lý để thu thấp hơn đối với các bệnh nhân nghèo. Người nghèo thường trả
phí thấp hơn do hạn chế xét nghiệm và dịch vụ cũng như dùng thuốc nội,
thuốc rẻ tiền hơn so với những người có khả năng chi trả cao. Điều này thực
chất là mất công bằng.
Nguồn lực, đặc biệt là nguồn tài chính của cơ sở y tế công luôn hạn
chế, cần phân bổ hợp lý chi tiêu để đảm bảo các hoạt động chăm sóc sức khoẻ
đều có khoản kinh phí nhất định thích hợp duy trì hoạt động đó một cách hiệu
quả và đảm bảo sự công bằng.
1.1.2.3. Nội dung quản lý tài chính bệnh viện
Thứ nhất: Xây dựng dự toán thu chi
Dự toán thu chi của bệnh viện là bản kế hoạch dự kiến các khoản thu
và các khoản thu chi tiêu tài chính của bệnh viện trong một năm.
Về thực chất, lập dự toán thu chi của bệnh viện là thông qua các nghiệp
Về tính thời gian: dự toán của năm phải hoàn thành trước một quý, của
một quý phải trước một tháng.
Về tính toàn diện: đòi hỏi tất cả các cá nhân, các khoa, phòng, các bộ
phận nhỏ trong đơn vị xây dựng lên để đơn vị tổng hợp thành nhu cầu của
đơn vị.
Về tính chính xác: cần có những dự toán xuất phát từ những yêu cầu cụ
thể của từng việc cụ thể của từng việc làm.
Việc xây dựng dự toán thu chi của bệnh viện phải dựa trên các căn cứ
thực tế và đảm bảo tính toàn diện. Các căn cứ chủ yếu là phương hướng
nhiệm vụ của đơn vị; Chỉ tiêu kế hoạch có thể thực hiện được; Kinh nghiệm