BÀN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN
ĐẶNG VŨ HUÂN
ThS. Bộ Tư pháp
MỞ ĐẦU
Quản lý Nhà nước được hiểu là sự tác động và
điều chỉnh mang tính quyền lực Nhà nước đối với các
quá trình, quan hệ xã hội, hành vi hoạt động của con
người do các cơ quan Nhà nước tiến hành để thực
hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội. Sự
tác động mang tính quyền lực Nhà nước là sự tác
động bằng pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế,
qua đó Nhà nước thể hiện quyền lực của mình đối với
mọi hoạt động trong xã hội.
Công tác thi hành án nói chung (bao gồm thi hành án
hình sự, thi hành án dân sự, kinh tế, lao động, hành
chính…) vừa là công tác chuyên môn, nghiệp vụ, vừa
thể hiện quyền lực Nhà nước, xuất phát từ nguyên tắc
Hiến định: “Các bản án và quyết định của Tòa án
nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ
quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các
đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng,
những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh
chấp hành” (Điều 136 Hiến pháp năm 1992).
Để một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án phát sinh hiệu lực trên thực tế, cần
phải có sự chấp hành, phối hợp chấp hành, phối hợp
tác động của nhiều chủ thể. Tuy nhiên sự tác động,
điều chỉnh, hướng dẫn hành vi của các chủ thể này
theo cách nào đó nhằm hướng tới mục đích để phán
quyết của Tòa án thể hiện hiệu lực trên thực tế chính
của Quốc hội - thống nhất quản lý Nhà nước về công
tác thi hành án.
Ở lĩnh vực thi hành án hình sự, tại điểm 12, Điều 8 –
Nghị định số 37/1998/NĐ-CP có quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an, Chính phủ đã
giao cho Bộ Công an thực hiện công tác quản lý Nhà
nước về thi hành án hình sự.
Ở lĩnh vực thi hành án dân sự, khoản 1, Điều 10 Pháp
lệnh Thi hành án dân sự có quy định: “… Bộ Tư pháp
giúp Chính phủ quản lý Nhà nước về công tác thi
hành án dân sự và tổ chức việc thi hành án dân sự”.
Ở các lĩnh vực thi hành án kinh tế, lao động, Pháp
lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (Điều 88)
và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao
động (Điều 104) đều quy định việc thi hành các bản
án, quyết định của Tòa án về vụ án kinh tế; vụ án lao
động và việc giải quyết cuộc đình công được thi hành
theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự.
Ở lĩnh vực thi hành án hành chính, Điều 74, khoản 1
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
cũng quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý Nhà
nước về công tác thi hành án hành chính trong phạm
vi cả nước…”.
Như vậy, về nguyên tắc, Chính phủ thực hiện thống
nhất quản lý Nhà nước đối với công tác thi hành án,
song việc tổ chức thực hiện ở mỗi loại hình thi hành
án có những điểm đặc thù khác nhau, điều này chi
phối rất nhiều hiệu quả của công tác quản lý Nhà
nước. Như phần đầu đã từng đề cập, việc thi hành
bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
án và trực tiếp thực hiện quản lý mọi hoạt động liên
quan đến công tác thi hành án. Quyết định thi hành
án chỉ phụ thuộc vào tính tất yếu, có căn cứ và thời
hiệu của bản án và quyết định đã có hiệu lực của Tòa
án. Điều này bảo đảm được tính khách quan, kịp thời,
nghiêm minh của pháp luật, bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành
đúng thời hạn và phát huy hiệu quả, qua đó, công tác
quản lý Nhà nước đối với thi hành án cũng sâu sát,
nắm chắc được tiến độ và giải quyết kịp thời những
vấn đề phát sinh.
Ở nước ta, việc tổ chức quản lý cơ quan thi hành án
có những điểm đặc thù. Trong phạm vi bài viết này,
chúng tôi đề cập những nét đặc thù cơ bản của hai
lĩnh vực thi hành án chủ yếu là Hình sự và Dân sự
đưa đến đặc thù trong quản lý Nhà nước với hai lĩnh
vực này.
1. Đối với thi hành án hình sự
Thi hành án hình sự bao gồm: thi hành án tử hình, thi
hành án phạt tù và thi hành án các loại hình phạt
khác. Về nguyên tắc, Chính phủ quản lý thống nhất
đối với công tác thi hành án hình sự (và Chính phủ
giao cho Bộ Công an). Trong lĩnh vực thi hành án
phạt tù, Chính phủ giao cho Bộ Công an và Bộ Quốc
phòng giúp Chính phủ thực hiện quản lý và tổ chức
công tác thi hành án phạt tù. Cơ quan Nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân, gia đình người bị kết án tù và công dân có trách
nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án trong công
tác thi hành án…
chấp hành hình phạt thuộc thẩm quyền của Chánh án
Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc được ủy quyền….
Xét về mặt hình thức, việc phân công nói trên là rành
mạch, khoa học, đảm bảo cho việc thi hành án hình
sự có nhiều cơ quan, tổ chức tham gia và phối hợp
thực hiện, đảm bảo tính khách quan, dân chủ, có điều
kiện để kiểm tra, giám sát… Nhưng thực tế, nó đang
bộc lộ tính chất phân tán, xé lẻ, chia cắt, không tập
trung quyền lực, thiếu đồng bộ và có ảnh hưởng rất
lớn đến chất lượng và hiệu quả công tác thi hành án
hình sự. Đặc biệt, chính cơ chế tổ chức thi hành án
đang làm giảm hiệu lực của quản lý Nhà nước về thi
hành án. Do sự phân chia việc thi hành các loại hình
phạt cho nhiều cơ quan đảm nhận nên không thể đảm
bảo sự phối hợp giữa các cơ quan này luôn đồng bộ
trong khâu quản lý, việc giám sát cũng khó thực hiện
do nhiều đầu mối, không có cơ quan chịu trách nhiệm
thống kê tổng thể. Hơn nữa, Tòa án không phải là cơ
quan quản lý Nhà nước về thi hành án hình sự, không
phải cơ quan tổ chức thi hành án, nhưng lại nắm giữ
những khâu then chốt quyết định hiệu quả của quản
lý Nhà nước về thi hành án. Tòa án phải làm thêm
các công việc hành chính – tư pháp trong khi đó rất
bận rộn trong việc xét xử. Lẽ ra, nếu giao những công
việc này cho cơ quan thi hành án đảm nhiệm rất có
thể sẽ đạt hiệu quả và tạo thế chủ động hơn nhiều.
Một thực trạng trong quản lý Nhà nước đối với công
tác thi hành án hình sự hiện nay cần quan tâm là công
tác thi hành án các hình phạt khác không phải hình
phạt tù, không có cơ chế giám sát, theo dõi và tổng
ra các quyết định miễn giảm, xóa án… được chính
xác.
Hiệu quả của quản lý Nhà nước có thể đạt được từ
quản lý vĩ mô và quản lý trực tiếp. Song nếu thực
hiện đồng bộ và có sự bổ sung, quan hệ trực tiếp với
nhau thì hiệu quả của quản lý sẽ đạt cao hơn nhiều.
Với thực trạng hiện hành, chắc chắn không thể tránh
khỏi những sơ hở, vi phạm về tính thời hiệu của việc
thi hành bản án và những hậu quả tiêu cực khác dẫn
đến làm giảm sút niềm tin, giảm sút tính nghiêm
minh của pháp luật. Vì vậy, cần phải đổi mới, tổ chức
lại cách phân công thi hành án, giao cho một cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền quản lý tập trung, thống
nhất, chỉ đạo hướng dẫn tổng kết kinh nghiệm một
cách thường xuyên kịp thời. Có như vậy mới có thể
làm tăng hiệu quả quản lý Nhà nước đối với công tác
này và qua đó đảm bảo được tính nghiêm minh của
pháp luật, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể
hiện quyền lực Nhà nước.
2. Đối với thi hành án dân sự
Hiện nay, việc thi hành án kinh tế, lao động và các
quyết định về phần tài sản, quyền tài sản trong các
bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính
được thi hành theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự.
Bên cạnh đó, ngoài việc thi hành các bản án, quyết
định của vụ án dân sự đã có hiệu lực pháp luật, cơ
quan thi hành án dân sự còn thi hành cả án phạt tiền,
tịch thu tài sản, bồi thường thiệt hại (phần dân sự
trong bản án, quyết định của vụ án hình sự đã có hiệu
lực pháp luật). Với khối lượng công việc trên, nhiệm
quyết định can thiệp vào công việc chuyên môn thi
hành án của cấp Phòng và cấp Đội. Việc ra quyết
định tạm hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ việc thi hành án
dân sự thuộc thẩm quyền của cơ quan tố tụng. Như
phần đầu đã trình bày, hiệu quả của quản lý Nhà
nước về thi hành án phụ thuộc và có mối quan hệ trực
tiếp đến hiệu quả của việc tổ chức thi hành án. Với
quy định của pháp luật hiện hành thì thẩm quyền của
cơ quan thi hành án cấp Trung ương không tác động
trực tiếp đến cơ quan thi hành án địa phương về chỉ
đạo nghiệp vụ. Trên thực tế, các công văn chỉ đạo
nghiệp vụ của cấp trên xuống cấp dưới ít phát huy
hiệu quả trực tiếp.
Trong khi đó, bản thân hệ thống cơ quan quản lý về
thi hành án cũng không được tổ chức theo ngành dọc.
Do cơ cấu, tổ chức của ngành tư pháp không theo
nguyên tắc tập trung thống nhất có tính ngành dọc
nên việc quản lý công tác thi hành án ở các địa
phương gặp nhiều bất cập, khó khăn. Mặc dù các cơ
quan tư pháp địa phương được giao nhiệm vụ thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác thi
hành án, song cả Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp là bộ
phận có biên chế trực thuộc Ủy ban nhân dân cùng
cấp, hưởng lương từ ngân sách địa phương, không
chịu sự chi phối, quản lý trực tiếp của Bộ, Ngành
trung ương (có chăng là chịu sự quản lý vĩ mô).
Trong khi đó, những cơ quan thi hành án là đối tượng
quản lý của nó thì lại trực thuộc Bộ, Ngành trung
ương.
Chủ thể quản lý ở địa phương không quản lý về
phạm vi quản lý lại không rõ ràng. Bản thân các cơ
quan quản lý được tổ chức thiếu thống nhất, thiếu sự
phối hợp nên không có khả năng kết dính để thúc đẩy
và tạo điều kiện cho các cơ quan thi hành án tổ chức
hoạt động có hiệu quả, đôi khi còn can thiệp chỉ đạo
bất hợp lý vào công tác nghiệp vụ của cơ quan
chuyên môn.
Để hoạt động thi hành án dân sự đạt hiệu quả, cần
thiết phải quan tâm đến hoạt động đặc thù mang tính
chính trị – xã hội rộng lớn của nó để xây dựng cơ chế
quản lý phù hợp. Công tác quản lý thi hành án nói
chung và thi hành án dân sự nói riêng cần tập trung
thống nhất về một đầu mối, giao cho một cơ quan
Nhà nước đảm nhận, có thẩm quyền quản lý tập
trung, thống nhất, chỉ đạo hướng dẫn, chi phối và
phải chịu trách nhiệm về mọi vấn đề liên quan đến
công tác thi hành án. Bên cạnh đó, cần quy định cơ
chế phối hợp, phát huy sức mạnh của toàn xã hội
trong việc thực hiện công tác thi hành án. Suy cho
cùng, nếu hiệu quả pháp luật là kết quả đạt được trên
thực tế do sự tác động của pháp luật mang lại thì hiệu
quả của công tác thi hành án chính là kết quả hiện
hữu đã đạt được trên thực tế do sự tác động của pháp
luật. Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của
Tòa án mới chỉ là kết quả trên giấy tờ. Chỉ khi nào
phán quyết đó (bằng sự tác động của pháp luật) phát
huy hiệu lực trên thực tế mới đảm bảo được tính
nghiêm minh và hiệu quả của pháp luật, thể hiện
được quyền lực của Nhà nước đối với xã hội.