BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI – HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN
Đề 4: “Dự án POLANO nhằm bảo vệ cửa sông Hà Lan khỏi bị
ngập lụt. Các bài học rút ra trong Quản lý và điều hành dự án”
Giảng viên HD: PGS.TS Phó Đức Anh
Nhóm học viên thực hiện:
1. Đinh Thị Sen
2. Kiều Văn Sơn
3. Phạm Ngọc Sơn
4. Nguyễn Phương Thắng
5. Phạm Văn Thắng
6. Phùng Đức Thắng
7. Nguyễn Hoàng Thanh
8. Nguyễn Thị Thanh
9. Nguyễn Vũ Thanh
10. Hà Xuân Thành
Hà Nội, tháng 09 năm 2012
Tiểu luận: Phân tích và tối ưu hóa hệ thống GVHD: PGS.TS Phó Đức Anh
PHẦN I: DỰ ÁN POLANO NHẰM BẢO VỆ CỬA SÔNG HÀ LAN KHỎI BỊ
NGẬP LỤT
Hà Lan nằm ở phía Tây châu Âu. Phía Đông của vùng đất thấp giáp với Đức, phía
Nam giáp với Bỉ, phía Tây và Bắc giáp Biển Bắc. Ở Hà Lan có thể thấy nước ở khắp nơi:
sông, hồ, kênh, rạch. Hơn 16 triệu người dân xứ sở hoa tulip chỉ sống trong phần diện
tích nhỏ bé của tổng số 41.000 km2. Hà Lan nổi tiếng với hoa tuy-líp, những chiếc cối
xay gió cùng những công trình đê biển xuyên thế kỷ. Hầu hết đất liền của vương quốc Hà
Lan đều nằm ngang hoặc thấp hơn mực nước biển. Hơn một phần tư diện tích của Hà Lan
ở dưới mực nước biển (chiếm 27% diện tích của cả nước). Ðiểm thấp nhất khoảng âm
6,74 m là ở Niu-véc-ke đen I-xen, một thị trấn nhỏ thuộc Đông-Bắc thành phố
Rotterdam, đồng thời cũng là điểm thấp nhất ở châu Âu. Nếu không có các cồn cát và đê,
mở là đập cho phép lưu thông với các cửa lớn có thể đóng lại khi có bão lớn. Trong điều
kiện bình thường các cổng sẽ mở để cho phép một lượng thủy triều hạn chế đi qua vào
vịnh, khối lượng thủy triều được quản lý bởi độ mở của các cửa đập. Dự án tính toán rằng
đập chắn mở phải được hoàn thành vào khoảng năm 1985 và có khả năng bảo vệ khỏi
bão mạnh đến mức chỉ xảy ra 1 lần trong 4000 năm.
Vẫn còn một số người sợ rằng đập chắn mở với thủy triều hạn chế của nó vẫn có
thể phá hoại nghiêm trọng ngành thủy sản và môi trường sinh thái. Họ đề xuất một
phương án khác: Cứ để cửa sông Oosterschelde mở nhằm duy trì thủy triều như ban đầu
và xây dựng một hệ thống đê lớn bao quanh vành đai cửa sông.
Như vậy có ba giải pháp chính phải xem xét để bảo vệ miền Tây Nam của Hà Lan
khỏi ngập lụt của Biển Bắc:
- Xây đập chắn đóng,
- Xây đập chắn mở,
- Để mở cửa sông và xây hệ thống đê bao quanh vành đai cửa sông.
Mỗi giải pháp liên quan đến một số các phương án: ví dụ độ mở trong giải pháp
xây đập chắn mở. Các hậu quả (các tác động) có thể của mỗi phương án lên môi trường
của Oosterschelde nói riêng và của Hà Lan nói chung cần được đánh giá. Các hậu quả
này là rất nhiều. Chúng bao gồm:
- Độ an toàn về con người và tài sản khỏi bão lụt;
- Chi phí tài chính của nhà nước để xây dựng và vận hành các công trình;
- Thay đổi trong số loại và số lượng các chủng loài tạo thành môi trường sinh thái
của vùng;
- Tác động đến kinh tế và việc làm (cả tác động trực tiếp lẫn gián tiếp);
Nhóm học viên thực hiện: Lớp 20QLXD11 Trang 2
Tiểu luận: Phân tích và tối ưu hóa hệ thống GVHD: PGS.TS Phó Đức Anh
- Số lượng và chất lượng nước;
- Các tác động xã hội khác nhau.
Sàng lọc các phương án: Mỗi giải pháp để bảo vệ vùng Oosterschelde có nhiều
phương án; ví dụ trong giải pháp xây đập chắn mở, có thể có một số loại đập chắn mở
khác nhau, và đối với mỗi loại lại có thể có các độ mở khác nhau. Số các phương án có
một vùng rộng lớn ở phía Tây Nam của đất nước Hà Lan, vì vậy từ lúc hình thành và
trong quá trình triển khai thực hiện nó được nghiên cứu kỹ lưỡng, áp dụng những tiến bộ
của khoa học kỹ thuật để đưa ra phương án tối ưu nhất và đây là yếu tố vô cùng quan
trọng có ảnh hưởng đến kết quả và sự thành công của dự án. Một trong những thành công
của dự án là đảm bảo mục tiêu đề ra là bảo vệ vùng cửa sông Oosterschelde khỏi bị ngập
lụt nhưng không làm thay đổi nhiều về môi trường sinh thái khu vực dự án.
Nhóm học viên thực hiện: Lớp 20QLXD11 Trang 4
Tiểu luận: Phân tích và tối ưu hóa hệ thống GVHD: PGS.TS Phó Đức Anh
PHẦN II: CÁC BÀI HỌC RÚT RA TRONG QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH DỰ ÁN
2.1. Liên hệ với các dự án chống ngập lớn ở Việt Nam: Dự án tăng cường Quản lý
Thủy lợi và cải tạo các Hệ thống Thủy nông - Hệ thống Thủy lợi Bắc Hưng Hải
(BHH):
2.1.1.Tổng quát
Hệ thống thủy lợi BHH nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng. Đây là một hệ
thống thủy lợi lâu đời nhất, lớn nhất và quan trọng nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng.
Hệ thống thủy lợi BHH bao gồm toàn bộ hoặc một phần của bốn tỉnh, gồm hai quận
Đông Nam Hà Nội, toàn bộ tỉnh Hưng Yên, 7 huyện thuộc tỉnh Hải Dương và 3 huyện
tỉnh Bắc Ninh. Tổng diện tích tự nhiên trong đê là 192.045 ha, trong đó 142.479 ha sử
dụng cho mục đích nông nghiệp. Tổng dân số trong vùng khoảng 2,8 triệu người, trong
đó khoảng 2,2 triệu người làm nghề nông. Trong giai đoạn 2000 - 2005, các nhà đầu tư
trong nước và nước ngoài đã xây dựng nhiều khu công nghiệp trong vùng. Do vậy, diện
tích đất công nghiệp trong vùng dự án tăng 104,4% (từ 1.314 ha vào năm 2000 tăng lên
2.686 ha vào 2004). Trong những năm gần đây, nhiều khu công nghiệp cũng như các khu
định cư độ thị đã mọc lên trong vùng BHH. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa
đang gia tăng nhanh chóng sẽ làm giảm diện tích đất nông nghiệp.
BHH được chia thành 10 tiểu vùng: Gia Lâm, Gia Thuận Châu Giang, Bắc Kim
Sơn, Cẩm Giàng-thành phố Hải Dương, Ân Thi, Bình Giang - Bắc Thanh Miện, Tứ Lộc
(Gia Lộc - Tứ Kỳ), Tây Nam Cửu An, Đông Nam Cửu An. Vị trí và thông tin chung của
10 khu vực này được thể hiện trong Hình 1 và Bảng 1. Tổng diện tích khống chế nằm
trong hệ thống đê chính có xu hướng dốc xuống theo hướng Tây Nam - Đông Nam.
23.295 3 – 3,5 20.132 3.163 15.682 12.442 327.857
Bắc Kim
Sơn
18.925 1,5 - 2 18.925 0 12.399 11.339 229.020
Cẩm Giàng
– thành
phố Hải
Dương
11.977 1 – 1,5 10.886 1.091 6.428 4.976 206.996
Ân Thi 15.868 1,5 - 2 15.868 0 11.683 11.338 163.666
Bình
Giang –
Bắc Thanh
Miện
24.285 2 – 2,5 24.285 0 16.989 14.982 247.679
Gia Lộc –
Từ Kỳ
25.262 1 – 2,0 21.321 3.941 17.212 14.258 293.138
Nhóm học viên thực hiện: Lớp 20QLXD11 Trang 6
Tiểu luận: Phân tích và tối ưu hóa hệ thống GVHD: PGS.TS Phó Đức Anh
Tiểu vùng Tổng
diện
tích
Cao
độ
Diện
tích
trong
đê
Diện tích
Tiểu luận: Phân tích và tối ưu hóa hệ thống GVHD: PGS.TS Phó Đức Anh
Hệ thống BHH được bao bọc bởi hệ thống đê sông chính và địa hình có độc dốc
theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Các khu vực với các hướng tiêu và loại công trình tiêu
điển hình được thể hiện trong Hình 2.
Hình 2: Bản đồ phân vùng tiêu Hệ thống BHH
Trong đó:
Vùng 1 Nước được tiêu trực tiếp ra các sông ngoài hệ thống BHH. Tổng diện
tích khoảng 56.824 ha.
Vùng 2 Nước được tiêu thoát ra hệ thống sông chính. Thông qua hệ thống
sông này, dòng chảy chảy về cống Cầu Xe và An Thổ rồi từ đó lần
lượt chảy ra sông Thái Bình và sông Luộc.
Trong vùng này, có hai tiểu vùng. Tiểu vùng thứ nhất (Tiểu vùng 2a),
nước được tiêu tự chảy vào hệ thống sông nội vùng. Trong tiểu vùng
còn lại (tiểu vùng 2b) nước được tiêu vài ra hệ thống sông chính nội
vùng bằng các trạm bơm.
2.1.2. Các phương án đề xuất:
Nhóm học viên thực hiện: Lớp 20QLXD11 Trang 8
Tiểu luận: Phân tích và tối ưu hóa hệ thống GVHD: PGS.TS Phó Đức Anh
Nghiên cứu của viện quy hoạch thủy lợi cho thấy tổng yêu cầu về nguồn vốn đầu tư
để nâng cấp hệ thống thủy lợi BHH khoảng 422 triệu đô. Tư vấn đã đề xuất phương pháp
hai bước để đưa ra các phương án quan trọng, tuy nhiên có thể phụ thuộc vào kết quả
phân tích khả thi của các phương án này.
Bước đầu tiên: là phải giảm chi phí đầu tư từ 422 triệu đô xuống còn 100 triệu đô
theo phạm vi ngân sách của dự án đề xuất. Trong báo cáo đầu tư định kỳ, tư vấn đã đề
xuất các tiêu chí áp dụng trong nghiên cứu để đưa ra được các biện pháp công trình sau.
• Đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng nhằm cải thiện tình hình cấp nước cho
mục nước tưới tiêu đất nông nghiệp và do đó tăng cường sản suất nông nghiệp
và thu nhập, giảm công ăn việc làm ở nông thôn.
• Đầu tư nhằm trực tiếp tăng năng lực tiêu từ khu vực BHH.
• Đầu tư vào giải pháp công trình thiết yếu nhằm tận dụng năng lực tưới tiêu sau
tránh áp dụng các biện pháp công trình lớn như tu sửa lại mặt cắt kênh và nạo vét các
kênh chính, các vấn đề tái định cư và phân bố rủi ro, cho phép phân kỳ giai đoạn thi công
vì vậy phương án này có thể thu được lợi ích sớm.
2.1.4. Phân tích chi phí thấp nhất và phân tích đa tiêu chí:
Hai phương pháp nêu trên có tác động giống nhau về năng lực tưới tiêu và do vậy
phương pháp phân tích dựa theo chi phí thấp nhất sẽ được xác định để xác định hiệu quả
chi phí các phương án. Ngoài ra tư vấn sẽ tiến hành đánh giá sơ bộ tác động xã hội và tái
định cư, tác động môi trường của cả hai phương án. Dựa vào đó tư vấn sẽ tiến hành phân
tích đa tiêu chí trong đó có xem xét các tiêu chí sau:
- Hiệu quả chi phí của các hạng mục đầu tư, hoạt động vận hành và bảo dưỡng.
- Nhu cầu tái định cư và đền bù.
- Mức độ tác động môi trường.
- Năng lực quản lý.
- Thời gian thực hiện và mức độ phức tạp.
- Thứ tự yêu tiên của các hạng mục tổng các kế hoạch hiện đại hóa hệ thống thủy
lợi BHH
- Tỉ lệ đóng góp vốn (chính quyền địa phương, nhóm người sử dụng, công ty khai
thác công trình thủy lợi).
2.1.4.1. Phân tích kinh tế và tài chính:
Những lợi ích của dự án được xem xét trong nghiên cứu gồm:
- Lợi ích nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản của hệ thống tưới tiêu đã được nâng
cấp cải tạo.
- Lợi ích bảo vệ lũ.
Các lợi ích nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản sẽ được xác định theo 10 phân
vùng thủy lợi và được thể hiện trên bản đồ trong hình vẽ dưới đây. Do không có thay đổi
lớn tại các vùng nước, nên dự kiến dự án sẽ không có tác động đánh bắt và nuôi cá lồng.
Giá bán nông sản và giá thu mua nông sản sẽ được quy đổi thành giá xuất và nhập
tại nơi sản xuất dựa trên mức giá hang hóa của ngân hang thế giới đưa ra thời điểm tháng
6 năm 2009.
Nhóm học viên thực hiện: Lớp 20QLXD11 Trang 10
công trình trong hệ thống thủy lợi BHH.
Bảng chi phí: Sẽ được lập theo 3 phần chính của dự án:
- Tăng cường năng lực cho các cơ quan cung cấp dịch vụ liên quan đến nước (cơ sở
mới của trường ĐHTL)
Nhóm học viên thực hiện: Lớp 20QLXD11 Trang 11
Tiểu luận: Phân tích và tối ưu hóa hệ thống GVHD: PGS.TS Phó Đức Anh
- Cải thiện công tác quản lý hệ thống tưới tiêu cuả các công ty QL&KT hệ thống
thủy lợi BHH.
- Xây mới và nâng cấp các công trình tưới tiêu, bảo vệ lũ hiện có trong hệ thống
BHH.
2.1.4.2. Các phân tích xã hội, đói nghèo:
Dự án nâng cấp quản lý nước và khôi phục hệ thống thủy lợi BHH sẽ nâng cao đời
sống người dân và tăng thu nhập cho khoảng 2,7 triệu người trên khắp 4 tỉnh và thành
phố mà họ phụ thuộc vào hệ thống BHH cho sản xuất nông nghiệp, nước sinh hoạt và các
công nghiệp địa phương. Phân tích xã hội sẽ kiểm tra sự phân bố về lợi ích mang lại từ
dự án đối với các vùng khác nhau trong hệ thống. Việc phân tích này sẽ đặc biệt tập trung
vào đảm bảo cho thiết kế dự án tối đa hóa được cơ hội mang lại lợi ích cho nhóm người
nghèo và những người dễ bị thương tổn, tập trung vào giảm thiểu các tác động bất lợi về
mặt xã hội đối với những hộ dân bị mất đất hoặc tài sản do việc xây dựng dự án.
Trong giai đoạn nghiên cứu trước thiết kế, phân tích ban đầu về đói nghèo và xã
hội đã phân loại dự án là một biện pháp can thiệp tổng quát mà trong đó nó hỗ trợ việc
đầu tư công trình để tạo môi trường thuận lợi cho việc tăng trưởng vì người nghèo, nhưng
nó không đặt mục tiêu cho các cá nhân hay các hộ cụ thể. Phân tích xã hội sẽ được tiến
hành tuân theo Sổ tay phân tích Xã hội của ADB (2007). Mục đích như sau:
- Xác định cơ hội, khó khăn, và rủi ro đối với người nghèo và các nhòm không quan
trọng liên quan đến dự án;
- Lập các biện pháp thiết kế để đạt được các kết quả phát triển về xã hội và tránh
hoặc giảm thiểu rủi ro về xã hội trong quá trình thực hiện và;
- Thiết lập thủ tục phỏng vấn với người dân bị ảnh hưởng do ở vùng xây dựng công
trình, thu hồi đất hoặc các thay đổi trong việc xây lắp đường nước hoặc chi phí
Việc xây dựng cống lấy nước đòi hỏi
phải được cấp đất. Mức tác động phụ
thuộc vào vị trí khu đất và những thay
đổi cần thiết để kênh này gắn kết với
cống lấy nước. Tại các vị trí cống lấy
nước này đòi hỏi sự cải tạo các kênh
hiện đang được sử dụng để nuôi trồng
thủy sản hoặc tại các vị trí cống lấy
nước đòi hỏi kênh cần được mở rộng
trong khi trên bờ kênh có nhiều nhà
dân,thì yêu cầu tái định cư lớn.
Việc xây dựng bốn trạm bơm lớn để
tiêu nước trực tiếp bơm tiêu ra sông
hồng và sông Luộc, mở rộng các trạm
bơn tiêu lớn: Mễ sở (23m
3
/s), Nghi
Xuyên (100m3/s), Bảo Châu (35m3/s),
Nam Kẻ sạt (175m3/s).
Đầu tư bổ sung nhằm nâng cấp hiệu quả
công tác vận hành của hệ thống thủy lợi
BHH.
Việc xây dựng các trạm bơm đòi hỏi
một quỷ đất nhỏ. Vấn đề quan trọng là
tác dộng tái định cư sẽ phụ thuộc vào
phạm vi mở rộng các kênh.
Phương án 2
Nhóm học viên thực hiện: Lớp 20QLXD11 Trang 13
Tiểu luận: Phân tích và tối ưu hóa hệ thống GVHD: PGS.TS Phó Đức Anh
Các tiểu dự án Tác động tái định cư
- Một vài kênh như hệ thống kênh gần khu vực đề xuất xây dựng cống lấy nước
Xuân Quang 2 được sử dụng để nuôi trồng thủy sản.
Do đó việc cải tạo các kênh này nhằm nâng cấp hoạt động tưới tiêu sẽ làm mất kế
sinh nhai của phần đông người dân.
Nhóm học viên thực hiện: Lớp 20QLXD11 Trang 14
Tiểu luận: Phân tích và tối ưu hóa hệ thống GVHD: PGS.TS Phó Đức Anh
2.2. Bài học rút kinh nghiệm từ dự án POLANO của Hà Lan:
Hiện nay dự án đang được triển khai với cơ quan chủ quản là Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, Ban quản lý Trung ương các dự án thủy lợi (CPO) thực hiện chức
năng cơ quan điều phối chung toàn dự án
Kết quả 10 trạm bơm đã được phê duyệt cải tạo, sửa chữa, và xây mới bao gồm:
Trạm bơm Phú Mỹ, TB Liên nghĩa, TB Nghi Xuyên, TB Chùa Tổng, TB Kênh Vàng II,
TB Nhất Trai, TB Cổ Ngựa, TB Cầu Dừa, TB Đoàn Thượng, TB My Động. Để quản lý
một dự án lớn như vậy ban CPO huy động rất nhiều tổ chức, cá nhân trong nước, nước
ngoài có trình độ, kinh nghiệm để nghiên cứu lập dự án trình cấp có thẩm quyền phê
duyệt. Quá trình thực hiện có nhiều phương án được đưa ra như: máy bơm chìm, bơm
trục ngang, bơm trục đứng. Bơm nội hay bơm ngoại. Cùng công suất yêu cầu nên chọn
bơm công suất lớn hay nhỏ. Động cơ điện áp bao nhiêu (380V hay 6 KV), số vòng quay
lớn hay nhỏ. Cao độ đáy bể hút, bể xả, cao độ sàn động cơ, bể xả, đê quai, kênh dẫn là
bao nhiêu được cân nhắc rất kỹ lưỡng. Ban CPO thường xuyên tổ chức hội thảo, thăm
quan các công trình đã thi công để rút kinh nghiệm. Nếu nói như trên thì sẽ rất nhiều
phương án được đưa ra. Tuy nhiên các chuyên gia đã tham gia ý kiến để tư vấn tập trung
vào nghiên cứu 2 đến 3 phương án rồi từ đó đưa ra phương án chọn.
Các khó khăn cho lựa chọn phương án thiết kế kỹ thuật – bản vẽ thi công hiện nay
đó là các tiểu dự án vượt tổng mức đầu tư đã được Bộ phê duyệt, lý do chính là giá vật tư
và nhân công tăng cao trong khi tỷ giá trượt không nhiều, các hạng mục chưa cần thiết đã
cắt tối đa không thể giảm được hơn nữa. Trong khi các yêu cầu để phát triển bền vững về
môi trường đòi hỏi phương án thiết kế phải tính toán, nghiên cứu và tìm phương án triển
khai để không làm ảnh hưởng nhiều đến môi trường sinh thái, đến chất lượng sống của
người dân vùng dự án cũng như vùng bị ảnh hưởng. Đó là bài học rút ra từ dự án