Phân tích hiệu quả kinh doanh qua doanh thu và tính tóan chi phí khi tính doanh thu pot - Pdf 20


LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua. Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương chính sách
để phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đa dạng hóa các hình thức sở
hữu và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Điều này đã tạo nên nên một luồng
sinh khí mới đối với các doanh nghiệp, tạo nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với
các doanh nghiệp
Hoạt động trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải
luôn tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc bằng uy tín và chất lượng sản phẩm của
mình. Mục tiêu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là lợi nhuận và lợi nhuận
tối đa, do vậy lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến
khích các chủ doanh nghiệp mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao năng
suất lao động Mà đối mặt với các doanh nghiệp là thương trường với sự chọn lọc
đào thải rất khắc khe, với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt, nhu
cầu tiêu dùng trên thị trường thì lại thường xuyên biến đổi. Để đạt được mục tiêu
trên quả là một vấn đề khó khăn vất vả đối với các nhà doanh nghiệp. Vậy con
đường nào giúp cho các doanh nghiệp tồn tại và vươn lên mạnh mẽ trong cơ chế thị
trường đầy nghiệt ngã này ? Phải chăng đó là cả một nghệ thuật, là cả một quá trình.
Điều đó buộc các doanh nghiệp phải luôn nhận thức được rằng có tiêu thụ thì mới
đảm bảo được thu hồi vốn đã bỏ ra và tăng tích lũy đồng thời nâng cao được đời
sống cho công nhân viên trong doanh nghiệp. Như vậy hoạt động tiêu thụ đóng vai
trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Bởi vậy, để thúc đẩy
hoạt động tiêu thụ thì các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao công tác
Marketing và coi đó là chìa khóa để mở ra con đường thành công của chính doanh
nghiệp mình. Để có được chính sách Marketing phù hợp thì các nhà doanh nghiệp
phải có trong tay những thông tin về sản phẩm của mình, về công tác tiêu thụ, kết
quả kinh doanh của các sản phẩm đó. Mà ta biết rằng, kế toán là một công cụ ghi
chép, tổng hợp thông tin kinh tế, là mộtc công cụ quan trọng nhằm để quản lý vốn,
tài sản điều hành hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. Những thông tin do kế
toán cung cấp là một trong những cơ sở quan trọng giúp cho các nhà doanh nghiệp
có thể phân tích, đánh giá để lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả

Vói sự cố gắng và khả năng nhất định, trong một thời gian thực tập quá ngắn em hy
vọng qua việc thực hiện đề tài có thể tiếp cận và lý giải được các vấn đề chủ yếu
liên quan đến công tác tiêu thụ, xác đinh và phân tích kết quả sản xuất kinh doanh
tại Công ty. Và trên cơ sở đó có thể góp một phần ý kiến nhỏ bé của mình làm cho
công tác tiêu thụ, xác định và phân tích kết quả sản xuất kinh doanh tại Công ty
ngày càng hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ DOANH THU,
XÁC ĐỊNH VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH.
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức chi phí doanh thu, xác định và phân tích kết qủa hoạt
động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất.
1.1.1. Vai trò ý nghĩa của quá trình tiêu thụ thành phẩm, xác định và phân tích kết
qủa hoạt động sản xuất kinh doanh.
Quá trình tái sản xuất trong doanh nghiệp là các quá trình sản xuất, lưu thông, phân
phối và tiêu dùng. Các quá trình này diễn ra một cách tuần tự. Để quá trình sản xuất
có thể tiếp tục được thì các chi phí đã bỏ ra phải được trang trải bù đắp bằng các
khoản tiền thu tù tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra chủ yếu
là thành phẩm. Thành phẩm là kết quả lao động của doanh nghiệp. Chất lượng thành
phẩm quyết định đến uy tín, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Sự sống còn của thành phẩm quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Ta biết rằng, thị trường là mục tiêu khởi điểm của quá trình kinh doanh
đồng thời cũng là nơi kết thúc của quá trình kinh doanh. Doanh nghiệp muốn tồn tại
và vươn lên thì sản phẩm của doanh nghiệp phải được thị trường chấp nhận tức là
phải được tiêu thụ trên thị trường. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường tiêu thụ
thành phẩm có vai trò ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối
với doanh nghiệp nói riêng.
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện các quan hệ trao đổi đã thông qua các
phương tiên thanh toán nhất định để thực hiện giá trị của sản phẩm.
Tiêu thụ là một khâu của quá trình tái sản xuất. Đối với bản thân doanh nghiệp, có
tiêu thụ được sản phẩm doanh nghiệp mới có khả năng thu hồi vốn, bù đắp những

nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là căn cứ để doanh nghiệp quyết
định có tiếp tục hay ngừng sản xuất, tiêu thụ loại hàng hóa nào, và cần đẩy mạnh sự
tiêu thụ loại hàng hóa nào.
Mặt khác, để đánh giá một cách toàn diện tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
của đơn vị mình, để từ đó xác định những nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đưa ra những quyết định kinh tế
phù hợp với mục tiêu mong muốn, thì kế toán cần phải thực hiện việc phân tích kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông qua các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính.
Để đảm bảo cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, đảm bảo tính liên tục của quá trình
tái sản xuất thì quá trình tiêu thụ phải được quản lý chặt chẽ.
1.1.2. Yêu cầu quản lý :
Tiêu thuÛ là khâu cuối cùng của quá trình tái sản xuất. Để có thể tái sản xuất thì
doanh nghiệp cần phải theo dõi chặt chẽ số lượng, doanh thu của từng loại thành
phẩm tiêu thụ, tình hình thanh toán của khách hàng nhằm thu hồi vốn nhanh, cũng
như tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước. Nhà quản trị doanh nghiệp phải
nắm được kinh doanh mặt hàng nào có hiệu quả nhất để từ đó có xu hướng mở rộng
kinh doanh.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phải quản lý chặt chẽ các khoản chi phí bán hàng,
chi phí quản lý doanh nghiệp, quản lý về gía cả.Doanh nghiệp cần phải xây dựng
một biểu giá hợp lý cho từng mặt hàng, từng phương thức bán hàng. Làm tốt việc
quản lý giá giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp thích ứng với giá cả thị trường,
tiêu thụ được nhiều Đồng thời, làm tốt các công việc trên giúp cho doanh nghiệp
có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh một cách đúng đắn, lập và phân
tích kế hoạch tiêu thụ trên cơ sở đó lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh có hiệu
quả cao.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sản xuất ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất
lượng, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý để được khách hàng chấp nhận là vấn đề quan
trọng, thậm chí là tiêu chí phấn đấu không ngừng của mỗi doanh nghiệp. Để đạt
được điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cần thực hiện hàng loạt các biện pháp về tổ
chức , quản lý trong đó tổ chức chi phí doanh thu sản phẩm, xác định kết qủa hoạt

các đại lý, bán hàng trả góp Nhưng nhìn chung, nếu căn cứ vào thời điểm ghi nhận
doanh thu ta có thể chia phương thức bán hàng thành 2 loại : phương thức bán hàng
thu tiền trực tiếp và phương thức bán hàng không thu tiền trực tiếp.
- Phương thức bán hàng thu tiền trực tiếp : theo phương thức này thì việc chuyển
quyền sở hữu sản phẩm hàng hóa dịch vụ cho khách hàng và việc thu tiền được thực
hiện đồng thời nên còn gọi là bán hàng thu tiền ngay tức là doanh thu được ghi nhận
khi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm cho khách hàng.
- Phương thức không thu tiền trực tiếp : việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ đã được thực hiện, nhưng khách hàng mới chỉ chấp nhận trả tiền, chưa
trả ngay tiền hàng nên đơn vị bán được quyền thu tiền. Tuy vậy, đơn vị bán vẫn ghi
nhận doanh thu nói cách khác doanh thu được ghi nhận trước kỳ thu tiền.
1.2.2. Doanh thu bán hàng :
1.2.2.1. Khái niệm :
Doanh thu bán hàng theo thông tư số 76/TC/TCDN của Bộ Tài Chính quy định là
số thu về bán sản phẩm, hàng hóa, lao vụ dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán, đã cung
cấp cho khách hàng, đã được khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
1.2.2.2. Nguyên tắc ghi nhận doanh thu :
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế, doanh thu bán hàng chỉ được ghi nhận khi có một
khối lượng sản phẩm, hàng hóa, lao vụ dịch vụ đã được xác định tiêu thụ. Nghĩa là
khối lượng sản phẩm hàng hóa lao vụ đã được giao cho khách hàng hoặc đã thực
hiện đối với khách hàng và đã được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh
toán.
Việc xác định thời điểm sản phẩm, hàng hóa được coi là tiêu thụ có ý nghĩa rất quan
trọng đối với doanh nghiệp, xác định đúng thời điểm thì mới xác định được điểm
kết thúc việc quản lý hàng hóa, phản ánh chính xác doanh thu bán hàng và xác định
chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.3. Kết quả tiêu thụ :
Kết quả tiêu thụ sản phẩm được biểu hiện qua chỉ tiêu (lãi, lỗ) về hoạt động tiêu thụ
sản phẩm và được xác định theo công thức sau :
1.2.3.1. Doanh thu bán hàng thuần :

Chi phí vật liêụ bao bì.
Chi phí dụng cụ đồ dùng.
Chi phí khấu hai tài sản cố định dùng trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa.
Chi phí dịch vụ mua ngoài.
Chi phí khác bằng tiền.
1.2.3.4. Chi phí quản lý doanh nghiệp :
Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động quản lý
kinh doanh, quản lý hành chính, và quản lý điều hành chung của toàn doanh nghiệp.
Theo quy định hiện hành chi phí quản lý doanh nghiệp được chia thành các loại sau
:
Chi phí nhân viên quản lý.
Chi phí vật liệu quản lý.
Chi phí đồ dùng văn phòng.
Chi phí khấu hao tài sản cố định.
Thuế, phí lệ phí.
Chi phí dự phòng.
Chi phí dịch vụ mua ngoài.
Chi phí khác bằng tiền.
Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cuối kỳ phải kết chuyển hoặc phân
bố vào các tài khoản liên quan để xác định kết quả kinh doanh. Trong trường hợp
doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ sản xuất dài trong kỳ không có hoặc có ít sản
phẩm tiêu thụ thì chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cần phải tính toán
phân bổ cho sản phẩm còn lại chưa tiêu thụ cuối kỳ. Hiện nay người ta thường lựa
chọn tiêu chuẩn phân bổ là trị giá vốn của hàng xuất bán.
1.3. Tổ chức chi phí doanh thu, xác định và phân tích kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh trong điều kiện ứng dụng máy vi tính :
1.3.1. Tổ chức kế toán tổng hợp tiêu thụ thành phẩm, xác định kết qủa hoạt động
sản xuất kinh doanh :
1.3.1.1. Chứng từ sử dụng :
Bất kỳ một phần hành nào, để thực hiện việc hạch toán tổng hợp và hạch toán chi

- TK 521 : Chiết khấu bán hàng :
Tài khoản này dùng để phản ánh toàn bộ doanh thu bán hàng bị chiết khấu trong kỳ
của đơn vị. Thực chất, tài khoản này chỉ sử dụng để theo dõi các khoản chiết khấu
thương mại chấp nhận cho người mua.
- TK 531 : Hàng bán bị trả lại.
Tài khoản này dùng để theo dõi doanh thu của số hàng hóa. Thành phẩm lao vụ đã
tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại. Đây là tài khoản điều chỉnh của TK 511 để tính
doanh thu thuần.
- TK 532 : Giảm giá hàng hóa.
Tài khoản này dùng để theo dõi các khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng trên
giá bán đã thỏa thuận. Được hạch toán vào tài khoản này bao gồm các khoản bớt
giá, hồi khấu.
- TK 632 : Giá vốn hàng hóa :
Tài khoản này dùng để theo dõi trị giá vốn của hàng hoá, sản phẩm lao vụ, dịch vụ
xuất bán trong kỳ.
- TK 911 : Xác định kết quả kinh doanh.
TK này dùng để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động
khác trong 1 kỳ kế toán.
- TK 131 : Phải thu của khách hàng.
Tài khoản này để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản
nợ phải thu về tiền bán hàng.
TK 157 : Hàng gửi bán.
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hàng hóa, thành phẩm chuyển gửi bán đại
lý, ký gửi nhưng chưa xác định là tiêu thụ.
Ngoài các tài khoản nói trên, trong qúa trình hạch toán tiêu thụ , kết quả kế toán còn
sử dụng một số tài khoản liên quan khác nhau như : TK 111, 333, 334, 421, 112,
641, 642
1.3.1.3. Trình tự kế toán :
1.3.1.4. Tổ chức hệ thống sổ kế toán và lựa chọn hình thức kế toán :
Việc tổ chức sổ sách kế toán trong mỗi doanh nghiệp cần phải thống nhất theo một

đến lợi nhuận của doanh nghiệp để từ đó đưa ra những thông tin hữu ích giúp đỡ
các nhà quản trị doanh nghiệp trong quá trình hoạch định cũng như đưa ra các quyết
định phù hợp cho sự phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3.3. Tổ chức phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh :
Để tồn tại và phát triển được trong điều kiện hiện nay, hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp phải đạt hiệu quả mà hiệu quả cuối cùng của hoạt động
kinh doanh được phản ánh thông qua chỉ tiêu lợi nhuận.
Để chiến thắng được trong môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt, các nhà quản trị
doanh nghiệp phải tự vạch lối riêng cho chính doanh nghiệp mình bằng các kế
hoạch chiến lược sản phẩm, chiến lược marketing, chiến lược kinh doanh phù hợp.
Điều đó đòi hỏi thông tin kế toán cung cấp phải được cụ thể hóa. Hay nói cách
khác, kế toán phải tiến hành phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, xác
định các nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp để từ đó cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra quyết định.
Nội dung công tác phân tích : Việc phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
đều thông qua các chỉ tiêu trên. Báo cáo kết quả kinh doanh. Qua các số liệu trên
báo cáo này người ta có thể đánh giá được xu hướng phát triển cũng như kết quả
của việc thực hiện muñc tiêu do chính doanh nghiệp đề ra. Ngoài ra kế toán còn
thông qua các số liệu chi tiết đối với từng sản phẩm để tiến hành phân tích từ đó đưa
ra những thông tin cụ thể về tình hình, kết quả tiêu thụ đối với từng loại sản phẩm
để từ đó đưa ra hướng mở rộng hay thu hẹp kinh doanh đối với các sản phẩm nào.
Như đã đề cập lợi nhuận phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nhưng kết qủa lợi nhuận chưa phản ánh chính xác kết quả
đó vì chưa biết được tương quan của nó với quy mô sản xuất kinh doanh và lượng
vốn để bỏ ra sản xuất. Do đó để đánh giá chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh phải phân tích kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các tỷ lệ.
Tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu thuần.
Tỷ lệ lãi gộp trên nguồn vốn chủ sở hưuc.
Tỷ lệ lãi thuần trên doanh thu thuần.
Tỷ lệ lãi thuần trên nguồn vốn chủ sở hữu.Phương pháp chủ yếu được sử dụng để

hiếu của người tiêu dùng. Bước đầu hoạt động theo cơ chế thị trường, Công ty còn
nhiều bở ngỡ, nhưng với sự nhiệt tình sáng tạo của đội ngũ cán bộ, kỹ sư của Công
ty đã lãnh đạo Công ty đứng vững trên thị trường. Tốc độ phát triển năm sau cao
hơn năm trước, sản phẩm được thị trường chấp nhận, đời sống cán bộ công nhân
viên ổn định, là cơ sở được Bộ Công nghiệp đánh giá cao trong ngành cao su.
2.1.2 . Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý :
2.1.2.1. Đặc điểm tổ chức sản xuất
a.Đặc điểm tổ chức sản xuất
Sản phẩm của Công ty sản xuất ra được dùng rộng rãi trên thị trường cả nước, và
phục vụ cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, tiêu dùng xã
hội. Qua từng thời kỳ sản phẩm của Công ty luôn được cải tiến về quy cách, chủng
loại, mẫu mã để phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Hiện nay Công ty đã sản xuất
được hơn 30 loại sản phẩm, trong đó chủ yếu là :
- Săm lốp xe đạp các cỡ
- Săm lốp xe máy các cỡ
- Săm lốp ôtô các cỡ
- Ống hút, ống cao su các loại
- Các sản phẩm cao su kỹ thuật khác.
Khối lượng sản phẩm và chủng loại sản phẩm sản xuất ra không những phụ thuộc
vào trình độ trang bị kỹ thuật cho quá trình công nghệ sản xuất, mà còn phụ thuộc
vào môi trường và điều kiện sản xuất nếu ngừng sản xuất đột ngột do mất điện thì
số sản phẩm trên dây chuyền sẽ bị hỏng. Xuất phát từ đặc điểm này, mà dây chuyền
công nghệ sản xuất của Công ty được phân chia thành các công đoạn sản xuất.
Về tổ chức sản xuất : Công ty Cao Su Đaknông tổ chức sản xuất theo mô hình Công
ty, dưới Công ty là các xí nghiệp thành viên. Mỗi xí nghiệp tiến hành sản xuất độc
lập theo kỹ thuật riêng và chịu sự điều hành của giám đốc Công ty. Trong mỗi xí
nghiệp đều có mỗi giám đốc đứng đầu và có bộ phận giúp việc, các xí nghiệp này
không có tư cách pháp nhân, , tiến hành sản xuất rồi giao nộp sản phẩm cho Công
ty. Hiện nay, Công ty tổ chức thành 6 xí nghiệp
- Xí nghiệp cán luyện

một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập có tư cách pháp nhân đầy đủ, có quyền trực
tiếp quan hệ với ngân hàng, cơ quan thuế, với khách hàng trong và ngoài nước.
Đứng đầu bộ máy quản lý Công ty là ban lãnh đạo Công ty gồm 1 giám đốc và 3
phó giám đốc phụ trách 3 phần việc khác nhau là phó giám đốc kỹ thuật, phó giám
đốc sản xuất, phó giám đốc kinh doanh. Giám đốc là người điều hành cao nhất,
quyết định và chỉ đạo trực tiếp xuống các phòng ban, xí nghiệp, chịu trách nhiệm
trước Nhà nước về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Để làm tốt phần
việc của mình, giám đốc sẽ ủy quyền cho các phó giám đốc trực tiếp chỉ đạo các
phòng ban, các xí nghiệp sản xuất theo từng lĩnh vực phân công. Hàng tuần có trách
nhiệm báo cáo trước Giám đốc về tình hình sản xuất, tình hình quản lý và kinh
doanh tại các bộ phận do mình đảm nhiệm và chịu trách nhiệm trước giám đốc về
những nhiệm vụ được phân công.
Công ty có 9 phòng ban:
- Phòng kế hoạch kinh doanh
- Phòng tổ chức lao động
- Phòng tài vụ
- Phòng bảo vệ.
- Phòng kỹ thuật công nghệ
- Phòng kỹ thuật cơ năng
- Phòng KCS
- Phòng cung cấp xuất nhập khẩu
- Ban an toàn.
Mỗi một phòng ban đều có nhiệm vụ khác nhau, nhưng tựu chung lại vẫn là nhằm
giúp đỡ ban lãnh đạo điều hành kiểm soát hoạt động SXKD trong DN.
2.1.3 . Đặc điểm tổ chức công tác kế toán :
a. Bộ máy kế toán :
Để phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, sự phân cấp quản lý của Công ty,
đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo sản xuất, khối lượng công việc kế toán, địa bàn
hoạt động, đảm bảo thông tin nhanh, gọn, chính xác và theo dõi kịp thời các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh, Công ty áp dụng kiểu tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức kế

doanh có hiệu quả nên Công ty Cao Su Đà Nẵng được Bộ Tài chính chọn là đơn vị
áp dụng thí điểm chế độ kế toán mới.Đầu năm 1996 Công ty áp dụng hệ thống tài
khoản được ban hành theo quyết định số 1141TC/CĐKT ra ngày 01/11/1995 của Bộ
trưởng Bộ Tài Chính.
Các tài khoản mà Công ty đang sử dụng về cơ bản là giống hệ thống tài khoản mới
ban hành.
c. Hình thức ghi sổ kế toán :
Là một doanh nghiệp có qui mô thuộc loại trung bình, nhiều nghiệp vụ kinh tế phát
sinh, trình độ của phòng khá đồng đều, 80% là đại hoc.Để có thể phản ánh kịp thời,
đầy đủ cũng như tạo điều kiện cho việc ghi chép được thuận lợi phù hợp với trình
độ của nhân viên ktoán, Công ty áp dụng hình thức ghi sổ “nhật ký chứng từ”.
Sơ đồ : Sơ đồ hình thức kế toán
d.Chương trình kế toán trên máy
Chương trình phần mềm mà công ty đang sử dụng là chương trình FOXPRO.Ở công
ty có kỹ sư tin học giúp công ty cài đặt thiết kế chương trình theo yêu cầu của công
ty.Chương trình cũng tiến hành cập nhật chứng từ ban đầu vào máy, maý sẽ tự động
lên các sổ chi tiết, bảng kê hóa đơn hàng hóa dịch vụ bán ra.Trong điều kiện sử
dụng MVT,việc sử dụng đúng hóa đơn chứng từ, trình tự luân chuyển khoa học hợp
lý giúp cho việc cung cấp thông tin được đầy đủ kịp thời,chính xác.
2.2. Thực trạng công tác chi phí doanh thu, xác định kết quả và phân tích hoạt động
sản xuất kinh doanh tại công ty cao su Đaknông.
2.2.1. Đặc điểm tiêu thụ ở Công ty :
Công ty Cao Su Đaknông là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh các loại săm lốp
vật tư, phụ tùng cho các phương tiện GTVT do tính năng của các loại phương tiện
này là vận chuyển, lưu thông hàng hóa cũng như hành khách cho nên vấn đề chất
lượng sản phẩm săm lốp được Công ty đặt lên hàng đầu.
Cùng với chất lượng cao, giá cả hợp lý, các chiến lược Marketing phù hợp nên sản
phẩm của Công ty được tiêu thụ rộng khắp trên cả nước. Hiện nay, ở Công ty chỉ
có hai phương thức tiêu thụ :
- Phương thức tiêu thụ trực tiếp : Theo phương thức này khi bên mua nhận được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status