CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC TỒN TẠI CÁC THÀNH PHẦN
KINH TẾ NÓI CHUNG VÀ KINH TẾ NHÀ NƯỚC NÓI RIÊNG TRONG THỜI
KỲ QUÁ ĐỘ Ở NƯỚC TA :
1. Tính tất yếu khách quan của việc tồn tại thành phần kinh tế Nhà nước trong
nền kinh tế nhiều thành phần.
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên hình thức
sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất.
Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất là quy luật chung cho mọi phương thức sản xuất. Trong
nền kinh tế chưa thực sự phát triển cao, lực lượng sản xuất luôn tồn tại ở nhiều trình độ
khác nhau; tương ứng với mỗi trình độ của lực lượng sản xuất sẽ có một kiểu quan hệ
sản xuất. Do đó, cơ cấu của nền kinh tế, xét về phương diện kinh tế - xã hội phải là cơ
cấu nhiều thành phần.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, lực lượng sản xuất tồn tại ở nhiều thang bậc
khác nhau, do đó chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ có nhiều hình thức, tức là nền
kinh tế sẽ có nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập với nhau
mà có quan hệ hữu cơ với nhau tạo thành cơ cấu kinh tế.
Xét về vị trí, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ những lĩmh vực then chốt, là lực lượng vật chất quan
trọng và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế và góp phần
khắc phục những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường.
Kinh tế nhà nước bao gồm các DNNN, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo
hiễm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể dựa vào vòng chu chuyển
kinh tế. Trong đó DNNN là một bộ phận quan trọng nhất của kinh tế nhà nước, giữ vị
trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng xuất
chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật.
Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần nói chung và kinh tế nhà nước nói riêng
và mặc nhiên tồn tại DNNN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là tất yếu khách
quan.
Thực tiển ở Việt Nam qua những năm đổi mới đã chứng minh, nhờ phát triển
Trước hết thể hiện qua định nghĩa DNNN trong điều lệ xí nghiệp công nghiệp
quốc doanh ban hành kèm theo Nghị định 50/ HĐBT ngày 23/8/1998 qui định: “Xí
nghiệp công nghiệp quốc doanh là một đơn vị sản xuất hàng hoá có kế hoạch đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng cho xã hội, có tư cách pháp nhân và hạch toán kinh tế độc
lập“.
Trong quy chế thành lập - giải thể DNNN ban hành kèm theo Nghị định
388/HĐBT, ngày 20/11/1991 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng quy định “DNNN là
một tổ chức kinh doanh do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ
sở hữu DNNN là một pháp nhân kinh tế, hoạt động theo pháp Luật và bình đẳng trước
pháp Luật “.
Gần đây, tại điều 1 một doanh nghiệp Nhà nước sửa đổi năm 2003 quy định : “
DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần ,vốn
góp chi phối (trên 50% cổ phần ), được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước ,công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn .Hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công
ích nhằm thực hịên các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. DNNN có tư cách
pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động
kinh doanh trong phạm vi số vốn nhà nước quản lý. DNNN có tên gọi, có dấu riêng và
có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam ”.
Ngày nay trong điều kiện sản xuất hàng hoá với nhiều thành phần kinh tế cùng
tồn tại, đan xen, trong xu thế hội nhập quốc tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài, việc
nhận rõ DNNN là một yêu cầu hết sức cần thiết để có cơ chế quản lý thích hợp. Tuỳ
theo góc độ xem xét mà DNNN được phân chia thành các loại khác nhau, để định ra
thể chế quản lý phù hợp của DNNN, hiện nay được phân chia thành hai loại sau:
+ Loại thứ nhất: DNNN hoạt động kinh doanh, là doanh nghiệp có chức năng
hoạt động tìm kiếm lợi nhuận theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp này được nhà
nước giao quyền và sử dụng vốn có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, các doanh
nghiệp này thưc hiện hạch toán kinh doanh tự chủ trong kinh doanh, tự chịu trách
nhiệm về mặt tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của mình, chịu sự điều chỉnh
của pháp luật như các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác .
chính sách phát triển, cách thức lựa chọn giải pháp, công cụ mỗi nước .Như vậy, vai
trò DNNN tăng hay giảm tùy thuộc vào chính sách,chiến lược phát triển trong những
giai đoạn nhất định và còn tùy thuộc vào sự lựa chọn phương thức trực tiếp hay gián
tiếp để điều tiết thúc đẩy nền kinh tế .
Với nền kinh tế chậm phát triển cũng có ý nghĩa mức độ ,tập trung sản xuất rất
thấp, hệ thống kinh doanh nhỏ, phân tán, ít vốn, kỹ thuật công nghệ lạc hậu .Muốn
bước khỏi trình trạng trên và hộI nhập vào trào lưu phát triển hiện đại cần phải lựa
chọn chiến lược và những giảI pháp cho sự tăng trưởng mang tính chất tăng tốc và lâu
bền . Để thực hiện chiến lược trên nhà nước tất yếu phải lựa chọn giải pháp để phát
triển DNNN. Ở đây việc lựa chọn này không phảI mang tính chủ quan, mà có sự quy
định của bản thân nền kinh tế và bản thân của chế độ chính trị, vì DNNN có những ưu
thế tuyệt đối ở thời kỳ quá độ của sự phát triển, các ưu thế của DNNN thể hiện ở chỗ
có khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới tiên tiến, và có cơ hội hội nhập với
nền kinh tế thế giới, những ưu thế này khiến cho DNNN trở thành một yếu tố quyết
định cho chiến lược phát triển rút ngắn, tăng tốc. Vì vậy DNNN giữ vai trò then chốt là
‘’bánh lái’’ của nền kinh tế. DNNN là cầu nối, định hướng công nghệ và xu hướng
phát triển cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Trong giai đoạn hiện nay vị trí, vai trò chủ đạo của DNNN chỉ là tương đối với
vị trí và vai trò của các thành phần kinh tế mà thôi, không có sự tồn tại và phát triển
các thành phần kinh tế khác thì chẳng có vai trò chủ đạo của DNNN phải thể hiện qua
sự phân công và phối hợp một cách hợp lý giữa chức năng của khu vực DNNN vớI
chức năng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Có thể nói rằng DNNN trong việc đầu tư vào những ngành quyết định cho sự
phát triển dài hạn và hiệu quả sử dụng của nền kinh tế làm cho nó có vai trò. Đặc biệt
là vai trò giá đỡ của nền kinh tế. Đây là vai trò lâu bền của khu vực DNNN ngay cả
khi doanh nghiệp tư nhân đã trưởng thành. Khi DNNN thu hẹp lại thì vao trò trong
việc cung cấp hàng hoá dịch vụ công cộng, khắc phục khuyết tật thị trường và vai trò
làm giá đỡ cho nền kinh tế vẫn được duy trì.
Hai là: Vai trò chủ đạo của DNNN phải được thể hiện không ngừng nâng cao
hiệu quả và khả năng điều tiết trong nền kinh tế thị trường.
để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Bốn là: DNNN có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chính trị
- kinh tế - xã hộI theo định hướng XHCN do Đảng và Nhà nước đề ra.
Trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế theo định hướng XHCN và thực hiện
những mục tiêu kinh tế - xã hội do Đảng và Nhà nước ta đề ra, thì DNNN là một bộ
phận kinh tế nền tảng và là công cụ trực tiếp chi phối cho các thành phần kinh tế khác
thực hiện chính sách theo hướng XHCN. Trong quan hệ với công tác an ninh quốc
phòng, các DNNN có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường quốc phòng ở
các vùng chiến lược.
Trong việc kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, thì các DNNN có vai trò
quan trọng trong việc cung cấp những hàng hoá, dịch vụ cho các hoạt động quốc
phòng mà trong điều kiện tư nhân không được phép làm như: sản xuất vũ khí, thuốc
nổ, bưu chính viễn thông.
Năm là: DNNN có vai trò quan trọng trong việc khắc phục những khuyết tật do
cơ chế thị trường tạo ra, đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã
hội. Đó là lĩnh vực kinh doanh lãi ít, nhiều rủi ro, thu hồi vốn chậm, nhưng sự tồn tại
phát triển của chúng quyết định đến sự phát triển chung của nền sản xuất xã hội, sản
xuất đồ dùng cho người tàn tật, các hoạt động nghiên cứu cơ bản…
Như vậy, trong khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường mà coi nhẹ DNNN hoặc tư nhân hoá tất cả các tư liệu sản
xuất là sai lầm. Song, duy trì DNNN tràn lan, hoạt động không hiệu quả, hạn chế sự
phát triển kinh tế, làm lãng phí tài sản của Nhà nước thì thực chất là hạ thấp vai trò của
DNNN. Vai trò chủ đạo của hệ thống kinh tế Nhà nước nói chung và DNNN nói riêng
gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế theo định hướng XHCN
phục vụ cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta. Nó khác với vai trò, qui mô, bản
chất của DNNN ở các nước tư bản chủ nghĩa.
II/ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MAC-LÊNIN VÀ ĐẢNG TA VỀ
KINH TẾ NHÀ NƯỚC NÓI CHUNG VÀ DNNN NÓI RIÊNG VÀ MỘT SỐ
KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƠI:
1. Một số quan điểm của Chủ Nghĩa Mác-Lênin và Đảng ta về kinh tế Nhà nước
lý vĩ mô của Nhà nước ta.
Các DNNN, một bộ phận quan trọng nhất của kinh tế Nhà nước, giữ những vị
trí then chốt phải đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu
gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật. Nắm
giữ các ngành, các lĩnh vực kinh tế liên quan đến an ninh quốc phòng, chính sách xã
hội và các ngành mũi nhọn, trọng yếu nhất của nền kinh tế. Sự có mặt của các DNNN
trong các ngành, các lĩnh vực quan trọng có tác dụng điều chỉnh sự cân bằng của nền
kinh tế, duy trì ổn định chính trị - xã hội.
Khu vực DNNN phải giữ vai trò đòn bẩy, giá đỡ trong nền kinh tế thị trường
nhiều thành phần DNNN là công cụ Nhà nước huy động tập trung vốn vào những lĩnh
vực mang tính chiến lược của nền kinh tế thực hiện việc chuyển giao công nghệ, tiếp
nhận công nghệ hiện đại, tiếp cận nghệ thuật quản lý tiên tiến trên thế giới, tạo cơ sở
kinh tế cho các ngành kinh tế khác phát triển. Khu vực DNNN phải đi đầu trong quá
trình công nghệp hoá, hiện đại hoá theo hướng mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế thế
giới. Vai trò của DNNN phải thay đổi linh hoạt tuỳ thuộc vào từng giai đoạn mà Nhà
nước trao cho sứ mệnh phải gánh vác.
Một số quan điểm về DNNN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của Tỉnh Quảng Ngãi:
Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước. Tiếp tục
sắp xếp lại DNNN theo loại hình DNNN làm nhiệm vụ kinh doanh và DNNN làm
nhiệm vụ công ích. tiếp tục hoàn thiện tổ chức, quản lý DNNN như: sắp xếp, sáp nhập,
giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp. Tổ chức các doanh nghiệp phù hợp với quy hoạch
ngành, lãnh thổ vào những ngành cần thiết cho sự phát triển có hiệu quả và bền vững
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân như: kết cấu hạ tầng, tài chính, ngân hàng, an ninh
quốc phòng và những DNNN trong một số ngành sản xuất dịch vụ cần thiết trong nền
kinh tế. Thông qua đó mà Nhà nước có thể điều tiết, hỗ trợ các DNNN và các thành
phần kinh tế khác. Tiếp tục đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tổ chức và quản lý doanh
nghiệp theo yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là cơ sở và điều kiện để DNNN
duy trì vai trò chủ đạo của mình.
Trong điều kiện ngày nay sự quản lý của Nhà nước XHCN nhằm sửa chữa
Ở Malaixia DNNN có 3 loại, được phân theo cách phân loại của Liên Hiệp
Quốc, tức là: 1) Doanh nghiệp hành chính sự nghiệp; 2) Doanh nghiệp công cộng; 3)
Doanh nghiệp sở hữu Nhà nước.
Hiệu quả hoạt động của các DNNN ở Malaixia, đặc biệt là của DNNN phi tài
chính và DNNN hoạt động vì mục đích xã hội rất kém, tỷ lệ các DNNN hoạt động
thua lỗ cao, trong ngành dịch vụ và ngành công nghiệp, DNNN hoạt động không có
hiệu quả bằng các ngành khác.
Đến năm 1988, tình hình họat động của các DNNN cũng không thay đổi.
Trong tổng số 770 DNNN được điều tra về lãi và lỗ, chỉ có 387 doanh nghiệp hoạt
động có lãi với tổng lợi nhuận là 4,868 tỷ đôla và 383 doanh nghiệp làm ăn thua lỗ
5.610 đôla. Phần lớn doanh nghiệp bị thua lỗ là doanh nghiệp có quy mô lớn và ở
trong công nghiệp nặng.
Nguyên nhân hoạt động kém hiệu quả của DNNN ở Malaixia là yếu kém trong
quản lý, kiểm soát và kế hoạch của Chính phủ, những mục tiêu trái ngựơc nhau của
các DNNN, thiếu sự linh hoạt trong môi trường kinh tế. Malaixia đang tiến hành cải
cách trong công tác kế hoạch hoá, bỏ những cản trở về nguồn nhân lực, giảm can thiệp
Chính phủ, cải thiện môi trường hoạt động kinh doanh. Gần đây hệ thống khuyến kích
theo cơ chế thị trường được áp dụng trong việc lập chính sách cho các DNNN.
*Ở Trung Quốc
(2)
:
Giống như các nước XHCN khác, tỷ trọng của khu vực DNNN trong nền kinh
tế quốc dân ở Trung Quốc rất cao. DNNN giữ vị trí chủ đạo, hoạt động của DNNN
theo cơ chế tập trung quan liêu tỏ ra rất kém hiệu quả. Trung Quốc đã tiến hành cảI
cách khu vực DNNN vào cuối những năm 70.
Từ năm 1978 đến nay, cuộc cải cách các DNNN ở Trung Quốc có thể chia
thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất (từ năm 1978 đến 1984) là giai đoạn Trung Quốc tập trung
vào thay đổi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Nội dung chính của cải cách trong giai
* Ở ĐăkLăk
(3)
:
DNNN tỉnh ĐăkLăk những năm vừa qua đã có những biến đổi đáng kể, tính
đến nay có 111 DNNN thuộc tỉnh quản lý. Tình hình hoạt động thích ứng được với cơ
chế thị trường, tuy nhiên vẫn còn một số hoạt động kém hiệu quả, bị thua lỗ trong sản
xuất kinh doanh, nhìn chung chưa có tính ổn định. Qua đó cho thấy: cơ chế bao cấp đã
ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, trong khi đó bộ
máy chỉ đạo của các doanh nghiệp cồng kềnh, chi phí quản lý quá lớn, cơ cấu chủng
loại sản phẩm còn nghèo nàn, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là cà phê, cao su, gỗ…
Để DNNN giữ được vị trí chủ đạo thực sự, Nhà nước cần phải củng cố để có
được sự phát triển đúng hướng, phục vụ tốt cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá của Tỉnh trong những năm tới. Việc triển khai sắp xếp doanh nghiệp theo chỉ thị
500/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã thực hiện được công tác quy hoạch tổng thể, sắp
xếp lại doanh nghiệp theo ngành kinh tế kỹ thuật gắn với lãnh thổ phù hợp với quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và sự kiểm tra giám sát của các cơ quan chức
năng Nhà nước về mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh ở từng doanh nghiệp rất đa
dạng. Do vậy đã làm cho quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá được mở rộng, đồng
thời doanh nghiệp được tự chủ và chịu trách nhiệm về kinh tế hoặc sản xuất kinh
doanh của mình, đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua các hình thức
liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác, cung ứng các dịch vụ về kinh tế
kỹ thuật, thu mua sản phẩm, góp phần tạo ra bước phát triển ổn định cho nền kinh tế
của tỉnh. Sau khi thực hiện phương án sắp xếp DNNN của tỉnh hiện nay toàn tỉnh gồm
có 122 doanh nghiệp.
Như vậy có thể nói sự tồn tại của DNNN là một tất yếu khách quan, DNNN
được sử dụng như một công cụ điều tiết của Chính phủ, vừa làm chức năng chính trị
và xã hội, vừa đảm bảo cho nền kinh tế ngày càng tăng trưởng, xã hội phát triển công
bằng và ổn định. DNNN góp phần thực hiện vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nước.
Chương II THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NGÃI
đồng chiếm 20,89%, ở các địa phương hơn 30% số doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ
đồng. Tình trạng phổ biến là các doanh nghiệp thiếu vốn nghiêm trọng.
Trình độ kỹ thuật, công nghệ các doanh nghiệp còn lạc hậu. Ngoài một số ít
doanh nghiệp được trang bị kỹ thuật hiện đại hoặc trung bình, đại bộ phận doanh
nghiệp máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất còn lạc hậu so với thế giới từ 10 – 20
năm, các ngành như ngành cơ khí tới 30 năm, thậm chí có 38% số này ở dạng thanh lý.
Do tình trạng máy móc như vậy nên chưa tạo được nhiều sản phẩm mũi nhọn cho quốc
gia, khả năng cạnh tranh thấp. Một số mặt hàng trong nước như sắt, thép, phân bón, xi
măng, … có mức giá cáo hơn mặt hàng cùng loại nhập khẩu từ 20-40%, cá biệt mặt
hàng đường thô cao hơn tới 70-80%. Chỉ khoảng 15% sản phẩm đạt chất lượng xuất
khẩu. Tình hình này đang là một thử thách rất lớn đối với các doanh nghiệp nước ta
trong bối cảnh toàn cầu hoá mạnh về kinh tế.
Một tình trạng khá phổ biến là số lao động dôi dư trong các doanh nghiệp khá
lớn, ước tính tổng số lao động không có việc làm ở các DNNN tới khoảng 10 vạn
người có tên trong danh sách nhưng đang nghĩ chờ việc hoặc tự bỏ, tự tìm việc ở nơi
khác.
Công nợ tại các doanh nghiệp quá lớn, theo số liệu kiểm kê năm 2000, tổng số
nợ phải trả của DNNN tới 194.841 tỷ đồng, bằng 15,23% tổng số vốn nhà nước trong
các DNNN, trong đó nợ quá hạn là 10.716 tỷ đồng, nợ khó đòi là: 2.748 tỷ đồng. Mặc
dù ngân sách nhà nước luôn thiếu hụt, song nhà nước đã phải dành ra một khoảng vốn
lớn hổ trợ cho các doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức như đầu tư trực tiếp, cấp
bổ sung vốn lưu động, bù lổ, miễn trả thuế, xoá nợ, khoanh nợ, giảm nợ giảm thuế
khấu hao, cho vây vốn tín dụng ưu đãi …trong 10 năm lại đây tới gần 127.000 tỷ
đồng.
Thực hiện chủ trương đa dạng sở hữu một số DNNN không cần thiết 100% vốn
nhà nước còn chậm. Đến nay cả nước mới chỉ cổ phần hoá được 1.012 doanh nghiệp,
giao, bán, khoán hoăc cho thuê còn khá nhiều.
II. THỰC TRẠNG CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
QUẢNG NGÃI .
1. Tổng quan về tình hình kinh kế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi
giờ nắng khoãng 2000giờ/năm.
Khí hậu Quảng Ngãi với lượng bức xạ lớn thuận lợi về phơi sấy, sử dụng năng
lượng mặt trời trong công nghiệp chế biến Nông Lâm Sản làm muối sản xuất điện
năng. Tuy nhiên do địa hình dốc, mưa tập trung theo mùa vào tháng 9,10,11 và 12
hàng năm nên thường xuyên bị lũ lụt làm ảnh hưởng sản xuất, thiệt hại về người và vật
chất cho nhân dân trong vùng.
c. Khái quát về kinh tế -xã hội:
Trải qua một thập kỷ, từ một tỉnh nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, chúng ta
đã cố gắn phát triển một cách toàn diện, cơ sở vật chất kỹ thuật kinh tế và xã hội được
tăng cường đời sống nhân dân từng bước được cải thiện số hộ đói nghèo giảm đáng kể.
Nền kinh tế từng bước được ổn định và phát triển đạt được tốc độ tăng trưởng khá so
với mức bình quân chung cả nước. Đặc biệt từ năm 2002 trở lại đây tốc độ phát triển
kinh tế tăng ở “ 2 con số “. (Năm 2002: 10,6 %; năm 2003 : 10,3%; ước thực hiện năm
2004 : 11- 11,5 % ). Năm 2003 tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 420.000 triệu
đồng.
GDP bình quân đầu người tăng năm 2002 là 2,628 triệu đồng (192 USD), năm
2003 là 3,562 triệu đồng (230 USD), ước thực hiện 2004 khoảng 3,838 triệu đồng
(246 USD) thể hiện bằng bản như sau:
Chỉ tiêu Đơn vị 2002 2003 Ước 2004
-Tốc độ phát triển kinh tế ( GDP ) % 10,6 10,3 11 – 11,5
-GDP bình quân đầu người Tr.đồng 2,628 3,562 3,838
(Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Quảng Ngãi )
Cùng với sự tăng trưởng là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng
giảm tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp –xây dựng và
dịch vụ, cụ thể:
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
-Tổng sản phẩmGDP: 100 100 100
+Nông-Lâm-Ngư nghiệp 38,80 38,66 36,70
nghiệp ( năm 2003) nhưng thực chất chỉ còn 32 doanh nghiệp hoạt động (2 doanh
nghiệp ngưng hoạt động đang làm thủ tục giải thể), 16 DNNN trung ưong và 60 chi
nhánh DNNN Trung ương trên địa bàn Tỉnh.
DNNN được thành lập để cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng, là bộ phận
quan trọng của nền kinh tế, chiếm giữ tỷ phần lớn trong các ngành mũi nhọn, trọng
yếu nhất của nền kinh tế, giữ vị trí then chốt. Có tác dụng điều chỉnh sự cân bằng của
nền kinh tế. Bên cạnh đó, DNNN cũng được thành lập để thực hiện những mục tiêu xã
hội như tạo công ăn việc làm, khắc phục sự mất cân bằng về phát triển kinh tế vùng,
đồng thời có mối quan hệ thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển. Điều đó sẽ
được chứng minh bằng các chỉ tiêu kinh tế -xã hội cụ thể của tỉnh như sau:
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
I.Tổng sản phẩm GDP
Trong đó :
- Kinh tế nhà nước
+ Trung ương quản lý
+ Địa phương quản lý
- Kinh tế tập thể
- Kinh tế cá thể, tiêu chủ
- Tư bản tư nhân
- Tư bản hổn hợp
- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài
3.390.887
850.211
515.156
335.055
419.354
2.005.942
44.661
200.000 67.920
15.260
220.000 71.984
17.079
420.000 93.881
19.689