Thực trạng và những bất cập trong công tác xuất khẩu lao động ra nước ngoài và biện pháp nâng cao hiệu quả của nhà nước - Pdf 20



Lời nói đầu

Sau gần 20 năm đổi mới nền kinh tế, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trường, theo định hướng Xã hội chủ nghĩa và có sự quản lý của Nhà
nước, nền kinh tế nước nhà đã đạt được những thành tựu quan trọng bước đầu, song cũng chỉ
đáp ứng được một phần trước những nhu cầu cấp thiết của xã hội, đặc biệt là nhu cầu việc
làm do tỷ lệ thất nghiệp gia tăng từ chuyển đổi nền kinh tế và bùng nổ dân số.
Trong những năm gần đây, xuất khẩu lao động đã trở thành một hoạt động kinh tế -
xã hội quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của nước ta. Từ khi ra đời và phát triển
đến nay đã được hơn 20 năm, xuất khẩu lao động Việt Nam đã đạt được những thành tựu
đáng kể, song bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và những thách thức mới. Với sức
ép nội tại về việc làm, nguyện vọng của người lao động và lợi ích Quốc gia, đòi hỏi phải
được đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả, kể cả số lượng lẫn chất lượng của chương trình xuất
khẩu lao động, hiện tại cũng như trong những năm tới. Nhằm đưa lĩnh vực xuất khẩu lao
động lên một tầm cao mới, tương xứng với vị trí và vai trò quan trọng của nó.
Trong điều kiện, hoàn cảnh kinh tế nước ta hiện nay và xu hướng hội nhập kinh tế
quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu lao động Việt Nam hay thực chất là đưa nhiều lao động Việt
Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là một hoạt động cần thiết. Sau quá trình học tập,
nghiên cứu và đi thực tập, là một sinh viên tôi nhận thức sâu sắc rằng: Xuất khẩu lao động
quả thực là một vấn đề mới, rất khó và phức tạp; đang được Đảng, Nhà nước và toàn Xã hội
quan tâm, coi đó là một trong 4 ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Với lý do đó tôi đã
lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động

Việt Nam trong những năm tới” làm đề tài cho Luận văn tốt nghiệp của mình, nhằm góp
phần làm rõ thêm về mặt lý luận và đáp ứng yêu cầu thực tiễn cũng như những yêu cầu mới
đối với xuất khẩu lao động trong những năm tới.
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam hay thực
chất là việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

lao động Việt Nam trong những năm tới.
Hà Nội, ngày 16 tháng 12 năm 2003.
Người thực hiện:
Sinh viên: Nguyễn Lương Đoàn.
lời cảm ơn
Trước hết, cho phép em được bày tỏ lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể Thầy giáo,
Cô giáo trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội, đã dạy dỗ, dìu dắt em trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu tại Nhà trường.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Trưởng khoa Thương mại P.G.S T.S Trần Văn Chu,
Thầy giáo Phó chủ nhiệm khoa Thương mại T.S Trần Văn Hoè cùng tập thể các Thầy cô

trong khoa, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong việc học tập, rèn luyện cũng như đi
thực tập và viết đề tài luận văn của mình.
Đặc biệt, cho phép em được bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn chân thành tới Thầy giáo T.S
Nguyễn Anh Tuấn Phó phòng tổ chức cán bộ, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội,
người đã dành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn em trong việc định hướng, lựa chọn và
viết đề tài luận văn của mình.
Em cũng xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các Cô, Chú, Anh Chị cán bộ công nhân
viên Cục Quản lý Lao động với Nước ngoài – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội số 41 Lý
Thái Tổ – Hoàn Kiếm - Hà Nội cùng các Cô, Chú, Anh, Chị cán bộ công nhân viên thuộc
Công ty Cung ứng Nhân lực Quốc tế và Thương mại SONA số 34 Đại Cồ Việt – Hai Bà
Trưng – Hà Nội. Đã hợp tác, tận tình quan tâm giúp đỡ em trong suốt quá trình tìm hiểu và
nghiên cứu về các hoạt động quản lý, kinh doanh xuất khẩu lao động tại Cục và Công ty, để
em sớm hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Xin chân thành cảm ơn các Cá nhân, Tổ chức kinh tế, Xã hội đã cung cấp và cho phép sử
dụng tài liệu trong việc thực hiện và viết đề tài của cuốn luận văn này.
Hà Nội, ngày 16 thág 12 năm 2003.
Sinh viên: Nguyễn Lương Đoàn - Lớp 402 – KTĐN
Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động
1. Bản chất của hoạt động xuất khẩu lao động.

nhập khẩu lao động.
Như trên đã đề cập, việc các nước đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo nghĩa
rộng tức là tham gia vào quá trình di dân quốc tế và nó phải tuân theo hoặc là Hiệp định giữa
hai quốc gia, hoặc là phải tuân theo Công ước quốc tế, hoặc thông lệ quốc tế, tùy theo từng
trường hợp khác nhau mà nó nằm ở trong giới hạn nào.
Như vậy, việc di chuyển lao động trong phạm vi toàn cầu bản thân nó cũng có những
biến dạng khác nhau. Nó vừa mang ý nghĩa xuất khẩu lao động, vừa mang ý nghĩa của di
chuyển lao động. Do đó, đã phát sinh ra vấn đề sau:
1.1.8 Khái niệm thị trường.
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ.
1.1.9 Khái niệm thị trường lao động.
Thị trường lao động là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường trong nền kinh
tế thị trường phát triển. ở đó diễn ra quá trình thoả thuận, trao đổi, thuê mướn lao động giữa
hai bên, bên sử dụng và bên cho thuê lao động.
1.1.10 Khái niệm thị trường lao động trong nước.
Thị trường lao động trong nước là một loại thị trường, trong đó mọi lao động đều có
thể tự do di chuyển từ nơi này đến nơi khác, nhưng trong phạm vi biên giới của một quốc
gia.
l.1.11 Khái niệm thị trường lao động quốc tế.

Thị trường lao động quốc tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường thế
giới, trong đó lao động từ nước này có thể di chuyển từ nước này sang nước khác thông qua
Hiệp định, các Thoả thuận giữa hai hay nhiều quốc gia trên thế giới.
1.2 Sự hình thành và phát triển của thị trường hàng hoá sức lao động quốc tế.
Do sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển kinh tế – xã hội, cũng như sự
phân bố không đồng đều về tài nguyên, dân cư, khoa học công nghệ giữa các vùng, khu vực
và giữa các quốc gia, dẫn đến không một quốc gia nào lại có thể có đầy đủ, đồng bộ các yếu
tố cần thiết cho sản xuất và phát triển kinh tế.
Để giải quyết tình trạng bất cân đối trên, tất yếu sẽ dẫn đến việc các quốc gia phải tìm
kiếm và sử dụng những nguồn lực từ bên ngoài để bù đắp một phần thiếu hụt các yếu tố cần

Trong điều kiện hội nhập phát triển đời sống kinh tế như hiện nay, quan hệ cung –
cầu không còn bị bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, biên giới của một nước chỉ còn ý
nghĩa hành chính, còn quan hệ này ngày càng diễn ra trên phạm vi quốc tế, mà trong đó bên
Cung đóng vai trò là bên xuất khẩu và Cầu sẽ đại diện cho bên nhập khẩu lao động.
1.3 Sự cần thiết khách quan và vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế
– xã hội của Việt Nam.
1.3.1 Sự cần thiết khách quan phát triển hoạt động xuất khẩu lao động.

Thực tế cho thấy, nước ta là một quốc gia đông dân khoảng hơn 80 triệu người. Theo số liệu
thống kê năm 1998 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, nước ta có khoảng 40 triệu
người đang ở độ tuổi lao động, hàng năm tăng thêm 1,1 triệu lao động và hiện nay là 1,2
triệu lao động/năm, chiếm 3% trong tổng số lực lượng lao động. Riêng lao động kỹ thuật cao
chúng ta có khoảng 5 triệu chiếm khoảng 12,5%, trong đó lao động có trình độ Đại học, Cao
đẳng là 23% khoảng 1.150.000 người. Bên cạnh đó, hiện có khoảng 9,4 triệu lao động thiếu
việc làm, chiếm 23,5% lực lượng lao động. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong
độ tuổi ở khu vực đô thị đã giảm liên tục từ 10% năm 1991 xuống còn 5,88% năm 1996
nhưng đến năm 1998 tỷ lệ này lại nhích lên 6,85%(1) và lại tiếp tục giảm nhẹ xuống còn
6,28% vào năm 2001. Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn cũng có xu
hướng tăng lên từ 72,1% năm 1996 lên 74,4% vào năm 2001.
Với tình trạng tốc độ phát triển nguồn lao động nêu trên, mâu thuẫn giữa lao động và
việc làm ngày càng trở nên gay gắt đối với nền kinh tế. Nếu không giải quyết một cách hài
hoà và có những bước đi thích hợp giữa mục tiêu kinh tế và xã hội sẽ dẫn tới mất ổn định
nghiêm trọng về mặt xã hội. Cùng với hướng giải quyết việc làm trong nước là chính, xuất
khẩu lao động là một định hướng chiến lược tích cực quan trọng, lâu dài, cần phải được phát
triển lên một tầm cao mới, phù hợp với vai trò của nó. Đó cũng là xu hướng chung mà nhiều
nước xuất khẩu lao động đã quan tâm phát triển từ nhiều thập kỷ trước đây.
Để giải quyết được vấn đề này, xuất khẩu lao động đã trở thành một lĩnh vực cứu
cánh cho bài toán giải quyết việc làm không những của Việt Nam mà còn đối với cả hầu hết
các nước xuất khẩu lao động trong khu vực và trên thế giới, vì đây là lĩnh vực đạt được liền
lúc cả hai mục tiêu kinh tế – xã hội: vừa đảm bảo mục tiêu giải quyết công ăn việc làm, vừa

phần tạo công ăn việc làm và thu nhập cho hàng vạn lao động mỗi năm, đồng thời làm giảm
sức ép về việc làm và tạo sự ổn định xã hội ở trong nước…
1.4 Quy trình xuất khẩu lao động.
Trong mỗi một giai đoạn, xuất khẩu lao động đều có một quy trình xuất khẩu riêng,
phù hợp với tính chất của từng giai đoạn. Trong thời kỳ đầu (1980 – 1990), quy trình xuất
khẩu lao động được thực hiện chủ yếu trêu cơ sở Hiệp Định được ký kết giữa hai Chính phủ,
thoả thuận ngành với ngành. Cơ chế xuất khẩu lao động dựa trên mô hình nhà nước trực tiếp
ký kết và tổ chức thực hiện đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, các doanh nghiệp
không trực tiếp tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng, đồng thời các công đoạn cũng ít phức
tạp hơn… Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay quy trình xuất khẩu lao động Việt Nam đã có
nhiều thay đổi, các doanh nghiệp phải tự vận động tìm kiếm và xúc tiến xuất khẩu lao động.
Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong việc đàm phán cấp cao chứ không đóng vai trò chủ
đạo như trước kia. Do vậy, xuất khẩu lao động Việt Nam hiện tại chủ yếu được thực hiện
theo các bước sau đây:
Về phía Nhà nước.
Nhà nước chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc hướng
dẫn, tư vấn và đưa hợp tác lao động vào các chương trình làm việc, đàm phán cấp cao giữa

hai chính phủ với các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới có khả năng tiếp nhận
lao động Việt Nam.
Về phía doanh nghiệp xuất khẩu lao động.
- Chủ động tìm kiếm thị trường.
- Đàm phán ký thoả thuận (hợp đồng).
- Tuyển chọn lao động.
- Đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động.
+ Ngoại ngữ, kỷ luật lao động.
+ Phong tục, tập quán nước đến.
+ Nội dung hợp đồng.
+ Quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động.
- Tổ chức khám tuyển.

biện pháp quản lý đặc biệt và đã gặt hái được những thành công quan trọng trong những năm
qua.
1.5.2.1 Philippin:
Thành lập 3 cơ quan chuyên trách, độc lập thuộc Bộ Lao động và việc làm:

- Ban phát triển việc làm ngoài nước: chịu trách nhiệm quản lý mọi hoạt động về tuyển
mộ và bố trí lao động trên đất liền.
- Hội đồng thuỷ thủ quốc gia: chịu trách nhiệm về quản lý mọi hoạt động của các
doanh nghiệp tuyển mộ thuỷ thủ đi làm việc trên biển.
- Văn phòng dịch vụ việc làm: chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi các tổ chức tuyển
dụng đã được cấp giấy phép trong việc bố trí việc làm ngoài nước cho đến khi kết thúc hợp
đồng.
Chính phủ Philippin thực hiện quản lý các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân bằng
một cơ quan quản lý duy nhất là Cục Quản lý việc làm ngoài nước. Cơ quan này chịu trách
nhiệm về phát triển thị trường và cấp giấy phép, giám sát các doanh nghiệp đã được cấp giấy
phép. Hỗ trợ người lao động trước khi đi lao động ở nước ngoài, tại nơi làm việc và sau khi
lao động về nước.
Nhằm thực hiện tốt các nhiện vụ trên, Chính phủ Philippin đã quy định tất cả việc
thuê mướn, tuyển dụng lao động Philippin phải thông qua Cục Quản lý việc làm ngoài nước
hoặc công ty tuyển mộ được cấp phép, phải tổ chức đào tạo và huấn luyện cho người lao
động trước khi đi. Cho phép xuất khẩu cả những lao động có trình độ đặc biệt, thành lập các
quỹ lao động, quảng cáo và tổ chức đăng ký nguồn(1) nhưng phải nói rõ nguồn và không
được thu lệ phí của người lao động đến tuyển. Chính phủ Philippin cũng quy định: Đối với
các doanh nghiệp muốn được cấp giấy phép xuất khẩu lao động phải có giấy phép đăng ký
kinh doanh, đồng thời phải có khả năng về tài chính, có tài sản thế chấp từ 12.500USD trở
lên, phải nộp một khoản tiền đặt cọc 5000USD, phải nộp một khoản tiền bảo lãnh là
7.500USD và lệ phí xin cấp giấy phép 300USD cùng với đơn xin cấp giấy phép. Giấy phép

có giá trị trong vòng 24 tháng kể từ ngày cấp và có thể gia hạn bằng với thời gian giá trị giấy
phép. Giấy phép phải được tuân thủ theo các điều kiện sau:

1.5.3 Những bài học kinh nghiệm.
1.5.3.1 Vai trò của Nhà nước.
Để có thể tồn tại và phát triển phù hợp với những xu hướng vận động của nề kinh tế
thế giới và quá trình hội nhập kinh tế đang diễn ra trong khu vực và trên thế giới, xuất khẩu
lao động càng phải nhận được sự quan tâm, hướng dẫn chỉ đạo đặc biệt từ phía Nhà nước.
Cho nên muốn hay không muốn thì vai trò của nhà nước trong bối cảnh hiện nay và kể cả
trong tương lai vẫn đóng một vai trò quan trọng và cần thiết trong việc hoạch định chính
sách phát triển xuất khẩu lao động, nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết trong tình hình
mới. Thực tế đã chứng minh, càng ngày xuất khẩu lao động càng được các chuyên gia đưa
vào hoạch định chính sách phát triển kinh tế, coi xuất khẩu lao động là một trong các ngành
kinh tế mũi nhọn, quan trọng của đất nước trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội
của nước mình. Do đó để thực hiện tốt những mục tiêu có tính chất chiến lược đã được
hoạch định, Nhà nước phải ban hành hệ thống luật pháp, cơ chế và chính sách nhằm:
+ Tạo hành lang pháp lý cho hoạt động xuất khẩu lao động phát triển.

+ Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động
phát triển.
+ Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động…
1.5.3.2 Thu nhập và quyền lợi kinh tế, vấn đề không chỉ đối với người lao động.
Trong một vài thập kỷ trở lại đây, vấn đề nguồn thu ngoại tệ thu được(1) từ lao động
xuất khẩu đã có tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều quốc gia xuất khẩu lao động,
trong đó có Việt Nam chúng ta. Trong điều kiện suy thoái nền kinh tế, chính sách bảo hộ
mậu dịch của các nước phát triển đã tạo nên sức ép lên cán cân thanh toán của những nước
chậm và đang phát triển, thì nguồn kiều hối từ xuất khẩu lao động trở thành một nguồn quan
trọng trong việc làm cân bằng cán cân thanh toán. Bên cạnh đó, một số quốc gia đa đưa
lượng kiều hối từ xuất khẩu lao động vào tính toán thu nhập quốc dân. Chính những vấn đề
này buộc chúng ta phải thừa nhận vai trò tích cực và những thay đổi do xuất khẩu lao động
đã mang lại cho tổng nguồn thu của nền kinh tế quốc gia. Vì vậy, không một quốc gia nào
khi làm công tác xuất khẩu lao động lại chỉ chú ý và đảm bảo thu nhập kinh tế, quyền lợi cá
nhân người lao động, mà không tính đến những lợi ích quốc gia.

giới chủ đánh giá cao, tuy nhiên cũng có một số đặc điểm nổi bật cũng như hạn chế sau.
Ưu điểm:

- Thông minh, nhanh nhẹn, cần cù, chịu khó, ham hiểu biết.
- Trình độ học vấn tương đối cao.
- Nắm bắt công việc nhanh.
Nhược điểm:
- Tác phong công nghiệp kém (mang nặng tác phong nông nghiệp).
- Thể lực yếu, chưa thích nghi được với cường độ lao động công nghiệp.
- Ngoại ngữ kém.
- ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao.
2.1.2 Đặc điểm của thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam.
Nhìn chung, về thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam khá đa dạng, lao động Việt
Nam đã có mặt ở hầu hết khắp các khu vực cũng như Châu lục trên thế giới. Tuy nhiên, cho
đến thời điểm này, thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam tập trung chủ yếu ở một số
nước trong khu vực. Những thị trường này đều có khoảng cách gần gũi về địa lý, có nhiều
điểm tương đồng về truyền thống văn hoá cũng như khí hậu…
Một số quốc gia như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia hiện đang và sẽ còn tiếp tục
tiếp nhận lao động Việt Nam với số lượng lớn. Đặc biệt là thị trường Malaysia và thị trường
Đài Loan, đây là hai thị trường rất có thiện cảm với lao động Việt Nam, cho nên thay vì tiếp
nhận lao động các nước khác, nay họ chuyển dần sang tiếp nhận lao động Việt Nam với số
lượng lớn cho mọi ngành nghề khác nhau. Hàn Quốc và Nhật Bản cũng được coi là hai thị
trường khá dễ tính trong việc tiếp nhận lao động Việt Nam. Do yêu cầu về tiêu chuẩn lao
động không cao, nên phần lớn lao động Việt Nam đều có đủ điều kiện về thể lực, trí lực
cũng như trình độ tay nghề để đáp ứng. Hơn nữa, xu hướng của các thị trường nêu trên trong

những năm tới, sẽ vẫn còn tiếp nhận lao động giản đơn. Bên cạnh đó họ cũng có khả năng
tiếp nhận nhiều lao động có trình độ cao cho các lĩnh vực như: Phần mềm tin học.
Đối với các thị trường khác, tuy số lượng tiếp nhận không lớn như các thị trường
trong khu vực, do nhu cầu tiếp nhận, khác xa nhau về truyền thống văn hoá, tôn giáo và cách

việc đưa lao động ra nước ngoài bằng nhiều hình thức thích hợp.
Mục tiêu.
- Chủ yếu là đưa cán bộ, công nhân viên đi bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghề, nắm
vững những kỹ thuật then chốt, phức tạp, tinh vi trong quy trình chế tạo sản phẩm và trong
cả dây chuyền công nghệ, hoặc nắm vững những kiến thức và tay nghề cần thiết để có thể tự
mình thiết kế và chế tạo những sản phẩm mới.
- Phát huy mọi tiềm năng lao động và chất xám, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho
người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho Đất nước.
2.2.1.2 Kết quả xuất khẩu lao động.
Trong giai đoạn này, hoạt động xuất khẩu lao động chủ yếu dựa trên quan hệ hợp tác
sử dụng lao động giữa Việt Nam với các nước Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) thông qua các

hiệp định Chính phủ và các thoả thuận giữa ngành với ngành. Cơ chế xuất khẩu lao động
chủ yếu dựa trên mô hình Nhà nước trực tiếp ký kết và triển khai tổ chức thực hiện đưa
người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Từ 1980 – 1990, Việt Nam đã đưa đi được 265.501 lao động. Trong tổng số 265.501
lao động đã đưa đi, phần lớn lao động của ta chủ yếu được đưa sang 4 nước XHCN (Liên
Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Bungari) với tổng số lao động là: 240.301 người, trong đó có
91.955 lao động nữ, chiếm 38,26% và trong tổng số 240.301 lao động đã gửi đi chỉ có
101.084 người đã có nghề(1) chiếm 42,06%. Số lao động còn lại trước khi đi, phần lớn là
không nghề(2) bằng 57,94% tổng số lao động đưa sang 4 nước này. Ngoài số lao động gửi
sang các nước XHCN, Nhà nước ta còn gửi 25.200 lao động sang làm việc ở các nước khác
thuộc khu vực vùng Vịnh và Châu Phi.
Tiến độ đưa lao động Việt Nam làm việc tại các nước XHCN được thể hiện qua bảng
số (1) dưới đây.
Qua kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam thời kỳ từ 1980 – 1990 trên đây, ta nhận thấy một
số vấn đề sau:
Trong giai đoạn này, mặc dù chúng ta phải đối mặt với không ít những khó khăn về
kinh tế lẫn chính trị, song công tác xuất khẩu lao động và chuyên gia của chúng ta cũng đã
đạt được những kết quả quan trọng bước đầu làm tiền đề xúc tiến và phát triển cho xuất khẩu

động trong độ tuổi này để đưa đi. Do đó, sau khi kết thúc thời hạn lao động trở về, người lao
động vẫn còn có thể tiếp tục tái xuất hoặc làm việc ở trong nước tuỳ theo khả năng của
mình.
Có thể thấy rằng, cơ cấu ngành nghề ở 4 quốc gia trên tương đối đa dạng, nhưng chưa mang
tính đa dạng về loại, nhóm lao động. Việc làm của lao động Việt Nam đảm trách có tới hơn
90% là lao động giản đơn, chủ yếu là lao động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Tuy
nhiên cơ cấu ngành nghề này không phải do lao động Việt Nam được đào tạo từ trong nước,
mà phần lớn là do các nước tiếp nhận lao động của ta tự kèm cặp, đào tạo và sử dụng cho
đến khi kết thúc thời hạn lao động. Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, lao động có nghề của
ta chỉ chiếm 42,06% và số lao động không nghề chiếm tới 57,94% so với tổng số lao động
đưa đi.
Như vậy, qua kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời kỳ này đã cho thấy,
chất lượng lao động xuất khẩu của ta đã được nâng lên rõ rệt, điều này được thể hiện qua kết
quả xuất khẩu tăng dần từng năm, khẳng định lao động Việt Nam đã có thể đáp ứng nhu cầu
về lao động của nước tiếp nhận trong nhiều lĩnh vực.
2.2.2.1 Chủ trương và mục tiêu.
Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các nước XHCN ở Đông Âu tiếp
nhận lao động của ta đều xảy ra những biến động lớn về chính trị, kinh tế xã hội. Nhiều
nước ở Châu Phi có lao động Việt Nam làm việc cũng gặp khủng hoảng kinh tế xã hội và
chính trị, còn ở Trung Đông lại phải đối đầu với cuộc chiến tranh Iraq. Vì vậy mà hầu hết
các nước này không còn nhu cầu tiếp nhận lao động Việt Nam, thậm chí có tiếp nhận nhưng
đứt quãng và số lượng cũng không đáng kể. Trước những biến động bất ổn đó, để có thể tiếp
tục duy trì và phát triển xuất khẩu lao động, Chính phủ đã khẳng định: phải tiếp tục mở rộng

hợp tác quan hệ quốc tế, trong đó hợp tác về xuất khẩu lao động vẫn được coi như là một
ngành kinh tế mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia.
Chủ trương.
Mở rộng và hướng xuất khẩu lao động sang các nước trong khu vực và trên thế giới,
đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài bằng nhiều hình thức thích hợp, coi đó là một bộ phận
hữu cơ của chương trình lao động việc làm quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status