Phương thức quản lí nhà nước sau năm 1986 - Pdf 20

TiÓu luËn
M«n: KINH TÕ - X· HéI VIÖT NAM
Phương thức quản lí nhà nước său năm 1986 , những thành tựu to lớn đã
đạt được và những khó khăn trong công cuộc đổi mới đất nước
Mặc dù các cải cách từng phần từ năm 1979 đến 1982 đã có các tác
động quan trọng lên động lực sản xuất, nó vẫn không giải quyết thích hợp các
vấn đề cơ bản về kỷ luật tài chính, vật giá và cải cách cơ cấu hành chính quan
liêu. Thâm hụt thương mại và trong khu vực hành chính công tăng lên một
cách đáng báo động.
Lạm phát tăng nhanh và tăng trưởng bắt đầu chững lại từ năm 1985.
Chính phủ đã không phối hợp tốt các nỗ lực điều tiết tình trạng mất cân đối
này thông qua các cải cách tiền tệ, giá cả và tiền lương; dẫn đến lạm phát và
mất cân đối tài chính ngày càng gay gắt. Đến năm 1986, lạm phát đã lên đến
mức trung bình hàng năm hơn 500%, tăng trưởng chậm và thâm hụt ngoại tệ
tăng mạnh. Sự bất ổn này gây ra các áp lực xã hội đòi hỏi cải cách để tăng
tính ổn định của kinh tế vi mô. Cải cách từng phần khiến nền kinh tế lâm vào
tình trạng đứng giữa ngã ba đường, vừa không có các cưỡng chế của một hệ
thống kế hoạch hóa chặt chẽ, vừa không có các công cụ chính sách để quản lý
một nền kinh tế phân quyền. … “bộc lộ các yếu kém và không thích hợp về
sự lãnh đạo kinh tế và xã hội trong những năm qua, biểu lộ tính chủ quan,
nóng vội, bảo thủ, trì trệ, quan liêu, thiếu thực tế, vô trách nhiệm” (Đảng
Cộng sản Việt Nam 1986).
1
Đến năm 1986, Tổng Bí thư Đảng đã nhận ra các vấn đề do nhấn mạnh
quá mức vào kế hoạch hóa tập trung và sản xuất quy mô lớn, ông phát biểu:
‘… chúng ta đã phạm phải những sai lầm do “tính ấu trĩ tả khuynh”, duy ý chí
và vi phạm các quy luật khách quan của phát triển kinh tế xã hội. Các sai lầm
này được chứng minh trong ... [việc chú trọng quá mức vào] phát triển công
nghiệp nặng quy mô lớn vượt quá năng lực thực tế của chúng ta… [duy trì]
một cách quan liêu cơ chế tập trung hóa trong quản lý kinh tế dựa trên bao
cấp nhà nước với siêu cơ cấu nặng nề gây gánh nặng cho cơ sở hạ tầng. Kết

- Mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư nước ngoài.
Các định hướng chính sách đưa ra cuối Đại hội Đảng lần thứ VI vào
tháng 12/1986 đánh dấu sự chuyển hướng chính sách và là cao điểm trong các
cuộc tranh luận nội bộ mạnh mẽ về thất bại của hệ thống cũ gây ra các hậu
quả rõ ràng cho đời sống nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, mặc dù Đại hội VI
là bước ngoặt to lớn về định hướng chính sách nhưng công luận chỉ được biết
rất ít về các chính sách cải cách chi tiết cụ thể để đạt được thay đổi như mong
muốn. Các chi tiết về Đổi mới được bàn luận trong một loạt các phiên họp
Đảng sau Đại hội Đảng lần thứ VI, các tài liệu về phiên họp lần thứ ba và thứ
sáu đã thể hiện rõ ràng yêu cầu chuyển dịch từ kế hoạch hóa tập trung sang kế
3
hoạch chỉ tiêu và các đòn bẩy chính sách kinh tế vĩ mô (Đảng Cộng sản Việt
Nam ).
Trước khi kết thúc Đại hội VI, một số quyết định về kinh tế hộ gia đình
và vai trò của khu vực tư nhân, hợp tác xã và nhà nước trong ngành nông
nghiệp đã được ban hành. Sau Đại hội VI, các cản trở hành chính đối với hoạt
động của khu vực tư nhân và thương mại nội địa được nới lỏng dần. Đầu năm
1987, nhiều trạm kiểm soát trước kia được lập ra để hạn chế thương mại nội
địa đã được hủy bỏ và thị trường nông sản tư nhân phát triển nhanh chóng.
Giữa năm 1987, bắt đầu cải cách giá cả, giá chính thức của hầu hết
hàng hóa tiêu dùng không thiết yếu tăng lên gần với giá thị trường hơn và
phạm vi phân phối lương thực cắt giảm đáng kể. Cùng lúc tiền Đồng của Việt
Nam bắt đầu giảm giá mạnh.
Một thay đổi then chốt là vai trò của chính phủ trong quá trình công
nghiệp hóa. Nhà nước tập trung vào “xây dựng các cơ sở cần thiết để thúc đẩy
công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong các giai đoạn sau” (Đảng Cộng sản
Việt Nam 1987). Võ Đại Lược (1994:23) cho rằng đó là một thay đổi quan
trọng về quan điểm, “…trong khi công nghiệp hóa được xác nhận vẫn là một
nhiệm vụ cần thiết thì nội dung cơ bản của chính sách công nghiệp chỉ giới
hạn trong việc xây dựng các cơ sở cho công nghiệp hóa vào giai đoạn sau”.

Nghị quyết Đảng số 10 năm 1988 bắt đầu những cải cách to lớn, cải
thiện quyền lợi của các hộ gia đình nông thôn, giảm quyền pháp lý của các
5
hợp tác xã làng.

Tổng Bí thư Đảng cho rằng đó là một bước ngoặt trong phát
triển nông nghiệp (Đỗ Mười 1993). Thực tế, đó là một trong những bước
ngoặt then chốt trong toàn bộ quá trình cải cách. Quyền tài sản cho nông dân
(mặc dù vẫn giới hạn ở một mức độ nào đó), cùng với các cải cách về giá cả
và thương mại đã góp phần duy trì tăng trưởng trong nông nghiệp từ năm
1988. Tăng trưởng nông nghiệp mạnh mẽ năm 1989 (6.9%) đã bù đắp cho các
tác động xấu của chính sách tiền tệ thắt chặt bắt đầu trong cùng năm để kiểm
soát lạm phát – sản lượng công nghiệp giảm khoảng 4% trong năm 1989.
Một tháng sau, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành một loạt các nghị định
xác định quyền của khu vực ngoài quốc doanh trong sản xuất công nghiệp.
Hướng dẫn cho các chính sách này được củng cố trong Nghị quyết của Bộ
Chính trị tháng 7/1988. Các hướng dẫn thừa nhận đóng góp quan trọng tiềm
năng của khu vực ngoài quốc doanh vào sản xuất công nghiệp, và khẳng định
dứt khoát nhà nước thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu và thừa kế tài sản của
khu vực ngoài quốc doanh và các thu nhập hợp pháp của doanh nghiệp ngoài
quốc doanh.
Sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực tư nhân trong buôn bán lẻ cho
thấy khu vực tư nhân khá tự tin về một cơ sở thể chế tồn tại để thực thi các
hợp đồng cơ bản và bảo vệ quyền tài sản cho các hàng hóa buôn bán. Thậm
chí trước khi có các thay đổi pháp lý chính thức, các thay đổi dần dần xuất
hiện trong các thể chế không chính thức ảnh hưởng đáng kể đến phương thức
thực hiện kinh doanh. Điều này không có nghĩa là các thể chế này là hoàn
thiện. Các chương trình nghị sự về chính sách quốc gia hiển nhiên thừa nhận
rằng cần phát triển các thể chế chính thức để khuyến khích đầu tư tư nhân dài
hạn vào năng lực sản xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status