Ngành điện lực ứng dụng và phát triển các công trình quản lý sử dụng Công nghệ thông tin potx - Pdf 20


1

Chương 1: Cơ sở lý luận.
1.1. Lý luận về dự án và quản lý dự án đầu tư.
1.1.1. Khái niệm về dự án và quản lý dự án đầu tư.
1.1.1.1. Khái niệm dự án.
1.1.1.1.1. Khái niệm.
Có nhiều cách định nghĩa dự án. Tuỳ theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh
nào đó. Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: cách hiểu “tĩnh” và
cách hiểu “động”. Theo cách hiểu thứ nhất “tĩnh” thì dự án là hình tượng về một tình
huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới. Theo cách hiểu thứ hai “động” có thể định
nghĩa dự án như sau:
Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ
thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế
hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
Như vậy theo định nghĩa này thì:
- Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác
định.
- Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà phải cấu trúc nên một thực
thể mới.
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau:
Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy
nhất.
Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính:

2

- Nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn). Nghĩa là, mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt
đầu và điểm kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được
hoặc khi xác định rõ ràng mục tiêu của dự án không thể đạt được và dự án bị loại bỏ.

với các bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị Một số trường hợp,
các thành viên quản lý dự án thường có hai thủ trưởng trong cùng một thời gian nên
sẽ gặp khó khăn không biết thực hiện quyết định nào của cấp trên khi hai lệnh mâu
thuẫn nhau.
- Tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng tiền vốn, vật tư
và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời
gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro
cao.
1.1.1.1.2. Chu kỳ của dự án đầu tư.
Chu kỳ của hoạt động đầu tư là các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt đầu
từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động.
Ta có thể minh hoạ chu kỳ của dự án theo sơ đồ sau đây:
Chu kỳ một dự án đầu tư được thể hiện thông qua ba giai đoạn: Giai đoạn tiền đầu tư
(Chuẩn bị đầu tư), giai đoạn đầu tư (Thực hiện đầu tư) và giai đoạn vận hành các kết
quả đầu tư (Sản xuất kinh doanh).

4

Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần
tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm nâng
cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo thuận lợi cho việc tiến
hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp.
Trên cơ sở chu kỳ một dự án đầu tư chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét cơ bản
sau đây:
- Trong 3 giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư (tiền đầu tư) tạo tiền đề
và quyết định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là đối với giai
đoạn vận hành kết quả đầu tư. Do đó, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất
lượng, vấn đề chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là quan
trọng nhất. Trong quá trình soạn thảo dự án phải dành đủ thời gian và chi phí theo đòi
hỏi của các nghiên cưú. Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5 đến

1.1.1.2. Khái niệm và tác dụng của quản lý dự án.
1.1.1.2.1. Khái niệm.
Phương pháp quản lý dự án lần đầu được áp dụng trong lĩnh vực quân sự Mỹ vào
những năm 1950, đến nay nó nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi vào các lĩnh vực
kinh tế, quốc phòng và xã hội. Có hai lực lượng cơ bản thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ của phương pháp quản lý dự án là:

6

- Nhu cầu ngày càng tăng những hàng hoá và dịch vụ sản xuất phức tạp, kỹ
nghệ tinh vi, trong khi khách hàng ngày càng khó tính;
- Kiến thức của con người (hiểu biết tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật) ngày
càng tăng.
Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát
quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn,
trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và
chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho
phép.
Quản lý dự án bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều phối
thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện và thực
hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục tiêu xác định.
- Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định những công việc
cần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển
một kế hoạch hành động theo trình tự logic mà có thể biểu diễn dưới dạng sơ đồ hệ
thống.
- Điều phối thực hiện dự án. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm: tiền
vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian.
Giai đoạn này chi tiết hoá thời hạn thực hiện cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi
nào bắt đầu, khi nào kết thúc).
- Giám sát là quá trình theo dõi, kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình

vậy, trong quá trình quản lý dự án các nhà quản lý hi vọng đạt được sự kết hợp tốt
nhất giữa các mục tiêu quản lý dự án.
1.1.1.2.2. Tác dụng của quản lý dự án.
Mặc dù phương pháp quản lý dự án đòi hỏi sự nỗ lực, tính tập thể và yêu cầu hợp
tác nhưng tác dụng của nó rất lớn. Phương pháp quản lý dự án có những tác dụng chủ
yếu sau đây:
- Liên kết tất cả các hoạt động, công việc của dự án.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản
lý dự án với khách hàng và nhà cung cấp đầu vào cho dự án.
- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành
viên tham gia dự án.
- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều
chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được. Tạo điều
kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất
đồng.
- Tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn.
1.1.2. Nội dung của quản lý dự án.
1.1.2.1. Quản lý vĩ mô và vi mô đối với dự án.
1.1.2.1.1. Quản lý vĩ mô đối với hoạt động dự án.
Quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước đối với dự án bao gồm tổng thể các biện pháp
vĩ mô tác động đến các yếu tố của quá trình hình thành, hoạt động và kết thúc dự án.
Trong quá trình triển khai thực hiện dự án, nhà nước mà đại diện là các cơ quan
quản lý nhà nước về kinh tế luôn theo dõi chặt chẽ, định hướng và chi phối hoạt động

9

của dự án nhằm đảm bảo cho dự án đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế – xã
hội. Những công cụ quản lý vĩ mô chính của nhà nước để quản lý dự án bao gồm các
chính sách, kế hoạch, quy hoạch như chính sách về tài chính tiền tệ, tỷ giá, lãi suất,
chính sách đầu tư, chính sách thuế, hệ thống luật pháp, những quy định về chế độ kế

lượng cho việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án phải đáp ứng
mong muốn của chủ đầu tư.
1.1.2.2.5. Quản lý nhân lực.
Quản lý nhân lực là việc hướng dẫn, phối hợp những nỗ lực của mọi thành viên
tham gia dự án vào việc hoàn thành mục tiêu dự án. Nó cho thấy việc sử dụng lực
lượng lao động của dự án hiệu quả đến mức nào?
1.1.2.2.6. Quản lý thông tin.
Quản lý thông tin là đảm bảo quá trình thông tin thông suốt một cách nhanh nhất
và chính xác giữa các thành viên dự án và với các cấp quản lý khác nhau. Thông qua
quản lý thông tin có thể trả lời được các câu hỏi: Ai cần thông tin về dự án, mức độ
chi tiết và các nhà quản lý dự án cần báo cáo cho họ bằng cách nào?
1.1.2.2.7. Quản lý rủi ro.
Quản lý rủi ro là xác định các yếu tố rủi ro của dự án, lượng hoá mức độ rủi ro và
có kế hoạch đối phó cũng như quản lý từng loại rủi ro.

11

1.1.2.2.8. Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán.
Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán của dự án là quá trình lựa chọn, thương
lượng, quản lý các hợp đồng và điều hành việc mua bán nguyên vật liệu, trang thiết
bị, dịch vụ, cần thiết cho dự án. Quá trình quản lý này giải quyết vấn đề: bằng cách
nào dự án nhận được hàng hoá và dịch vụ cần thiết của các tổ chức bên ngoài cung
cấp cho dự án, tiến độ cung, chất lượng cung như thế nào?
1.1.2.2.9. Lập kế hoạch tổng quan.
Lập kế hoạch tổng quan cho dự án là quá trình tổ chức dự án theo một trình tự
logic, xác định những công việc cần làm, nguồn lực thực hiện và thời gian làm những
công việc đó nhằm hoàn thành tốt mục tiêu đã xác định của dự án. Kế hoạch dự án là
việc chi tiết hoá các mục tiêu dự án thành những công việc cụ thể và hoạch định một
chương trình để thực hiện các công việc đó nhằm đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác
nhau của dự án đã được kết hợp một cách chính xác và đầy đủ.

1.1.3.1. Căn cứ vào trách nhiệm và quyền hạn về quản lý và điều hành dự án.
1.1.3.1.1. Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án.
Quản lý dự án theo mô hình chủ đầu tư (chủ dự án) trực tiếp quản lý là hình thức
tổ chức quản lý dự án không đòi hỏi cán bộ chuyên trách quản lý dự án phải trực tiếp
tham gia điều hành dự án mà chủ đầu tư trực tiếp quản lý điều hành.Các nhà quản lý

13

dự án chuyên nghiệp không chịu trách nhiệm trực tiếp đối với việc thực hiện và kết
quả cuối cùng của dự án mà chỉ đóng vai trò cố vấn, tư vấn cho chủ đầu tư.
Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thường được áp dụng cho các dự án
quy mô nhỏ, đơn giản về kỹ thuật và gần với chuyên môn của chủ dự án, đồng thời
chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn kỹ năng và kinh nghiệm quản lý dự án. Chủ
đầu tư được lập và sử dụng bộ máy có năng lực chuyên môn của mình mà không cần
lập ban quản lý dự án.
1.1.3.1.2. Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án.
Mô hình tổ chức “Chủ nhiệm điều hành dự án” là mô hình tổ chức trong đó chủ
đầu tư giao cho ban quản lý điều hành dự án chuyên ngành làm chủ nhiệm điều hành
hoặc thuê tổ chức có năng lực chuyên môn để điều hành dự án và họ được đại diện
toàn quyền trong mọi hoạt động thực hiện dự án. Chủ nhiệm điều hành dự án là một
pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ là người quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về
kết quả đối với toàn bộ quá trình thực hiện dự án. Mọi quyết định của chủ đầu tư về
dự án mà liên quan đến các đơn vị thực hiện sẽ được triển khai thông qua chủ nhiệm
điều hành dự án. Hình thức này áp dụng cho những dự án quy mô lớn, tính chất phức
tạp.
1.1.3.1.3. Mô hình chìa khoá trao tay.
Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khoá trao tay là hình thức tổ chức trong đó nhà
quản lý dự án không chỉ là đại diện toàn quyền của chủ đầu tư - chủ dự án mà còn là
“chủ” của dự án.
Hình thức tổ chức dự án dạng chìa khoá trao tay áp dụng khi chủ đầu tư được phép

môn và kinh nghiệm của mình.
Nhược điểm:
- Đây là cách quản lý không theo yêu cầu khách hàng.
- Vì dự án được đặt dưới sự quản lý của một bộ phận chức năng nên bộ phận
này thường có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến việc hoàn thành nhiệm vụ chính
khác của nó mà không tập trung cố gắng vào việc giải quyết thoả đáng các vấn đề của
dự án. Các bộ phận chức năng khác có trách nhiệm tham gia dự án cũng có tình hình
tương tự. Trong một vài trường hợp, dự án không nhận được ưu tiên cần thiết, vì vậy
không đủ phương tiện để hoạt động hoặc bị coi nhẹ.
1.1.3.2.2. Tổ chức chuyên trách quản lý dự án.
Hình thức tổ chức chuyên trách dự án về thực chất là tạo ra một xí nghiệp con do
một chủ nhiệm dự án quản lý. Mô hình tổ chức này có dạng như hình 1.7
Ưu điểm:
- Đây là hình thức tổ chức theo yêu cầu khách hàng nên có thể phản ứng nhanh
trước yêu cầu của thị trường.
- Nhà quản lý dự án có đầy đủ quyền lực đối với dự án.
- Tất cả các thành viên của dự án chịu sự điều hành trực tiếp của chủ nhiệm dự
án (chứ không phải những người đứng đầu các bộ phận chức năng điều hành).
- Do dự án tách khỏi các phòng chức năng nên đường thông tin được rút ngắn.
Nhược điểm:
- Thứ nhất, khi công ty hay chủ đầu tư thực hiện đồng thời vài dự án và phải
đảm bảo đủ số cán bộ cho từng dự án thì có thể dẫn đến tình trạng lãng phí nhân lực.

16

- Thứ hai, do yêu cầu phải hoàn thành tốt mục tiêu về hoàn thiện, thời gian, chi
phí của dự án nên nhà quản lý dự án có xu hướng thuê chuyên gia giỏi vì nhu cầu dự
phòng hơn là đáp ứng nhu cầu thực.
1.1.3.2.3. Tổ chức quản lý dự án dạng ma trận.
Loại hình tổ chức dự án dạng ma trận là sự kết hợp 2 loại hình tổ chức dự án theo

viễn thông được thực hiện nhờ công nghệ vi điện tử.
Sự hình thành của công nghệ thông tin được minh hoạ như ở hình vẽ 1.8. Liên lạc
là công nghệ lâu đời nhất trong số 3 công nghệ kể trên. Các hệ thống liên lạc bằng
điện đã phát triển suốt từ những năm 1840. Công nghệ máy tính ra đời từ những năm
1940, thoạt đầu vì những mục đích quân sự. Công nghệ vi điện tử bắt đầu từ những
năm 1960 và đã sớm dẫn đến sự hội tụ nhanh chóng của cả 2 công nghệ lâu đời hơn
thành một công nghệ mới mà ngày nay chúng ta gọi là Công nghệ thông tin.
1.2.1.1.2. Quá trình phát triển.
Trong lịch sử phát triển nhân loại, cho tới cuối thế kỷ thứ XX, loài người đã trải qua
5 cuộc cách mạng thông tin.
Tiêu chí để phân biệt các cuộc cách mạng thông tin là những thay đổi căn bản về
các công cụ tiếp nhận, lưu trữ, xử lý, truyền thông tin và về khối lượng thông tin có
thể phổ biến được cho mọi người.

18

Cuộc cách mạng thông tin lần thứ nhất được khởi đầu bằng việc con người có
được tiếng nói - đánh dấu điểm ngoặt căn bản trên bước đường phát triển tiến hoá của
loài người. Kể từ đây, con người tách hẳn khỏi thế giới động vật . Nhờ có tiếng nói,
thông tin tạo ra được thay đổi, truyền bá và lưu trữ và trở thành một động lực mạnh
mẽ thúc đẩy quá trình giao tiếp và phát triển kỹ thuật ở những giai đoạn phát triển đầu
tiên của thời đại nông nghiệp.
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ hai đánh dấu bằng việc phát minh ra chữ viết.
Đây là một công cụ căn bản, làm thay đổi phương thức sinh hoạt của cộng đồng, dẫn
đến chỗ mở rộng phạm vi phát triển và tạo lập các hệ thống cộng đồng mới vượt ra
khỏi tầm phạm vi của các quan hệ huyết thống trong thời đại nông nghiệp. Nhờ có
chữ viết, thông tin đã được lưu trữ, truyền bá nhanh chóng với khối lượng tri thức lớn
để tư duy, phát triển và sáng tạo các kỹ thuật và công nghệ mới. Chữ viết đã tạo điều
kiện thuận lợi chưa từng có để phát triển và sáng tạo kỹ thuật, công nghệ. Tri thức
được ghi lại, tích luỹ, truyền bá, sử dụng đã đưa kỹ thuật và công nghệ phát triển đến

Regional information infrastructure) và hạ tầng cơ sở thông tin toàn cầu (GII – Global
information infrastructure). Trong đó, biểu trưng đặc sắc nhất và nổi bật nhất là mạng
Internet.
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu
hóa diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, khoa học công nghệ, chính trị,

20

quân sự , đồng thời đang tạo ra những thách thức mới đối với các quan niệm truyền
thống về tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người. Mặc dù chưa có thể dự
đoán được hết các tác động của mạng Internet đối với loài người nhưng trên thực tế,
cuộc cách mạng thông tin lần này đang mở ra một kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên số
hoá làm đảo lộn tư duy và sinh hoạt của xã hội loài người.
Trên cơ sở các thế hệ máy tính mới, các nước tư bản chủ nghĩa phát triển như Mỹ
đang xây dựng thế hệ mạng thông tin toàn cầu mới - đó là Internet 2 và Internet thuộc
thế hệ tiếp theo (NGI – Next Generation of Internet ) với tốc độ truy cập cao hơn tốc
độ của mạng Internet hiện nay 1000 lần. Với những tác động có tính cách mạng mà
đến nay chỉ có thể so sánh được với các truyện viễn tưởng.
1.2.1.1.3. Vai trò của Công nghệ thông tin trong nền kinh tế nước ta.
Đảng và Nhà nước ta đã nhận định công nghệ thông tin là một trong các động lực
quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang
làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại.
Việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải
phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi
mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo
khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
Nhận thức được tầm quan trọng lớn lao của công nghệ thông tin, cho nên ngay từ

chưa được phát huy mạnh mẽ , ứng dụng công nghệ thông tin ở một số nơi còn
hình thức, chưa thiết thực và còn lãng phí.
Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai
trò của công nghệ thông tin chưa đầy đủ; thực hiện chưa triệt để các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước; chưa kết hợp chặt chẽ ứng dụng công nghệ thông
tin với quá trình cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, cải cách hành chính, đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; chậm ban hành các chính sách đáp ứng nhu cầu
ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ; ; chưa coi đầu tư cho xây dựng hạ tầng
thông tin là loại đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế, xã hội.
Chính vì vậy, một trong những mục tiêu cơ bản mà Đảng ta đã đề ra đó là: “Công
nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những
yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội.”
Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, Đảng ta đã chỉ ra nhiều giải pháp và nhiệm
vụ; và một trong những giải pháp đó là: “Các doanh nghiệp, trước hết là các Tổng
công ty 90 và 91 cần đầu tư cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, sử dụng
thương mại điện tử, coi đó là các biện pháp cơ bản để đổi mới quản lý, đổi mới công
nghệ, cơ cấu lại sản xuất, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.”
1.2.1.2. Tình hình ứng dụng và vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động của
Tổng Công ty điện lực Việt Nam.
1.2.1.2.1. Khái quát tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của
EVN.
Thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, EVN- với tư
cách là một trong những Tổng công ty lớn, đóng vai trò chủ quản, chỉ đạo và chi phối

23

mọi hoạt động trong toàn ngành điện - đã rất chú trọng phát triển công tác công nghệ
thông tin trong thời gian qua. Trung tâm Công nghệ thông tin được thành lập làm đầu
mối quản lý về công nghệ thông tin cho toàn Tổng công ty. Một loạt các dự án công
nghệ thông tin đang và sẽ được triển khai bằng nguồn hỗ trợ của các tổ chức phát

- Hình thành nên một mô hình tổ chức quản lý tiên tiến, một môi trường làm
việc hiện đại. Với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của mình đã
giúp cho EVN có được một mô hình tổ chức quản lý tiến bộ. Một hệ thống thông tin
thông suốt được nối từ lãnh đạo cấp cao của EVN tới các đơn vị trực thuộc. Điều đó
giúp cho các cấp lãnh đạo nhanh chóng nắm bắt tình hình hoạt động của các đơn vị từ
đó mà có các quyết định quản lý chính xác và kịp thời. Bên cạnh đó, việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản lý đã làm giảm bớt gánh nặng của việc xử lý những
thủ tục giấy tờ, giúp EVN tin học hoá được các thủ tục hành chính, nhờ đó mà tinh
giảm được một bộ phận lao động và nâng cao năng suất lao động.
- Nâng cao khả năng, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của các đơn
vị sản xuất – kinh doanh trong EVN. Với việc đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ
cán bộ, kĩ sư, đầu tư mua sắm các trang thiết bị hiện đại nói chung và việc ứng dụng
các sản phẩm của công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất và kinh doanh nói
riêng, các công ty, các đơn vị có chức năng sản xuất- kinh doanh trực thuộc EVN đã

25

từng bước trưởng thành về nhiều mặt. Có thể lấy khối tư vấn thiết kế xây dựng điện
(bao gồm các Công ty tư vấn xây dựng điện 1, 2, 3, 4 và Viện Năng Lượng) làm ví
dụ. Nhờ được đầu tư như vậy, các đơn vị này từ chỗ chủ yếu làm công tác khảo sát
thiết kế đến nay đã đảm đương được hầu hết hơn 15/19 loại hình công tác tư vấn theo
thông lệ Việt Nam và Quốc tế từ khâu chuẩn bị dự án, thực hiện dự án cho đến đưa
dự án vào hoạt động. Họ có thể thực hiện được hầu hết các loại hình công tác tư vấn
của các công trình XDCB có tính truyền thống và các công trình lớn, kỹ thuật công
nghệ mới phức tạp sau khi đã hợp tác, làm thầu phụ cho các chuyên gia nước ngoài,
thông qua các dự án đã và đang xây dựng tại Việt Nam.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động đầu tư các dự án Công nghệ thông tin.
- Thứ nhất, hoạt động đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin đòi hỏi một số
lượng vốn lớn (do chi phí cho đầu tư cho các thiết bị công nghệ thông tin thường rất
lớn) và để nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status