Hiệu quả kinh tế - môi trường trong việc tái chế giấy vụn - Pdf 20

LỜI MỞ ĐẦU
Trước quá trình đô thị hoá nhanh và sự phát triển ngày một cao của nền
công nghiệp trong mỗi quốc gia, cũng như trên phạm vi toàn thế giới nhiều vấn
đề môi trường đã nảy sinh và thực sự trở thành nỗi lo của toàn nhân loại.
Ở nước ta CNH - HĐH đất nước thời gian qua đã đạt được những thành
tựu quan trọng cả về kinh tế lẫn xã hội, đồng thời cũng đang đặt ra nhiều vấn đề
môi trường cấp bách mà nếu không được giải quyết thoả đáng và kịp thời sẽ
đem lại việc duy trì bền vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, thậm chí còn làm
chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội.
Trong số các vấn đề môi trường cấp bách hiện nay thì vấn đề tái chế tái sử dụng
chất thải nổi lên như một vấn đề môi trường ưu tiên nhằm chuyển chất thải từ
một thứ được coi như không có giá trị trở thành một nguồn lực, một yếu tố đầu
vào của hệ thống kinh tế. Vì vậy, biện pháp tái chế tái sử dụng chất thải không
chỉ đạt về mặt hiệu quả kinh tế mà còn mang lại hiệu quả về mặt môi trường,
làm cho phát triển kinh tế trở nên "thân thiện" với bảo vệ môi trường - nâng cao
khả năng phát triển bền vững.
Nắm bắt được hiệu quả to lớn đó, hiện nay ở Việt Nam nhiều cơ sở sản
xuất đã biết kết hợp giữa các yếu tố truyền thống với công nghệ hiện đại hình
thành nên các qui trình sản xuất qui mô lớn, các làng nghề tái chế phế thải như
sắt, giấy, nhựa... Những làng nghề này rất phát triển trong những năm gần đây
đã góp phần quan trọng vào việc tái chế phế thải ở Việt Nam cũng như làm giảm
sức ép lên vấn đề khai thác tài nguyên, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao
động dư thừa ở nông thôn. Song, đi đôi với hiệu quả mà các làng nghề mang lại
thì nhiều vấn đề môi trường tại đây đã trở lên trầm trọng, trong đó đặc biệt là
làng nghề tái chế giấy vụn. Chính vì vậy để hiểu được những lợi ích kinh tế và
các vấn đề môi trường nảy sinh tại làng nghề, nhóm chúng em mạnh dạn nghiên
cứu một điển hình là làng giấy Dương Ổ với đề tài:
"Hiệu quả kinh tế - môi trường trong việc tái chế giấy vụn ở làng Dương
Ổ - Phong Khê - Yên Phong - Bắc Ninh".
1
Để đạt được mục tiêu của đề tài trong quá trình nghiên cứu phương pháp

* Thực trạng chất thải rắn ở Hà Nội và các làng nghề:
3
* Thực trạng chất thải của các cơ sở kinh tế gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng ở Việt Nam:
Ước tính hiện nay tổng lượng chất thải rắn thải ra ở Việt Nam khoảng
49,3 nghìn tấn/ngày, trong đó chất thải rắn công nghiệp khoảng 54,8% (khoảng
27 nghìn tấn), chất thải sinh hoạt: 44,4% (khoảng 21,9 nghìn tấn) và chất thải
bệnh viện: 0,8% (khoảng 0,4 nghìn tấn).
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, tổng lượng chất thải rắn
của Việt Nam nói trên là không lớn. Thế nhưng điều đáng quan tâm ở đây là
lượng chất thải này, nhất là chất thải sinh hoạt và chất thải bệnh viện ở hầu hết
các địa phương và thành phố chưa được xử lý hợp vệ sinh trước khi thải ra môi
trường. Các chất thải rắn ở các khu đô thị và các khu công nghiệp hầu như
không được phân loại trước khi chôn lấp. Tất cả các loại chất thải (công nghiệp,
sinh hoạt, y tế) đều được chôn lấp lẫn lộn. Tỷ lệ thu gom chất thải chỉ đạt 20 -
30%. Lượng chất thải không được thu gom và chôn lấp (70 - 80%) đã và đang
gây nên những tác động môi trường, ảnh hưởng không tốt không chỉ tới đời
sống, sinh hoạt mà còn cả tới hoạt động kinh tế. Ngay cả chất thải được chôn lấp
cũng đã và đang đặt ra những vấn đề về môi trường.
* Thực trạng chất thải ở Hà Nội
URENCO và CEFTIA đã tiến hành điều tra quản lý chất thải công nghiệp
tại Hà Nội năm 1998. Các công việc đánh giá về hiện trạng này được tiến hành
qua phỏng vấn, thu nhận và điều tra tình hình tạo chất thải từ hoạt động công
nghiệp.
- Ước tính có xấp xỉ 51.000 tấn chất thải công nghiệp thải ra trong năm
1997 từ các ngành công nghiệp tại Hà Nội, bao gồm cả các chất thải từ phòng
ban và nhà bếp tại các cơ sở công nghiệp.
- Khối lượng các chất thải độc hại trong năm 1997 vào khoảng 53,5 tấn.
- Các loại chất thải công nghiệp độc hại cần được xử lý gồm chất thải
lỏng, chất thải rắn.

gom than chưa đốt hết và mành nhựa ở khu đồ thải này họ sử dụng phế liệu này
để đun cám lợn. Chính quyền địa phương đã yêu cầu các chủ xưởng sản xuất
5
xây dựng các lò đốt rác để xử lý chất thải này. Điều này dường như không thực
tế do nhiều lý do:
Thứ nhất: chất thải có thể đốt dễ dàng trong nồi hơi, nhưng họ không làm
như vậy bởi vì các chủ xưởng và cá nhân lo lắng cho họ từ việc đốt chất thải sẽ
làm ám mùi nên nồi hơi, khi nó tập trung trong xưởng sẽ làm bẩn giây chuyền
sản xuất.
Thứ hai: Một mối lo ngại khác trong chất thải hữu cơ (và giấy) ở nhiệt độ
1200?oC có thể phát thải các hợp chất có độc tính như dioxin.
Mặc dù chất thải rắn do cơ sở sản xuất giấy thải ra là lượng không lớn,
quy mô nhỏ song phân bố rải rác dẫn tới ô nhiễm môi trường trong diện rộng
ảnh hưởng tới nguồn nước sông hồ và cả nguồn nước ngầm gây tác hại xấu cho
tiểu thủ công nghiệp và sức khoẻ cộng đồng dân cư. Sở dĩ có những tồn tại nêu
trên là do các nguyên nhân sau:
- Do hình thành phát triển một cách tự phát theo nhu cầu thị trường các cơ
sở sản xuất thường phân tán và nằm xen kẽ trong khắp các khu vực dân cư rất
khó kiểm soát với các nguồn chất thải.
- Do chưa có quy hoạch phát triển nên hầu hết các mặt bằng sản xuất kinh
doanh cũng là nơi sinh hoạt nên rất chật hẹp, hệ thống thu gom chất thải rắn
không đảm bảo.
- Phần lớn các hộ gia đình tổ hợp sản xuất... đang sử dụng các thiết bị cũ
kỹ, chắp vá từ nhiều nguồn, trình độ công nghệ lạc hậu dẫn tới tình trạng tiêu
tốn nhiên vật liệu đồng thời cũng thải ra nhiều khí thải.
- Nhận thức vệ sinh môi trường của các hộ sản xuất kinh doanh còn hạn
chế, các cơ sở chưa thực sự coi trọng vai trò khoa học công nghệ và vấn đề bảo
vệ môi trường.
- Quản lý Nhà nước đối với các làng nghề là buông lỏng trong quá trình
sản xuất, vấn đề môi trường sinh thái chưa được quan tâm đúng mức, chưa có

- Lưu giữ và địa điểm chôn lấp.
- Đỗ trực tiếp chất thải chưa xử lý vào các thuỷ vực.
- Đổ các chất thải chưa xử lý xuống cống rãnh thoát nước.
7
- Thu gom và đốt chất thải bừa bãi trên các bãi đất trống, cống rãnh thoát
nước.
- Thu gom và chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt tại các bãi đổ rác
hoặc bãi chôn rác.
- Đốt tại nguồn phát sinh hoặc ở xa nguồn phát sinh.
Tại các nước phát triển vẫn còn nhiều hoạt động đổ chất thải công nghiệp
trái phép, nhưng hầu hết chất thải công nghiệp đó đều được chuyển ra các bãi ch
ôn lấp (bãi chôn lấp rác đô thị hoặc các bãi chôn lấp chất thải nguy hiểm), hoặc
mang đi thiêu đốt (tại các trạm thiêu đốt rác sinh hoạt hoặc ở các trạm thiêu đốt
chất thải nguy hiểm), hoặc chuyển đến xử lý hoá học vật lý xa nguồn thải (chỉ
các chất thải nguy hiểm), xuất ra khỏi nhà máy để xử lý hoặc chôn lấp (chất thải
nguy hiểm), hoặc xử lý tại nguồn thải bằng các công nghệ "cuối đường ống"
trước khi xả vào cống rãnh thoát nước và sông. Khác với các nước phát triển,
các chất thải nguy hiểm và không nguy hiểm cũng như các chất thải lỏng rắn và
bùn ở các nước đang phát triển có xu thế trộn lẫn nhau và trộn lẫn với rác sinh
hoạt tại các bãi chôn rác. Việc trộn lẫn các chất thải nguy hiểm với các chất thải
không nguy hiểm không chỉ làm trầm trọng các vấn đề nan giải về ô nhiễm nước
ngầm do rò rỉ mà còn gây ra các rủi ro về sức khoẻ cho những người nhặt rác, họ
sống và làm việc tại các bãi đổ rác.
* Thu hồi - tái chế - tái sử dụng:
Có thể nói phương thức thu gom vận chuyển và công nghệ xử lý rác ở
Việt Nam vẫn còn thô sơ và lạc hậu. Hầu hết các đô thị đều chưa có hệ thống
thu gom hoàn thiện, vì vậy hiệu quả còn rất thấp.
Bên cạnh việc thu gom chất thải còn có những chất thải có thể sử dụng tái
tạo lại được nhằm mục tiêu tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng, nâng cao chất
lượng môi trường tránh cho môi trường không tiếp nhận năng lượng.

con người sử dụng một cách không hợp lý nó cũng trở thành không phục hồi.
Hiện nay nguồn tài nguyên không thể phục hồi đang bị cạn kiệt. Để trả lời
cho toàn nhân loại về sự cạn kiệt của tài nguyên không thể phục hồi là tìm cách
sử dụng một cách tối ưu.
2. Tài nguyên có thể phục hồi:
9
Ranh giới giữa nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt và nguồn tài nguyên có
thể phục hồi không phải luôn luôn rõ ràng. Trong một thời gian nào đó việc
khám phá và sự thay đổi về công nghệ có thể tái tạo lại nguồn tài nguyên có thể
bị cạn kiệt bằng cách tiến hành khai thác những mỏ mới hoặc từ những nguyên
liệu cấp thấp.
Kết luận rằng nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt có thể được phục hồi thì
tương tự như vậy nguồn tài nguyên có thể phục hồi càng có thể bị cạn kiệt.
II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH ĐỂ LƯỢNG HÓA CHI
PHÍ VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC TÁI SỬ DỤNG CHẤT THẢI
1. Hàng hoá môi trường và vấn đề ngoại ứng
Môi trường tự nhiên là một hệ thống chứa đựng các nguồn tài sản trong
đó vai trò chính là cung cấp cho sự sống của con người. Các công ty , cơ sở sản
xuất kinh doanh cần đến môi trường tự nhiên bởi đó chính là nơi cung cấp
nguồn đầu vào chính của các quá trình sản xuất. Con người cũng cần có nước để
uống, không khí để thở, những cảnh quan đẹp để vui chơi giải trí. Ngoài ra môi
trường tự nhiên còn là nơi chứa đựng loại chất thải từ quá trình sản xuất của các
doanh nghiệp hay tiêu dùng của bản thân con người. Với những vai trò như vậy,
việc duy trì một sự công bằng nhất định trong hệ thống môi trường là một yêu
cầu khách quan phải từ thực tế. Tuy nhiên hầu hết các hàng hoá môi trường gần
như là hàng hoá công cộng hoặc hàng hoá hỗn hợp: việc tiêu dùng nó không loại
trừ bất cứ một ai cũng như xuất hiện những người ăn theo( những người không
phải trả bất cứ một chi phí nào cho việc tiêu dùng một đơn vị hàng hoá môi
trường). Chính vì vậy mà ngoại ứng và thất bại là điều không thể tránh khỏi.
2. Ngoại ứng - vấn đề thất bại thị trường

những lợi ích này không được phản ánh vào giá cả của hoa. Đây là một tổng hợp
của ngoại ứng tích cực.
Ngoại ứng dù tiêu cực hay tích cực đều làm cho giá cả không phản ánh
được giá trị của một hàng hoá dịch vụ nào đó. Vì thế nó là nguyên nhân gây ra
thất bại thị trường.
b) Ngoại ứng - nguyên nhân gây ra thất bại thị trường:
Ở đây để đơn giản chúng ta chỉ xét thị trường cạnh tranh hoàn hảo
11
b.1. Ngoại ứng tiêu cực:
Giả sử xét một hàng hoá nào đó trên thị trường mà người ta xác định được
chi phí tương ứng với giá của sản phẩm là P, chi phí bán của sản phẩm đó là MC
(=MPC). Người ta cũng tính ra được hoạt động đó gây ra một ngoại ứng tiêu cực
là MEC. Kết quả được thể hiện ở hình bên.
- Đối với doanh nghiệp, mức sản xuất kinh doanh có hiệu quả cá nhân đạt
được tại điểm O
1
(O
1
, P).
- Tuy nhiên khi đứng trên khía cạnh xã hội, thì việc sản xuất ra hàng hoá
trên ngoài gi MC thuần của ĐN thì hoạt động này cũng gây ra 1 gi cho XH là
MEC (hay chi phí MT). Vì vậy chi phí thực của XH (MSC) sẽ là tổng 2 loại chi
phí này. Ta có MSC = MC + MEC.
Và mức hiệu quả đạt được của XH là tại điểm E, (Q*, P). Q* được gọi là
sản lượng tối ưu (hay mức ô nhiễm tối ưu). Từ kết quả trên ta thấy, hiệu quả XH
đạt được khi doanh nghiệp giảm số lượng sản phẩm trên 1 lượng là ∆a = Q
1
-
Q*, về thực chất chính là giảm 1 lượng trai ∆W = WQ
1

đường câu D. Hoạt động này cũng tạo ra một lợi ích ngoài và được xác định
bằng đường MEB. Kết quả được thể hiện ở mô hình bên.
- Đối với doanh nghiệp: mức sản xuất kinh doanh có hiệu quả đạt được tại
điểm O
2
(P, Q
2
)
- Đối với XH: ngoài lợi ích MB do việc sản xuất sản phẩm M mang lại thì
hoạt động này cũng tạo ra 1 lợi ích ngoài là MEB. Vậy tổng lợi ích mà XH có
được là tổng 2 loại lợi ích này. MSB = MB + MEB.
Mức hiệu quả XH đạt được tại điểm E
2
(P, Q*
2
). Q*
Để đạt được mức hiệu quả này doanh nghiệp phải tăng mức sản lượng lên
∆Q = Q*
2
- Q
2
. Tuy nhiên vì lợi ích ngoại tác do hoạt động sản xuất sản phẩm
mang lại (MEB) doanh nghiệp không được nên doanh nghiệp có xu hướng sản
xuất kinh doanh mức sản lượng < Q* và tối ưu là Q
2
. Việc này đã gây ra một
thiệt hại cho phúc lợi xã hội 1 lượng = S∆ E
2
O
2

vấn đề này khoa học kinh tế môi trường đã đưa ra một số phương pháp đánh giá
như:
Các phương pháp không dùng đường cầu:
- Phương pháp đáp ứng liều lượng
- Phương pháp chi phí thay thế
- Phương pháp chi phí cơ hội
Các phương pháp dùng đường cầu
- Phương pháp chi phí du lịch (CTCM)
- Phương pháp đánh giá theo hưởng thụ
- Phương pháp đánh giá theo ý thích
Tuy nhiên giới hạn mục tiêu nghiên cứu của đề tài này chúng ta chỉ
nghiên cứu một số phương pháp sau:
14
MSB MSC
MC
MEC
MBMEB
E
1
E
2
E
Q
1
*
Q
*
Q
2
*

15
lúa (hay giảm sản lượng cá đánh bắt) có thể do rất nhiều nguyên nhân khách
quan tác động khác nữa.
3.2. Phương pháp chi phí cơ hội:
Đây là một khái niệm khá phổ biến trong kinh tế học vi mô và được vận
dụng khá tinh tế trong kinh tế học môi trường. Nó đã trở thành một công cụ hữu
hiệu để đánh giá hàng hoá môi trường.
- Cơ sở:
+ Chúng ta thường gặp một thực tế là: trên một địa bàn lãnh thổ nào đó,
môi trường tự nhiên sẽ chứa đựng nhiều thành phần tài nguyên trong đó mà việc
khai thác nguồn tài nguyên này xung đột với việc khai thác sử dụng nguồn tài
nguyên khác. Như vậy đòi hỏi chúng ta phải có một sự lựa chọn trong số các tài
nguyên thì yếu tố nào là tối ưu nhất trong một thời điểm và không gian cụ thể.
+ Trên là lý luận trên cơ sở thực tế học môi trường, một lý thuyết chung
nhất mà ta có thể áp dụng trong mọi trường hợp đó là: mọi sự lựa chọn đều có
chi phí cơ hội của nó - đó là cơ hội tốt nhất bị bỏ qua khi ta lựa chọn một
phương án nhất định.
- Nội dung các bước:
+ Liệt kê và lên danh sách tất cả các hoạt động có sự lựa chọn trong khu
vực cần đánh giá mà liên quan tới vấn đề phát triển kinh tế ở khu vực đó.
+ Dự tính lần vòng của mỗi phương án được liệt kê.
+ Xác định chi phí cơ hội: là chi phí có được lớn nhất mà ta đã xác định ở
bước trên đ từ đó xác định giá trị hàng hoá môi trường.
VD1. Khi muốn đánh giá chất lượng môi trường Quảng Ninh trước hết
trước hết ta cần liệt kê các tài nguyên mà ở vùng đó có như: than đá, đá vôi, hải
sản phát triển giao thông bến cảng, du lịch... Trong diện tích tài nguyên này với
từng loại kế hoạch phát triển KT-XH cụ thể ta phải xác định mô hình, xác định
triển vọng cho từng loại tài nguyên cụ thể. Vậy chi phí cơ hội là:
T = S tài nguyên đo. Tài nguyên nào có vốn rộng lớn nhất (gi cơ hội lớn
nhất) đ giá trị môi trường.

Trong đó: Qi: số người mắc bệnh i 1 năm trên 1000 người tại địa bàn
nghiên cứu (VD: địa bàn nghiên cứu là làng Dương Ổ)
Qbqi: số người mắc bệnh i 1 năm/1000 người của tổng thể
17
CFi: chi phí trung bình cho 1 lần khám chữa bệnh i
K
1
=
N
1
= Số lần đi khám của 1 người/năm
4.2. Chi phí cơ hội của bệnh và người nhà bệnh nhân
a) Chi phí cơ hội của người bệnh (thông qua việc mất thu nhập khi bị
bệnh)
TC
2
=
Trong đó: P: thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn nghiên cứu
NNi: số ngày nghỉ trung bình của bệnh i trong một năm
K
2
=
b) Chi phí cơ hội của người nhà bệnh nhân
TC
3
=
Trong đó: K
3
=
K


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status