33
*Theo thành phần kinh tế
-DNNN
-DNNQD
-Hộ sản xuất
-Cho vay khác
(Nguồn báo cáo tín dụng các năm 2000,2001,2002)
Doanh số cho vay và doanh thu của ngân hàng No&PTNTTP Hà Nội trong năm
2001 tuy có tăng so với năm 2000 nhưng tốc độ tăng còn chưa cao phải sang đến
năm 2002 thì mới phục hồi và tăng trưởng ở mức rất đáng kể . Sở dĩ tăng dần lên
là do nền kinh tế đang phục hồi do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đã
tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam tạo ra tâm lý lo sợ cho các nhà đầu tư
nước ngoài khiến cho họ xin rút giấy phép đầu tư làm ảnh hưởng trực tiếp đến các
ngành lắp máy xây dựng là những khách hàng đã có quan hệ với Ngân hàng, do
đó trong năm 2000 quan hệ với các khách hàng này còn quá ít, tình hình trả nợ
còn gặp nhiều khó khăn. Bước sang năm 2001 tình hình lại khó khăn hơn do nền
kinh tế nước ta tăng trưởng chậm kéo theo là giảm phát, Ngân hàng nhà nước liên
tục hạ trần lãi suất cho vay làm cho tình hình tài chính của các Ngân hàng thương
mại thêm khó khăn hơn. Cạnh tranh Ngân hàng trong năm 2000 bước sang năm
2001 gay gắt chưa từng có, các Ngân hàng thương mại quốc doanh dư thừa vốn
nên đua nhau hạ lãi suất cho vay và giành giật khách hàng, nhất là các doanh
nghiệp nhà nước lành mạnh. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động
của NHNo&PTNTHà Nội. Tuy nhiên nhờ sự nỗ lực của toàn bộ nhân viên trong
năm 2002 Ngân hàng đã đạt được kết quả đáng khích lệ .Trong năm 2002 doanh
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
34
số cho vay của ngân hàng đã tăng 22.4% ,doanh số thu nợ tăng 2,5 % so với năm
2001. Kết quả đạt được đấy cũng cho thấy định hướng phát triển của NHNo
&PTNTTPHN trong những năm qua là đúng đắn. Đó là duy trì khai thác tối đa
còn chưa được mở rộng lắm do độ rủi ro ẩn chứa cao nhưng cũng là một vấn đề
mà Ngân hàng cần có biện pháp để tạo ra một cơ cấu cho vay hợp lý hơn.
Tóm lại có thể thấy nổi bật lên trong quan hệ tín dụng của NHNo & PTNTTP Hà
Nội với khách hàng là quan hệ với các doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng cũng
đang dần dần từng bước mở rộng quan hệ cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh.
b)Tình hình nợ quá hạn:
Như các nhà quản lý Ngân hàng thường nói, lợi nhuận tỷ lệ thuận với rủi ro lợi
nhuận cáng lớn thì rủi ro càng cao. Do đó bên cạnh những kết quả đáng khích lệ
đã đạt được cũng giống như các Ngân hàng khác trong những năm qua NHNo
&PTNTHà Nội cũng rơi vào tình trạng NQH cao. Điều này đã làm giảm hiệu quả
sử dụng vốn cũng như vòng quay của vốn làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
của Ngân hàng,Ban lãnh đạo Ngân hàng đã có những biện pháp hợp lý để ngăn
ngừa và xử lý NQH, làm cho tỷ lệ NQH trong tổng dư nợ giảm xuống và có
những biểu hiện đáng mừng.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
36
Chúng ta xem xét bảng sau để có cái nhìn tổng quát về tình hình NQH tại NHNo
&PTNT Hà Nội:
Bảng 2: Diễn biến nợ quá hạn theo thời hạn vay
(Đơn vị :Triệu VND)
* Tổng dư nợ
- Tổng NQH
+ Tổng NQH – NH
+ Tổng NQH, trung và dài hạn
TổngNQH/Tổng DN 1,7% 2,5% 2,8%
(Nguồn báo cáo tổng kết các năm 2000, 2001, 2002
Biểu đồ: Tình hình NQH trong Tổng Dư Nợ:
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy NQH trong 3 năm 2000, 2001, 2002 đều tăng dần
lớn nguyên nhân của nợ quá hạn cho vay ngắn hạn cao là do thời hạn vay vốn
ngắn Ngân hàng cũng như khách hàng xác định thời gian cho vay không chính
xác, thêm vào đó là việc khách hàng làm ăn thua lỗ, do hàng hoá ứ đọng không
bán được để thu vốn để trả nợ Ngân hàng dẫn đến bị chiếm dụng vốn, vỡ nợ ,cố
tình chây ỳ không trả nợ Ngân hàng để sử dụng vào mục đích kinh doanh có lợi
khác. Đó cũng chính là nguyên nhân làm cho tỷ trọng cho vay ngắn hạn của Ngân
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
38
hàng ngày càng ít đi. Như vậy dự án đầu tư theo kế hoạch dài hạn là tương đối có
hiệu quả.
Mặc dù vậy tín dụng trung dài hạn do có thời gian đáo hạn dài nên chứa đựng
nhiều rủi ro tiềm ẩn. Bước vào cơ chế thị trường cạnh tranh khốc liệt doanh
nghiệp không thể tránh khỏi những khó khăn, gặp không ít thất bại trong kinh
doanh dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng. Do vậy tỷ lệ NQH trung và dài hạn trên tổng
nợ quá hạn thấp không có nghĩa là các khoản cho vay trung và dài hạn có ít rủi ro
bởi các khoản vay này chưa đến ngày đáo hạn. Điều này đỏi hỏi cán bộ tín dụng
NHNo&PTNTTP Hà Nội phải thường xuyên theo dõi các khoản cho vay để sớm
phát hiện ra những dấu hiệu xấu.
*Phân loại NQH theo các thành phần kinh tế:
Bảng 3: Cơ cấu NQH theo các thành phần kinh tế:
(Đơn vị :triệu VNĐ)
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
1.DNNN
2.DNNQD
3.Hộ sản xuất
4.Cho vay khác
Biểu đồ 2: Diễn biến NQH theo thành phần kinh tế:
Qua số liệu trên cho ta thấy nợ quá hạn của doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
năm2000 là 1823 triệu chiếm 80,7% tổng NQH.Sang đến năm 2001 tiếp tục tăng
40
tỉ lệ NQH tỉ lệ thuận với tổng dư nợ tức tổng dư nợ càng tăng thì tỉ lệ NQH cũng
tăng theo.
ở năm 2000 tỉ lệ NQH đạt ở mức cao nhất là do thực tế các khoản cho vay đối với
các DNNQD đã đến hạn từ năm 1999 và nhiều khoản chưa trả nợ được nhưng
sang năm 2000 mới hạch toán. Sở dĩ như vậy là do trong những năm qua Doanh
nghiệp ngoài quốc doanh được thành lập một cách ồ ạt mở rộng quy mô song lại
tách rời khả nănng tài chính các doanh nghiệp còn quá ít vốn thậm chí còn không
có vốn hoạt động kinh doanh hay ra đời bằng vốn ảo ( chủ yếu hoạt động bằng
vốn vay hay vốn đi chiếm dụng ), không tự chủ được về vốn nên kinh doanh thua
lỗ, đó chưa kể rủi ro đạo đức có thể xảy ra. Cùng với sự phát triển của đất nứơc,
trong những năm qua nước ta có thêm nhiều công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn,
tuy nhiên công ty cổ phần do mới thành lập hay do chuyển từ doanh nghiệp nhà
nước sang và đặc biệt là các công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động vẫn chưa thực
sự có kết quả do vậy tỷ lệ các khoản nợ quá hạn của thành phần kinh tế này còn
cao.Do vậy trước tình hình NQH của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát
sinh,ngân hàng đã tiến hành nhiều biện pháp thu hồi nợ nên cuối cùng đã đạt được
những kết quả đáng mừng trong năm 2002.Điều này chứng tỏ ngân hàng đã thấy
được tiềm năng và nội lực của thành phần kinh tế này và có xu hướng đầu tư một
cách có hiệu quả.
Các khoản nợ của các hộ sản xuất và cho vay khác ở ngân hàng không chiếm tỉ
trọng cao cả về dư nợ lẫn tỉ lệ NQH.Chứng tỏ ngân hàng không chú trọng lắm đến
việc mở rộng các khoản cho vay với thành phần kinh tế này.Tuy nhiên ngân hàng
cũng nên xem xét để khai thác tiềm năng từ thành phần kinh tế này và cần nâng
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
41
cao kĩ năng,nghiệp vụ của cán bộ tín dụng để luôn hạn chế rủi ro và tỉ lệ NQH ở
mức thấp nhất có thể.
*Căn cứ vào thời gian NQH:
Nói chung tỉ lệ NQH của ngân hàng tuy có tăng nhưng không đáng kể đặc biệt nếu
xét tỉ lệ NQH/Tổng dư nợ thì ta càng thấy rõ điều này và càng thấy ngân hàng
hoạt động vẫn hiệu quả.Điều này chứng tỏ ngân hàng đã tích cực áp dụng những
biện pháp khác nhau nên đã hạn chế được số NQH ở mức có thể chấp nhận được.
Căn cứ và nguyên nhân phát sinh NQH:
(nguồn cáo cáo tín dụng các năm 2000,2001,2002)
Bảng 5:Cơ cấu Nợ quá hạn theo nguyên nhân phát sinh:
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
I.Nguyên nhân của tổ chức tín dụng
II.Nguyên nhân khách quan
1.Do bất khả kháng và cơ chế chính sách
-Do sắp lại doanh nghiệp
-Do thay đổi cơ chế chính sách
-Do chỉ định hoặc quyết định của cấp trên
2.Do khách hàng của ngân hàng
-Do kinh doanh thua lỗ
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
43
-Do sử dụng vốnvay không đúng mục đích
-Do khách hàngvay có chủ ý lừa đảo
-Do khách hàngbị phá sản
-Nguyên nhân khác
Tổng nợ quá hạn
Đứng từ góc độ này để phân tích NQH sẽ cho ta đánh giá kết quả công tác phòng
ngừa NQH và cũng là một cơ sở để đưa ra phương thức xử lí nợ quá hạn.
Ta có thể dễ dàng nhận thấy NQH phát sinh chủ yếu do nguyên nhân từ phía
khách hàng và chiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong tổng NQH của ngân hàng.Nợ
quá hạn quá hạn do nguyên nhân phát sinh tứ phía khách hàng cũng đang có dấu
hiệu giảm dần dặc biệt trong năm 2001 nếu xét về tỉ trọng thì nợ quá hạn do phía
đã có những thay đổi đáng kể từ chỗ nợ quá hạn đang ở mức khá cao nhưng dù
vậy vẫn vẫn luôn giữ ở mức cho phép đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân
hàng ,trong đó nợ quá hạn chủ yếu tập trung ở các món vay ngắn hạn.Các khoản
nợ phát sinh chủ yếu từ các năm trước và trong 2 năm gần đây do công tác cán bộ
được cảI tiến nhiều cũng như những thay đổi hợp lí trong chính sách của ngân
hàng mà NQH phát sinh mới giảm đáng kể và không ở tình trạng quá suy yếu.
2.Các biện pháp phòng ngừa và xử lí nợ quá hạn tại ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn thành phố Hà Nội:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
45
a)Các biện pháp phòng ngừa:
Như ta đã biết, NQH là một trong những rủi ro khó có thể tránh khỏi của tất cả các
ngân hàng. Một trong những nguyên nhân là do các ngân hàng có biện pháp phòng
ngừa khác nhau và mỗi một biện pháp lại đem lại một kết quả khác nhau.Trong đó
các biện pháp thường được áp dụng ở ngân hàng No&PTNTTP Hà Nội là:
*Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý:
Chính sách tín dụng của Ngân hàng là một hệ thống các biện pháp nhằm mở rộng
hay thu hẹp hoạt động cho vay
*Nghiên cứu khách hàng:
Mục tiêu kinh doanh hàng đầu của các Ngân hàng thương mại là lợi nhuận, song
trên con đường tìm kiếm lợi nhuận tối đa đó, các Ngân hàng thương mại luôn gặp
phải một rào cản đó là rủi ro. Để phòng ngừa, hạn chế rủi ro các NHNoHN đã áp
dụng nhiều biện pháp trong đó biện pháp cơ bản có vị trí quan trọng số một là phải
phân tích, đánh giá một cách toàn diện khách hàng trước khi cho vay, nếu khách
hàng được đánh giá là tốt thì được Ngân hàng cho vay.
*Thiết lập hệ thống thông tin khách hàng:
Ngoài việc nghiên cứu thu thập thông tin về các doanh nghiệp trong hồ sơ khách
hàng ,NHNo&PTNTTP Hà Nội còn thu thập thông tin từ trung tâm rủi ro,NHNN
và các NHTM khác.Ngoài ra,các số liệu của cơ quan thông kê,báo chí… liên quan
47
được xác định lại là trung hạn thì chuyển sang cho vay trung hạn,hoặc khách hàng
đưa thêm tài sản mới để thế chấp,cầm cố bổ sung bảo đảm món vay thì bổ sung
thời hạn cho vay.
* Thúc nợ:
Là biện pháp đệm,chuẩn bị cho các bước khởi kiện qua việc kết hợp với chính
quyền địa phương để áp lực thu hối nợ.
* Gán nợ:
Là hình thức trừ cân nợ bằng cách NHNo &PTNT Hà Nội mua lại tài sản thế
chấp,cầm cố của người vay với giá hợp lí.
* Khởi kiện:
Là bước xử lí sau cùng khi các bước xử lí trên được thực hiện nhưng vẫn không
thu hồi được nợ.
Việc xử lí tài sản thế chấp ở NHNo &PTNTTP Hà Nội chủ yếu dựa trên 3 phương
thức:
- Nhận gán nợ:nói chung phương thức này chưa được áp dụng nhiều tạI\i ngân
hàng.Hơn nữa hiện nay nếu ngân hàng muốn nhận tài sản gán nợ còn phải tổ chức
định giá với sự tham gia của các cơ quan thi hành án,viện kiểm soát nhân
dân,chính quyền địa phương,phòng tài chính,phòng xây dựng quận, huyện nơi có
tài sản thế chấp nên khá phức tạp.
+ Phát mại tài sản thế chấp qua trung tâm đấu giá:Việc phát mại tài sản thế chấp
theo cách này thường rất tốn kém.Mặt khác,khi ngân hàng đề nghị cơ quan thi
hành án chuyển việc giải quyết tài sản thế chấp qua trung tâm đấu giá thì công tác
thi hành án rất chậm và gặp nhiều khó khăn,thậm chí bị ép giá. Do vậy, người đi
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
48
vay sẽ bị thiệt thòi nhiều và không chấp nhận.Hơn nữa,theo hiến pháp nước Cộng
hoà XHCN Việt Nam thì “Mọi công dân đều có quyền về nhà ở”. Điều đó buộc
chung không thể phản ánh được thực trạng nội bộ. Ngoài ra, quan hệ trao đổi
thông tin với các Ngân hàng khác chưa rộng.
- Công tác kiểm toán nội bộ giữ một vai trò khá quan trọng trong quản lý kinh
doanh Ngân hàng nhưng lại chưa được coi trọng. Việc kiểm nội bộ có tác dụng
kiểm tra lại các hoạt động của Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng của
Ngân hàng nói riêng (kiểm tra quá trình ghi chép sổ, lập các biểu, báo cáo .) giúp
kịp thời phát hiện những sai phạm của bản thân Ngân hàng, của cán bộ tín dụng để
có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời, Ngân hàng nên chú trọng công tác này.
- Hiểu biết của cán bộ tín dụng về các lĩnh vực này còn hạn chế. Do vậy việc tư
vấn cho khách hàng ít và gặp nhiều khó khăn trong quá trình kiểm tra trước và sau
khi cho vay.
- Các biện pháp áp dụng trong việc xử lý còn chưa phong phú, đa dạng cần phải
có thêm một số biện pháp khác để việc xử lý nợ quá hạn đạt kết quả cao hơn.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
50
Chương III: Một số kiến nghị và giảI pháp phòng ngừa nợ quá hạn tạI NHNoHN.
I.Phương huớng hoạt động tín dụng &kế hoạch thu hồi nợ năm 2003:
1.Mục tiêu định hướng hoạt động tín dụng năm 2003:
Căn cứ vào định hướng kinh doanh năm 2003 của HĐQT Ngân hàng No&PTNT
Việt Nam và kế hoạch kinh doanh năm 2003 của ngân hàng No&PTNTHN đã
được tổng giám đốc giao kế hoạch,từ thực tế kinh doanh năm 2003, phòng kinh
doanh xây dựng chỉ tiêu kế hoạch tín dụng năm 2003 như sau:
- Dư nợ cuối năm đạt 2600 tỉ đồng tăng trưởng 30% so với năm 2002
- Dư nợ ngắn hạn đạt 1600 tỉ đồng chiếm 61,5% tổng dư nợ,tăng trưởng 27,1% so
với năm 2002
Trong năm 2002 NHNo&PTNTHN đã kịp thời triển khai những văn bản của
Chính phủ, của NHNN và của các bộ ngành liên quan và đã đạt những hiệu quả rất
đáng khích lệ. Tiến tới năm 2003 Ngân hàng đã có những kế hoạch và phương
hướng thu hồi nợ như sau:
- Phải không ngừng tăng cường công tác kiểm tra trước ,trong và sau khi cho
vay.Trong đó thẩm định là một trong những khâu quan trọng quuyết định đến hiệu
quả và an toàn của vốn vay.
- Về hồ sơ vay vốn nói riêng và hồ sơ tín dụng nói chung: từng bước sắp xếp,
chỉnh sửa đúng chế độ, lưu giữ cẩn thận.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
52
- Việc thu hồi nợ đến hạn, nợ quá hạn, thu lãi vay,thu nợ rủi ro đx được chú trọng
- Hàng tháng cán bộ tín dụng và cán bộ kế toán phải phối hợp chặt chẽ với nhau
trong việc thông báo nợ đến hạn để cán bộ tín dụng đôn đóc khách hàng trả nợ
đúng hạn hoặc gia hạn nợ (nếu cần), tránh chuyển nợ quá hạn nếu không cần thiết.
Để đạt được kế hoạch đã đề ra không những cần có sự nỗ lực của bản thân ngân
hàng mà còn có sự giúp đỡ từ phía Chính Phủ, NHNN…Ngoài những biện pháp
mà ngân hàng đã và đang tiến hành, em xin góp một vài ý kiến về việc phòng
ngừa xử lí NQH.
II/Kiến nghị đối với chính phủ và ngân hàng Nhà nước:
Trong thời gian qua,chính phủ và ngân hàng nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
pháp quy mới nhằm củng cố hệ thống pháp luật. Tuy nhiên,việc làm này không
phải đơn giản mà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn mới cần khăc phục. Đứng
trên góc độ nhằm phòng ngừa và xử lí NQH,tôi xin có một số ý kiến sau:
1.Kiến nghị đối với Nhà nước,ngân hàng nhà nước và các cơ quan chức năng:
a)Kiến nghị ngăn ngừa hạn chế Nợ quá hạn:
- Chính phủ phải có thái độ dứt khoát sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước,chỉ
để tồn tại những doanh nghiệp làm ăm có hiệu quả, nhưng doanh nghiệp cần thiết
cho dân sinh,cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
hàng.Qui đinh mới phải thể hiện được lãi suất làm căn cư xác định lãi suất NQH
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
54
là mức lãi suất hai bên đang áp dụng đối với khoản vay tại thời điểm chuyển sang
NQH.Có như vậy,việc áp dụng lãi suất NQH mới có ý nghĩa.
*Về thời gian gia hạn vay:
Việc gia hạn nợ vay thuộc thẩm quyền quyết định của Ngân hàng nhà nước theo
qui định tại khoản 4 đIều 54 Luật các tổ chức tín dụng về thơì gian gia hạn
nợ.Việc qui định này là quá cứng nhắc không tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lí một
số trường hợp phát sinh từ thực tiễn đòi hỏi phải có sự qui định linh hoạt trong
chính sách như trưòng hợp khách hàng bị thua lỗ trong 2,3 năm do các nguyên
nhân bất khả kháng.
* Về thời hiệu khởi kiện:
Qui định về thời hiệu khởi kiện vụ án kinh tế 6 tháng với hoạt động ngân hàng là
quá ngắn vì các khoản nợ vay của khách hàng khi đáo hạn chưa trả cho ngân
hàng,ngân hàng thường phải thương lượng với khách hàng để tìm ra giải pháp tốt
nhất để thu nợ,tránh phải đưa ra kiện tụng tranh chấp trước toà án,do đã mất một
khoảng thời gian dài.Nếu khách hàng biết được qui định này cố tình không xác
nhận trong thời gian 6 tháng thì ngân hàng không thể khởi kiện do hết thời hiệu
khởi kiện,nên quyền lợi chính đáng của ngân hàng không được bảo vệ.Do vậy
thiết nghĩ nên kéo dài thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp liên quan đến hoạt
động ngân hàng.
b)Kiến nghị xử lí nợ quá hạn
- Các cơ quan chức năng cần phát hiện và xử lí kịp thời các truờng hợp ra đời của
một doanh nghiệp ngoàI quốc doanh băng “vốn ảo”.Mạnh dạn cho giảI thể,phá
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
55
sản doanh nghiệp làm ăn thua lỗ không có khả năng trả nợ ngân hàng kéo dài quá
điệu.Do vậy,ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội nên
thiết lập một bộ phận chuyên trách về thông tin rủi ro,gọi là phòng nghiên cứu rủi
ro nhằm thu thập thông tin nhanh,đầy đủ và kịp thời hơn.
Bên cạnh việc khai thác thông tin từ trung tâm tín dụng của ngân hàng nhà
nước,thông tin còn cần được khai thác triệt để từ các nguồn khác chẳng hạn như:
*Thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng
*Thông tin khai thác qua những lần tiếp xúc,giao tiếp với khách hàng,thông qua
mối quan hệ với các ban ngành liên quan.
2.Tăng cường công tác nghiên cứu khách hàng:
Trong công tác nghiên cứu khách hàng trước khi cho vay, việc sử dụng các hệ tài
chính để đánh giá khách hàng là rất quan trọng. NHNo&PTNTHà Nội đã sử dụng
một hệ thống các hệ số tài chính để đánh giá tình hình tài chính của khách hàng
khá hiệu quả,tuy nhiên ngân hàng nên sử dụng thêm hệ số tài trợ để đánh giá.
3.Cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng:
Chính nhờ giải pháp này mà cán bộ tín dụng sẽ có được kiến thức khá tốt giúp cho
việc tư vấn kinh doanh cho khách hàng có thể phát triển được.Việc cung cấp dịch
vụ này sẽ giúp cho cả khách hàng và ngân hàng cùng phát triển.
4.Tăng cường kiểm tra giám sát khách hàng vay vốn theo dõi rủi ro có thể xảy ra
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
57
Cán bộ tín dụng cần có những cuộc viếng thăm đột xuất khách hàng của mình để
kiểm tra tình hình sủ dụng tiền vay,tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng
để có những đánh giá sơ bộ về hiệu quả dự án vốn vay.Đồng thời kiểm tra qua các
nguồn thông tin khác nhau thu thập được về khách hàng.Trên cơ sở đó thường
xuyên bổ sung thông tin vào hồ sơ khách hàng để phản ánh đúng kịp thời thực
trạng của khách hàng,giúp ngân hàng chủ động hơn trong quan hệ với khách hàng.
5.Ngân hàng khuyến khích khách hàng vay vốn mở tài khoản tại ngân hàng mình:
Để tiện theo dõi tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng,ngân
hàng nên khuyến khích khánh hàng mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng mình.Từ