PHẦN MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
I. Khái niệm và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán :
1. Khái niệm về tổ chức công tác kế toán:
Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức công
tác quản lý ở doanh nghiệp. Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra các hoạt
động kinh tế- tài chính, do đó công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của
công tác quản lý, đồng thời nó còn ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu khác nhau
của các đối tượng trực tiếp và gián tiếp.
2. Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán: để tổ chức công tác kế toán khoa họa và
hợp lý thì việc tổ chức công tác kế toán phải thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau:
a. Tổ chức công tác kế toán phải đúng với những qui định trong điều lệ tổ chức kế
toán Nhà nước, trong chế độ thể lệ do Nhà nước ban hành và phù hợp với các chính
sách, chế độ quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Kế toán là một công cụ quan trọng để tính toán, xây dựng và kiểm tra việc chấp
hành ngân sách của Nhà Nước đối với tất cả các doanh nghiệp , để điều hành và quản
lý nền kinh tế quốc dân. Vì vậy tổ chức công tác kế toán phải theo những qui định
chung, đó là những qui định về nội dung công tác kế toán, qui định về tổ chức chỉ đạo
công tác kế toán.
Các qui định này được ban hành thống nhất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, do đó
các doanh nghiệp tuỳ thuộc vào điều kiện, đặc điểm kinh doanh của mình mà tổ chức
công tác kế toán một cách phù hợp với những qui định chung của Nhà Nước. Đồng
thời để đảm bảo cho việc tổ chức công tác kế toán không vi phạm những nguyên tắc,
chế độ qui định của Nhà Nước và thực hiện các chức năng của kế toán, góp phần tăng
cường quản lý kinh tế tài chính, thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát của Nhà Nước đối
với các doanh nghiệp thì yêu cầu các doanh nghiệp phải tổ chức công tác kế toán phải
phù hợp với chính sách, chế độ quản lý kinh tế của Nhà Nước trong từng thời kỳ.
b. Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh
doanh, tổ chức quản lý của doanh nghiệp.
Mỗi một doanh nghiệp đều có những đặc điểm, điều kiện riêng của mình, do đó mỗi
một doanh nghiệp đều có mô hình công tác kế toán riêng và không có mô hình chung
nào cho tất cả các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp muốn tổ chức tốt công tác kế toán
sau: tổ chức bộ máy tập trung, phân tán, vừa tập trung vừa phân tán. Đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ cũng như các doanh nghiệp cổ phần hóa qui mô nhỏ thì các doanh
nghiệp này với qui mô hoạt động thường nhỏ ,các cơ sở được bố trí gần nhau nên
thường tổ chức theo mô hình tập trung và mô hình vừa tập trung vừa phân tán.
• Tổ chức bộ máy kế toán tập trung:
Theo mô hình này tất cả các công việc kế toán đều được tập trung thực hiện tại
phòng kế toán của doanh nghiệp, tại các đơn vị phụ thuộc các kế toán viên chỉ làm
nhiệm vụ là thu thập, hạch toánban đầu, kiểm tra, tổng hợp, phân loại chứng từ kế toán
phát sinh sau đó gửi về phòng kế toán của doanh nghiệp.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung có thể khái quát theo sơ đồì sau:
• Tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán:
Sơ đồ khái quát mô hình bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán như sau
Với mô hình này trong doanh nghiệp vừa có những đơn vị có tổ chức kế toán riêng, và
cũng có những đơn vị không có tổ chức kế toán riêng. Đối với những đơn vị được phân
bố xa văn phòng doanh nghiệp sẽ tổ chức kế toán riêng, tổ chức hạch toán nghiệp vụ
phát sinh tại đơn vị mình, định kỳ gửi báo cáo về phòng kế toán doanh nghiệp. Đối với
những đơn vị qui mô nhỏ hoặc ở gần doanh nghiệp thì không cần tổ chức kế toán riêng,
chỉ làm nhiện vụ hạch toán ban đầu, thu thập ,xử lý, phân loại chứng từ, lập các báo
cáo gửi về phòng kế toán của doanh nghiệp. Phòng kế toán có nhiệm vụ hạch toán các
nghiệp vụ phát sinh tại văn phòng, tại các đơn vị không có tổ chức kế toán riêng và
tổng hợp các báo cáo của đơn vị có tổ chức kế toán riêng.
2. Tổ chức công tác kế toán:
a) Tổ chức công tác kế toán theo các giai đoạn hạch toán kế toán: bao gồm các
công việc sau:
Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán:
Mọi nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh đều phải lấy chứng từ kế toán để làm căn cứ
ghi sổ kế toán. Do đó tổ chức vận dụng chứng từ kế toán là khâu đầu tiên quan trọng
của tổ chức công tác kế toán.
- Các loại chứng từ : theo qui định về ban hành chế độ chứng từ kế toán của bộ tài
chính đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì bao gồm:
trên thị trường chứng khoán) thì tuân thủ theo hệ thống chứng từ như trên đồng thời
còn bổ sung thêm hai mẫu chứng từ đó là: bảng kê mua lại cổ phiếu và bảng kê bán cổ
phiếu.
+Với bảng kê mua lại cổ phiếu được các đơn vị dùng để phản ánh các giá trị cổ phiếu
mà các công ty cổ phần này mua lại chính cổ phiếu do công ty mình phát hành. Cổ
phiếu mua lại này có thể được tái phát hành ra thị trường, chia cổ tức cho cổ đông hoặc
huỷ bỏ. Bảng kê này được lập theo mẫu số 01-CK Ban hành theo quyết định
144/2001/QĐ- BTC ngày 21/12/2001 (đính kèm phụ lục1).
+Doanh nghiệp sử dùng bảng kê bán cổ phiếu để phản ánh giá trị của các loại cổ phiếu
được phát hành ra thị trường trong cả hai trường hợp là phát hành lần đầu và tái phát
hành ra thị trường. Doanh nghiệp lập bảng kê bán cổ phiếu theo mẫu số 02- CK ban
hành theo quyết định số 144/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001( theo mẫu phụ lục 2).
- Hệ thống chứng từ: hệ thống chứng từ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ cũng như doanh nghiệp cổ phần qui mô nhỏ thì có hai hệ thống:
• Hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc: đó là những chứng từ kế toán được Nhà
Nước qui định thống nhất trên toán quốc về qui cách, mẫu biểu, chỉ tiêu phản ánh và
phương pháp lập. Doanh nghiệp phải áp dụng đúng theo các qui định trên.
• Hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn: đối với hệ thống này thì các chứng từ
chủ yếu là những chứng từ sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp. Đối với loại này thì
Nhà Nước chỉ hướng dẫn các chỉ tiêu chủ yếu và các doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc
điểm của doanh nghiệp mình mà vận dụng một cách thích hợp. Khi vận dụng doanh
nghiệp có thể thêm, bớt hoặc thay đổi thiết kế cho thích hợp.
Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán:
Hệ thống TK áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành theo quyết định số
144/2001/QĐ-BTC ngày 21 tháng 12 năm 2001thì hệ thống TK sử dụng tại các doanh
nghiệp này bao gồm 44 TK được phân thành 9 loại từ loại1 đến loại 9 và 8 TK ngoài
bảng cân đối kế toán. Đối với Các doanh nghiệp cổ phần hóa qui mô nhỏ ngoài việc
tuân thủ theo hệ thống TK nói trên, hệ thống TK cho mô hình này còn bao gồm một số
TK đặc trưng chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp cổ phần hóa như:
TK 419’cổ phiếu mua lại’,
theo dõi chi tiết để thuận tiện cho việc quản lý. Số liệu ghi trên các sổ, thẻ kế toán chi
tiết cung cấp thông tin trong việc phục vụ cho công tác quản lý và hệ thống hoá từng
loại tài sản, công nợ cũng như nguồn vốn.
Riêng đối với các doanh nghiệp cổ phần hoá thì có bổ sung thêm 03 sổ kế toán chi tiết
sau:
- Sô øchi tiết cổ phiếu mua lại: sổ này dùng tại các công ty cổ phần với mục đích
để theo dõi và quản lý toàn bộ số cổ phiếu mua lại của công ty từ khi công ty bắt đầu
mua lại cho đến khi tái phát hành thị trường hoặc là huỷ bỏ. Sổ này được lập theo
quyết định số 144/2001-QĐ-BTC với mẫu số S26-SKT/DNN có đính kèm theo phụ lục
3.
- Sổ chi tiết nguồn vốn kinh doanh: với sổ này công ty dùng trong việc theo dõi
các khoản chênh lệch trong việc tái phát hành cổ phiếu, các khoản giảm trừ do việc
huỷ bỏ cổ phiếu mua lại, các khoản chênh lệch giữa giá mua thực tế của cổ phiếu mua
lại với giá trị của nó tại ngày trả cổ tức. Mẫu của sổ chi tiết này được lập theo mẫu số
S27/SKT/DNN theo quyết định số 144/2001/QĐ-BTC đính kèm theo phụ lục 3.
- Sổ chi tiết phát hành cổ phiếu: dùng trong việc theo dõi chi tiết việc phát hành
cổ phiếu tại Công Ty, mẫu sổ này áp dụng theo mẫu số S28-SKT/DNN.
Các hình thức sổ kế toán: hình thức sổ kế toán là một hệ thống các loại sổ kế toán, có
kết cấu, nội dung khác nhau, được liên kết với nhau trong một hệ thống trình tự nhất
định để hệ thống hoá số liệu trên cơ sở các chứng từ gốc và từ đó làm cơ sở để lập các
báo cáo kế toán. Hiện nay có 4 hình thức sổ kế toán được áp dụng trong doanh nghiệp,
đó là: Hình thức kế toán Nhật ký Sổ cái, hình thức nhật ký chung, hình thức chứng từ
ghi sổ và hình thức nhật ký chứng từ. Trong đó thường thấy hình thức nhật ký chung
và hình thức chứng từ ghi sổ được áp dụng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng
như các doanh nghiệp cổ phần hóa qui mô nhỏ. Do đo khi xét đền hình thức sổ kế toán
tại các doanh nghiệp loại hình này thì chỉ đề cập về hai hình thức kế toán này.
- Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi vào sổ tổng hợp là sổ Chứng Từ ghi sổ, việc
ghi sổ kế toán tổng hợp gồm: ghi theo trình tự thời gian trên sô Đăng ký Chứng Từ ghi
sổ, ghi theo nội dung kinh tế trên Sổ cái.
Hình thức nhật ký chung thì sổ sách vận dụng đơn giản, dễ ghi chép, việc áp dụng máy
vi tính để xử lý số liệu tương đối dễ dàng. Tuy nhiên, trong hình thức này thì việc xảy
ra vấn đề ghi trùng lắp là thường xuyên.
Với hình thức chứng từ-ghi sổ thì mẫu sổ được xây dựng đơn giản, thuận lợi trong
việc kiểm tra, đối chiếu và thuận tiện trong việc phân công lao động kế toán. Và nó còn
những mặt hạn chế là việc ghi trùng lắp các nghiệp vụ kinh tế.
Với mỗi ưu nhược điểm của từng hình thức ghi sổ như vậy, kế toán trưởng căn cứ vào
điều kiện áp dụng của từng hình thức kế toán trên cũng như xem xét điều kiện của
doanh nghiệp mình để lựa chọn một hình thức thích hợp, đảm bảo phát huy được các
ưu điểm và hạn chế các nhược điểm của hình thức mà doanh nghiệp lựa chọn.
Tổ chức lập báo cáo kế toán:
Báo cáo kế toán chia làm hai loại:
• Báo cáo tài chính: đối với các báo cáo này phục vụ cho các đối tượng bên ngoài
doanh nghiệp, và các báo cáo này mang tính chất bắt buộc, việc lập và hướng dẫn lập
theo các qui định của Nhà Nước. Báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ theo quyết định số 144/2001/QĐ-BTC thì bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo đó là
bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính, báo
cáo lưu chuyển tiền tê,ngoài ra trong số báo cáo tài chính gửi cho cơ quan thuế còn
phải có: bảng cân đối TK và tình hình thực hiện nghĩa vụ với NSNN. Ngoài ra, để phục
vụ cho yêu cầu quản lý kinh tế tài chính, yêu cầu chỉ đạo, điều hành sản xuất, kinh
doanh tại các đơn vị thì các đơn vị có thể lập thêm các báo cáo chi tiết khác.
• Báo cáo quản trị: các báo cáo này thường phục vụ cho nội bộ doanh nghiệp. Để
xây dựng được các báo cáo này thì đòi hỏi kế toán trưởng phải xây dựng các chỉ tiêu,
phương pháp lập thích hợp với điều kiện của doanh nghiệp mình và phù hợp với yêu
cầu cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp.
Các báo cáo phải được lập một cách trung thực, khách quan, toàn diện kịp thời.
b) Xét theo đối tượng hạch toán: công tác kế toán được chia thành các phần hành
kế toán , mỗi phần hành kế toán gắn với 1 hoặc một số đối tượng nhất định như
doanh thu, chi phí tổ chức công tác kế toán theo từng đối tượng hạch toán dựa vào
các căn cứ như: đặc điểm của đối tượng hạch toán, quy mô tính chất phát sinh
với doanh nghiệp được trang bị đầy đủ mọi phương tiện tính toán nhanh nhất, áp
dụng công nghệ tiên tiến nhất thì việc nhận thông tin cũng như việc xử lý thông tin sẽ
có hiệu qủa hơn so với đơn vịcó cơ sở vạt chất thiếu thốn, nghèo nàn.
Tuy nhiên, không phải bất cứ một đơn vị nào với cơ sở vật chất, phương tiện tính toán
phục vụ công tác kế toán được trang bị tốt đều có thể sử dụng có hiệu quả chúng. Mà
tuỳ theo điều kiện của mỗi doanh nghiệp mà trang bị cho phù hợp. Trước hết là doanh
nghiệp đó phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa khả năng tài chính của doanh nghiệp, với doanh
nghiệp có vốn nhỏ thì việc mua sắm quá nhiều trang thiết bị hiện đại sẽ làm ứ đọng
vốn của doanh nghiệp, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc kinh doanh, tiếp đó
doanh nghiệp phải dựa vào yêu cầu của quản lý về nhu cầu thông tin cần cung cấp để
xem xét việc lựa chọn cơ sở vật chất. Thứ ba là doanh nghiệp phải dựa vào trình độ của
nhân viên kế toán, với đội ngũ nhân viên chưa có nhiều kinh nghiêm và trình độ thì
việc trang bị quá tốt sẽ gây nên tình trạng lãng phí, đồng thời không có hiệu quả. Căn
cứ cuối cùng doanh nghiệp phải dựa vào để có cơ sở trang bị cơ sở vật chất phục vụ
cho công tác kế toán là hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
Đối với các cty cổ phần qui mô nhỏ thì nguồn vốn hoạt động kinh doanh chủ yếu từ
nguồn vốn vay của các cổ đông, do đó doanh nghiệp thận trọng hơn trong việc sử
dụng chúng vào hoạt động kinh doanh, cho nên doanh nghiệp chi trang bị cácphương
tiện phục vụ cho công tác kế toán những thiết bị quan trọng, cần thiết.
PHẦN HAI: TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN HIỆN NAY TẠI CÔNG
TY XÂY LẮP PHÁT- TRIỂN BƯU ĐIỆN ĐÀ NẴNG
A. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY XÂY LẮP- PHÁT TRIỂN BƯU
ĐIỆN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
I. Lịch sử ra đời và phát triển của Công Xây Lắp-Phát triển Bưu Điện Đà Nẵng.
1. Quá trình hình thành:
Cùng với sự chuyển hướng từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà Nước, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trên khắp các lĩnh vực,
trong đó bao gồm cả ngành thông tin liên lạc. Trong công cuộc đổi mới như hiện nay
với sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế thì thông tin liên lạc của ngành Bưu
Điện đang trở thành nhu cầu không thể thiếu trong công việc quản lý cũng như phục vụ
Bộ máy tổ chức của Công ty Xây Lắp Phát triển Bưu Điện được tổ chức khép kín và
mô hình tô øchức như sau:
• Ban giám đốc của Công Ty bao gồm một Giám Đốc và hai phó Giám Đốc .
- Giám Đốc: là người đứng đầu công ty, Giám Đốc Công ty do Giám đốc Bưu Điện
thành phố đề nghị. Giám đốc là đại diện pháp nhân của đơn vị chịu trách nhiệm trước
Bưu Điện thành phố ,Tổng Công ty và trước pháp luật về quản lý và điều hành hoạt
động của đơn vị trong phạm vi quyền hạn và nghĩa vụ được quyết định. Giám đốc là
người điều hành cao nhất của đơn vị.
- Phó Giám Đốc: là người giúp Giám đốc quản lý và điều hành một hoặc một số lĩnh
vực hoạt động của đơn vị theo sự phân công của Giám đốc, chịu trách nhiệm trước
Giám đốc.
Hiện nay tại Công Ty có hai Phó Giám đốc:
+ Phó Giám Đốc kỹ thuật: được Giám đốc giao cho trách nhiệm về công tác kiểm tra,
giám sát kỹ thuật. Đồng thời hướng dẫn chỉ đạo cho các phòng ban chức năng, phân
tích và áp dụng các tiến bộ khoa học tiên tiến phục vụ cho Công Ty. Quản lý trực tiếp
các công trình đầu tư xây dựng cơ bản, các công trình thiết bị viễn thông.
+ Phó Giám Đốc kinh doanh: có trách nhiệm theo dõi các hoạt động kinh doanh của
Công Ty, quản lý công tác chất lượng nghiệp vụ. Chịu trách nhiệm trước Giám Đốc về
công việc được giao.
• Phòng kế toán: dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng thực hiện các chức năng sau:
- Theo dõi toàn bộ tài sản hiện có tại doanh nghiệp, đồng thời cung cấp đầy đủ các
thông tin về các hoạt động kinh tế tài vụ của Công Ty.
- Ghi chép, phản ánh đầy đủ, chính xác các nghiệp vụ kinh tế xảy ra hàng ngày.
- Phản ánh tất cả các chi phí trong kỳ và kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh
doanh.
• Tổ văn phòng và phục vụ: chịu trách nhiệm quản lý văn phòng. Trong đó đội xe
của Công Ty có nhiệm vụ là vận chuyển vật tư, máy móc, phục vụ cho các tuyến công
tác, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
• Đội cáp ngoại vi: với nhiệm vụ chính là thi công hoàn thành các tuyến cáp( cáp
ngầm, cáp quang, cống bể trong khu vực thành phố và các tỉnh miền trung tây
tập trung ở phòng kế toáncủa Công Ty. Sơ đồ tổ chức như sau:
Giải thích : : Mối quan hệ trực tuyến.
: Mối quan hệ đối chiếu.
b. Chức năng, nhiệm vụ của các kế toán phần hành :
• Kế toán trưởng: là người nắm vững mọi chế độ chính sách liên quan đến công
tác hạch toán của đơn vị, giám sát điều hành và phân công giao nhiệm vụ cụ thể cho
từng nhân viên.
• Kế toán tổng hợp kiêm kế toán công nợ kiêm kế toán ngân hàng: hàng ngày tiến
hành kiểm tra đối chiếu sổ sách, xác định công nợ cùng với số dư của tk cuối kỳ lập
báo cáo kế toán.
• Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương: : theo dõi,lập các bảng thanh
toán lương,BHXH, quỹ công đoàn.
• Kế toán thanh toán: theo dõi các khoản chi phí, thu nhập tại Công Ty
• Kế toán vật tư: theo dõi các nghiệp vụ mua hàng,viếït phiếu nhập xuất vật tư.
• Kế toán công trình XDCB: lập các hợp đồng dự thầu, lập các báo cáo về khối
lượng đầu tư thực hiện và nguồn vốn XDCB.
• Thủ quỹ: theo dõi tình hình thu chi tiền mặt.
• Thủ kho: theo dõi tình hình xuất nhập tồn kho vật tư
c) Hình thức tổ chức sổ tại Công Ty :
Tại Công Ty sử dụng chương trình phần mềm kế toán theo hình thức”Chứng Từ ghi sổ
“, trình tự hạch toán như sau:
Ghi hàng ngày
Ghi định kỳ
Quan hệ đối chiếu
Trình tự ghi chép như sau:
• Hằng ngày căn cứ vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên chứng từ gốc, sau khi
kiểm tra tính hợp pháp, chính xác của chứng từ kế toán các phần hành tiến hành nhập
vào máy theo chương trình định sẵn đồng thời các nghiệp vụ có liên quan đến các đối
tượng cần hạch toán chi tiết thì kế toán tiến hành định khoản vào các sổ thẻ kế toán chi
tiết. Từ máy tính vào bảng kê chứng từ ghi sổ, cuối ngày căn cứ số liệu trên bảng kê
+ Chi phí nguyên vật liệu được mở theo mã số 02 bao gồm: vật liệu dùng cho sản xuất
sản phẩm ,khai thác(mã số 02.01), vật liệu dùng cho sửa chữa tài sản(mã số 02.02),
nhiên liệu động lực(mã số 02.03),
+ chi phí dụng cụ sản xuất được mở theo mã 03
+chi phí khấu hao TSCĐ mở theo mã 04
+ mã 07 được mở cho khoản mục chi phí dịch vụ mua ngoài như là điện nước mua
ngoài được phản ánh ở ma07.î 02, vận chuyển bốc dở thuê ngoài phản ánh ở mã07.
03, chi phí mua bảo hiểm phản ánh tại mã 07.07, dịch vụ thuê ngoài khác với ma07.î
08.
+ Mãî 08 được dùng để mở cho khoản mục chi phí khác bằng tiền như bảo hộ lao động
phản ánh tại mã 08.01, các khoản khánh tiết, đối ngoại được thể hiện tại mã 08.03, bổ
túc đào tạo được phản ánh tại mã số 08.04 và các khoản băng tiền khác được phản ánh
ở mã 08.08
- sổ sách kế toán: hàng ngày khi có yêu cầu về vật tư của các đội, kế toán vật tư
tiến hành lập phiếu xuất kho, hoặc khi nhận được các hoá đơn mua nguyên vật liệu, các
hoá đơn mua ngoài khác, hoặc bảng chấm công từ các đội gởi lên, thi kế toán XDCB
tiến hành kiểm tra và ghi vào Sổ cái TK 15482 với mã tương ứng các khoản mục chi
phí, và các chứng từ gốc đó liên quan đến công trình nào thì kế toán tiền hành vào bảng
liệt kê chi tiết công trình cho từng công trình đó. Dưới đây là bảng kiệt kê chi tiết của
các công trình đã hoàn thành và chưa hoàn thành
LIỆT KÊ CHI TIẾT CÔNG TRÌNH
Từ ngày 10/10/2003 đến ngày 31/12/2003
Công trình sửa chữa tuyến cáp khu Bình AN- Hoà Cường
Mã công trình: CAP 174
Từ báo cáo công trình hoàn thành, cùng với các báo cáo của bộ phận sản xuất khác như
đúc cột thì cuối kỳ kế toán tiến hành lập báo cáo giá thành sản phẩm, dịch vụ.
BÁO CÁO GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ
Quí IV năm 2003
Chỉ tiêu Mã số Kinh doanh hạch toán riêng
Xl công trình Kd khác CPhí chung Tổng cộng