khảo sát ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng của cá lăng hầm giai đoạn từ 24 đến 99 ngày tuổi - Pdf 20

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HCM
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN
SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ LĂNG HẦM
(Mystus filamentus Fang và Chaux, 1949)
GIAI ĐOẠN TỪ 24 ĐẾN 99 NGÀY TUỔI
NGÀNH : THỦY SẢN
NIÊN KHOÁ: 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HỊÊN: TRẦN LONG NGUYÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
8/2005
2
TÓM TẮT
Đề tài:” Khảo Sát nh Hưởng của Thức Ăn Lên Sự Tăng Trưởng của Cá Lăng
Hầm (Mystus filamentus Fang and Chaux, 1949) Giai Đoạn từ 24 đến 99 Ngày Tuổi”
được tiến hành nhằm tìm hiểu sự tác động của thức ăn lên sự tăng trưởng và sức sống của cá
lăng hầm giai đoạn từ 24 ngày tuổi đến 99 ngày tuổi (2,5 thàng nuôi) và khả năng thích nghi
của chúng trong điều kiện nuôi giai đặt trong ao đất.
Chúng tôi thực hiện đề tài này từ 28/04/2005 đến 13/07/2005 tại Trại Thực Nghiệm
Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh. Thí nghiệm gồm sáu nghiệm
thức với sáu loại thức ăn khác nhau. Mỗi nghiệm thức lặp lại ba lần trong cùng điều kiện
môi trường sống, cho ăn, quản lý và chăm sóc. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên
với một yếu tố thức ăn.
Cá lăng hầm được bố trí theo sáu nghiệm thức (NT) thức ăn là: NTI (cá tạp 20,29 %
đạm); NTII (thức ăn 19,34% đạm); NTIII (thức ăn 23,73% đạm); NTIV (thức ăn 32,54%
đạm); NTV (thức ăn 39,52% đạm); NTVI (thức ăn Greenfeed 27,74% đạm).
Cá bố trí thí nghiệm có chiều dài và trọng lượng trung bình là 3,56cm và 0.51g.
Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Treatment V (N TV): Handmade feed (39,52 % protein).
- Treatment VI (NT VI): 100% of Greenfeed pellet (27,74 %
protein).
The result of the study showed that:
- Mystus filamentus is carnivorous species but in culture condition,
the fish is able to eat commercial pellet completely.
- The growth of the fish at NT VI is better than those of at NT I, NT
II, NT III, NT IV, and NT V. The fish eaten with 19,34% of protein
(NT II) is the lowest growth.
4
- Survival rates of six treatments were 68,89%; 46,67%; 61,11%;
57,78%; 62,22%; and 73,33%, respectively.
CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh;
Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản;
Đặc biệt là quý thầy cô Khoa Thủy Sản đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt bốn năm
học tại trường.
Rất mong được gởi lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Ngô Văn Ngọc đã tận tình hướng
dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn các anh nhân viên của Trại Thực Nghiệm Khoa Thủy Sản,
tập thể sinh viên lớp Thủy Sản 27 cùng các bạn bè ngoài lớp đã giúp đỡ và động viên
chúng tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài này.

Mặc dù chúng tôi đã hết sức cố gắng để thực hiện đề tài này nhưng khả năng bản
thân còn nhiều hạn chế nên khi thực hiện luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót,
rất mong sự đóng góp ý kiến quý báu của Thầy Cô và bạn bè.
5
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG

3.1 Thời Gian và Đòa Điểm. 15
3.2 Đối Tượng Nghiên Cứu 15
3.3 Vật Liệu Nghiên Cứu 15
3.4 Phương Pháp Thí Nghiệm 16
3.5 Chuẩn Bò Thức Ăn 17
3.6 Chăm Sóc và Cho Ăn 17
3.6.1 Chăm sóc 17
3.6.2 Cho ăn 18
3.7 Các Chỉ Tiêu Theo Dỏi 18
3.7.1 Tăng trưởng 18
3.7.2 Tỉ lệ sống 19
3.8 Sơ Đồ Bố Trí Thí Nghiệm 20
3.9 Phương Pháp Xử Lý Thống Kê 21
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Điều Kiện Môi Trường 22
4.1.1 Nhiệt độ 22
4.1.2 pH 23
4.1.3 Hàm lượng oxy hoà tan (DO) 24
4.1.4 Hàm lượng NH
3
24
4.2 Thành Phần Dinh Dưỡng của Thức Ăn Thí Nghiệm 25
4.3 Sự Tăng Trưởng của Cá Lăng Hầm 26
4.3.1 Tăng trưởng về trọng lượng 26
4.3.2 Sự tăng trưởng chiều dài 35
4.3.3 Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng 41
4.4 Tỉ Lệ Sống 44
V. KÊT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
7

Đồ thò 4.2 Tăng trọng tương đối (%) của cá lăng hầm qua các lần kiểm tra 31
Đồ thò 4.3 Tăng trọng tuyệt đối (g/ngày) của cá lăng hầm qua các lần kiểm tra 33
Đồ thò 4.4 Chiều dài trung bình (cm) của cá lăng hầm qua các lần kiểm tra 37
Đồ thò 4.5 Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá lăng hầm
ở nghiệm thức I 41
Đồ thò 4.6 Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá lăng hầm
ở nghiệm thức II 42
Đồ thò 4.7 Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá lăng hầm
ở nghiệm thức III 42
Đồ thò 4.8 : Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá lăng hầm
ở nghiệm thức IV 43
Đồ thò 4.9 Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá lăng hầm
ở nghiệm thức V 43
Đồ thò 4.10 Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá lăng hầm
ở nghiệm thức VI 44
10
Đồ thò 4.11 Tỉ lệ sống (%) của cá lăng hầm ở thí nghiệm này 46
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH
HÌNH NỘI DUNG TRANG
Hình 1.1 Hình thái bên ngoài của cá lăng hầm 3
Hình 3.1 Giai thí nghòêm nuôi cá lăng hầm 21
Hình 4.1 Cá lăng hầm ở nghiệm thức I sau hai tuần nuôi 47
Hình 4.2 Cá lăng hầm ở nghiệm thức II sau hai tuần nuôi 48
Hình 4.3 Cá lăng hầm ở nghiệm thức III sau hai tuần nuôi 48
Hình 4.4 Cá lăng hầm ở nghiệm thức IV sau hai tuần nuôi 49
Hình 4.5 Cá lăng hầm ở nghiệm thức V sau hai tuần nuôi 49
Hình 4.6 Cá lăng hầm ở nghiệm thức VI sau hai tuần nuôi 50
Hình 4.7 Cá lăng hầm ở nghiệm thức I sau bốn tuần nuôi 50
Hình 4.8 Cá lăng hầm ở nghiệm thức II sau bốn tuần nuôi 51
Hình 4.9 Cá lăng hầm ở nghiệm thức III sau bốn tuần nuôi 51

Ngoài ra, hiện nay đời sống kinh tế của người dân ngày càng tăng nên nhu cầu tiêu dùng
mặt hàng thủy sản không chỉ về số lượng mà quan trọng hơn là chất lượng sản phẩm.
Xuất phát từ tình hình trên chúng ta cần nghiên cứu và phát hiện một số loài thủy sản
mới nhằm cung cấp thêm nhiều thực phẩm thủy sản cải thiện bữa ăn gia đình và xuất khẩu.

Trong số các loài thủy sản nước ngọt có tiềm năng thì cá lăng hầm (Mystus
filamentus) là loài cá được quan tâm từ các nhà nghiên cứu bới vì chúng có kích thước tương
đối lớn trong các loài cá lăng, tốc độ tăng trưởng nhanh, thòt ngon và không xương dăm. Hơn
thế nữa nó có thể đáp ứng được nhu cầu hiện nay của người tiêu dùng.
Ở nước ta, cá lăng hầm phân bố ở các tỉnh Đắc Lắc, ĐồngNai, Tây Ninh và các tỉnh
Đồng Bằng Sông Cửu Long nhưng nó ngày càng trở nên khang hiếm do việc lạm thác của
người dân. Hơn thế nữa, nhu cầu hiện nay của người dân về con giống và thòt cá lăng hầm
rất cao mà nguồn cá này ngoài tự nhiên đang cạn kiệt. Do đó, việc nghiên cứu sản xuất
giống nhân tạo cũng như tìm ra loại thức ăn thích hợp cho sự phát triển của cá lăng hầm
trong quá trình nuôi là rất cần thiết.
Khi các tình hình trên được đề cập, được sự phân công của Khoa Thủy Sản, Trường
Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh chúng tôi thực hiện đề tài” Khảo Sát Sự nh
Hưởng của Thức Ăn lên Sự Tăng Trưởng của Cá Lăng Hầm (Mystus filamentus Fang và
Chaux, 1949) Giai Đoạn từ 24 đến 99 Ngày Tuổi”.
I.1 Mục Tiêu Đề Tài
Các mục tiêu mà chúng tôi cần đạt được trong quá trình thực hiện đề tài là:
- Tìm hiểu sự tác động của thức ăn lên sức sống vàsự tăng trưởng của cá lăng hầm
giai đoạn 24 ngày tuổi lên 99 ngày tuổi (sau 2,5 tháng nuôi) trong điều kiện nuôi trong giai.
- Tìm hiểu khả năng tăng trưởng của cá lăng hầm trong điều kiện nuôi giai.
I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
13
I.2 Đặc Điểm Sinh Học của Cá Lăng Hầm
I.2.1 Phân loại
Cá lăng hầm thuộc cách phân loại sau:
Ngành: Chordata (có dây sốâng)

vàng nhạt. Phần bụng có màu trắng hai bên thân có màu vàng. Vây ngực và vây hậu môn
có màu hơi đen có khi vàng nhạt, vây bụng có màu trắng hơi vàng. Trên thân có các chấm
bông nằm rải rác toàn thân.
Cá có vây mỡ nằm giữa vây lưng và vây đuôi nhưng hơi lệch về phía đuôi. Đường
bên chạy từ gốc nấp mang đến vây đuôi. Vây đuôi phân thùy, mép thùy trên dài hơn dưới.
Hình 1.1 Hình thái bên ngoài của cá lăng hầm
I.2.3 Phân bố
Các tác giả trong và ngoài nước cho rằng cá lăng hầm hiện diện chủ yếu ở các sông
lớn, suối, hồ chứa từ thượng nguồn đến cửa sông.
Cá lăng hầm phân bố rộng rải ở Ấn Độ và nhiều nước Đông Nam Á chủ yếu là
Malaysia và Thái Lan đến Indonesia. Ở Việt Nam, cá lăng hầm được tìm thấy ở các sông,
suối, kênh rạch ở miền Nam và nó có mặt nhiều ở các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và các tỉnh
Đồng Bằng Sông Cửu Long.
15
Cá lăng hầm có sự phân bố rộng rải và tồn tại ở hầu hết các nước Đông Nam Á. Ở
nước ta, chỉ phía Nam mới tìm thấy cá lăng hầm sinh sống chủ yếu ở các con sông lớn như
Sông Tiền, Sông Hậu, Sông Đồng Nai, Sông Sài Gòn, Sông Vòm Cỏ Đông và hồ lớn là hồ
Trò An, hồ Dầu Tiếng, hồ Sông Mây, … Ngoài môi trường tự nhiên chúng thường sống ở đáy
nơi có nước chảy và sâu.
Mai Đình Yên và ctv,1992 (trích bởi Lê Đại Quan, 2004) cho rằng cá lăng hầm hiện
diện chủ yếu ở các sông rạch thuộc miền Nam Việt Nam. Cá lăng được tìm thấy trên các
sông lớn ở lưu vực sông Mêkông đôi khi ở Tonlésap và hạ lưu sông Mêkông.
I.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Dinh dưỡng là một khâu quan trọng đối với đời sống của cá. Nó góp phần thúc đẩy sự
tăng trưởng và phát triển của cá. Do đó, trong quá trình nuôi cá thương phẩm thì chúng ta
cần phải quan tâm đến đặc điểm dinh dưỡng của cá để có thể sử dụng loại thức ăn thích hợp
nhất mà đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Quá trình dinh dưỡng của cá tạo ra hàng loạt thích
nghi nhằm nâng cao mức độ đảm bảo dinh dưỡng của cá.
Theo Sterba,1962 (trích bởi Mai Thi Kim Dung, 1998) có những nhận xét về tập tính
sống của cá lăng hầm như sau: Là loại cá ưa tối, sống đáy, chui rút vào những bụi rậm, hốc

môi trường có nhiều, nhiệt độ nước và hàm lượng oxy thích hợp. Thông thường thì nó có sự
thay đổi theo ngày đêm, mùa, chế độ nước, …

Theo Nicolski, 1953 (trích bởi Lê Đại Quan, 2004) cho rằng: Độ đảm bảo thức ăn là
sự có mặt của thức ăn mà sinh vật sử dụng và những điều kiện tương ứng để tiêu hóa nó
(nhiệt độ nước, chế độ khí, pH, DO, độ trong, NH
3
).
Sorughin, 1940 (trích bởi Lê Đại Quan, 2004) cho rằng: Sự lựa chọn thức ăn (chỉ số
lựa chọn thức ăn) là tỉ số giữa khối lượng của thức ăn có trong ruột và ở ngoài môi trường
và được tính theo phần trăm.
b
I =
a
Trong đó: I: Hệ số lựa chọn thức ăn
b: % thức ăn trong ruột
a: % thức ăn ngoài môi trường (tính theo khối lượng)
Ngoài ra, còn có cách tính khác theo đề nghò của Comstantinov, 1953 (trích bởi Trần
Văn Vỹ, 1982) gồm có hệ số lựa chọn (HSLC) và hệ số loại bỏ (HSLB) đối với một loại
thức ăn của thủy sinh vật. Đối với cách này thì hệ số lựa chọn I và hệ số loại bỏ I’ được tính
theo công thức:
b-a
HSLC I =
a
17
a-b
HSLB I’ =
b
Chỉ số lựa chọn thức ăn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tình trạng no hay đói, kích thước
con mồi, sự biến đổi cơ sở thức ăn theo mùa, thành phần và số lượng thức ăn trong thủy vực.

c
: Độ béo Fulton và Clark
P: Trọng lượng cá (gam)
P
0:
Trọng

lượng cá bỏ nội tạng (gam)
L: Chiều dài tổng cộng (cm)
- Độ mỡ:
Theo Tester, 1940 và Prozopski (trích bởi La Thanh Tùng, 2001) thì đưa ra cách xác
đònh độ mỡ của cá qua mức độ mỡ bám bên ngoài ruột và khối lượng mỡ.
Theo Mai Thò Kim Dung,1998 (trích bở Lê Đại Quan, 2004) đã sử dụng công thức Le
Gren (1951) để đánh giá mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng.
18
Công thức Le Gren: P = a x L
n

Trong đó:
P: Trọng lượng cá (gam)
L: Chiều dài cá (cm)
a, n: Các thông số đặc thù của từng loài
I.2.6 Đặc điểm sinh sản
I.2.6.1Mùa vụ sinh sản
Mẫu buồng trứng và buồng sẹ giai đoạn IV bắt đầu từ tháng tư và kết thúc vào tháng
chín. Mẫu buồng trứng giai đoạn II đến IV (của cá mới đẻ) thu được từ cuối tháng tư đến
đầu tháng chín trùng với mùa mưa.

Mystus có mùa vụ sinh sản kéo dài quanh năm (Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2001).
Mùa vụ sinh sản của cá lăng hầm kéo dài quanh năm không xác đònh thời vụ cụ thể.

Thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng trong đó lipid và glucid là nguồn cung cấp
chính, còn protein thì cung cấp một phần năng lượng. Đơn vò năng lương được thể hiện bằng
kilocalo (kcal). Theo lý thuyết thì 1g glucid cho 4,1 kcal, 1g lipid cho 9,1 kcal, 1g protein cho
5,65 kcal.
2.2.1 Nhu cầu năng lượng
Theo Lazard, 1993 (trích bởi Phạm Thò Kiều Diễm, 2003) thì năng lượng không là
chất dinh dưỡng nhưng cần thiết cho mọi hoạt động cơ thể.
Theo Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thò Quỳnh Mai, 1996 cho rằng năng lượng có trong
thức ăn được hấp thu vào cơ thể và được đốt cháy bởi oxy giải phóng CO
2
và sinh ra nhiệt.
Do đó, giá trò năng lượng là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá giá trò dinh dưỡng của thức ăn.
Thức ăn được đốt cháy theo phương trình hóa học cơ bản.
C
x
H
y
O
z
+ ( 4x+y-2z)/4 O
2
-Q xCO
2
+ y/2 H
2
O +Q
Protien và Lipid là nguồn cung cấp năng lượng cao cho cá còn Carbohydrat có giá trò
như nguồn cung cấp năng lượng thay đổi tùy theo loài tôm cá (Lazard, 1993; trích bởi Phạm
Thò Kiều Diễm, 2003).
2.2.1.1 Nhu cầu năng lượng duy trì

Năng lượng tăng trưởng thay đổi theo thành phần thức ăn đặc biệt là tỉ lệ giữa năng
lượng protein và năng lượng phi protein hay nói khác đi là tương quan giữa đồng hóa và dò
hóa.
Theo Hepher, 1998 (trích bởi Lê Thanh Hùng, 2000) thì tổng năng lượng cần thiết
như sau:
21
- Nhu cầu duy trì và nhu cầu tăng trưởng tăng lên khi trọng lượng cá tăng nên nhu cầu
tổng cộng cũng tăng lên khi cá càng lớn.
- Nhu cầu duy trì và nhu cầu tăng trưởng tăng lên với tốc độ chậm hơn so với tốc độ
tăng trưởng của cá nên nhu cầu tương đối (nhu cầu trên một đơn vò trọng lượng) sẽ giảm khi
cá càng lớn.
- Nhu cầu duy trì tăng lên với tốc độ nhanh hơn nhu cầu tăng trưởng nên cá càng lớn
thì lượng thức ăn tiêu tốn để tăng trọng một đơn vò sẽ càng lớn.
2.2.2 Nhu cầu protein và acid amin
Protein là thành phần cơ bản trong cơ thể, là thành phần chính của nguyên sinh chất.
Protein tham gia vào sự cân bằng năng lượng của cơ thể.
Protein trong hầu hết các loại thức ăn nếu được chế biến phù hợp thì có khả năng tiêu
hóa cao đối với cá. Hệ số tiêu hóa protein đối với các loại thức ăn giàu protein thường trong
phạm vi 75% - 95%. Khả năng tiêu hóa có xu hướng giảm sút khi hàm lượng carbohydrat
trong thức ăn tăng cao.
Sự gia tăng nhiệt độ từ 127
0
C – 204
0
C sẽ làm tăng khả năng hấp thu protein trong
bột đậu nành từ 45% lên 75% (Smith, 1976; trích bởi Lê Đại Quan, 2004).
Protein đặc biệt ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá. Nếu ăn thiếu protein còn
làm cho tôm cá nhạy cảm với sự nhiễm trùng đường rụôt và đường hô hấp, chậm lớn và dể
sinh bệnh. Vì vậy, hàm lượng protein trong thức ăn luôn là yếu tố hàng đầu trong chất lượng
tôm cá.

cháy hoàn toàn. Lipid có thể tồn tại dưới hai dạng trong cơ thể cá đó là phospholipid và
triglycerid. Trong đó Phospholipid tạo thành toàn bộ lớp màng nhày của tế bào còn
triglycerid thì tạo thành mỡ để cơ thể dự trử năng lượng.
Các vitamin A, D là nguồn cung cấp nhiều chất quan trọng cho cơ thể mà cơ thể chỉ
có thể sử dụng được nó khi nó được hòa tan vơí một dung môi giàu năng lượng đó là lipid.
Lipid cũng là nguồn cung cấp nhiều chất cho cơ thể như các acid béo chưa no thiết yếu: acid
linoneic- 2 nối đôi, linoneic- 3 nối đôi, và arachidonic, các steroid và nhiều chất hoạt động
sinh học khác.
Chất béo có thể gây hương vò hấp dẫn cho thức ăn tôm cá. Thức ăn tôm cá phối hợp
bằng những nguyên liệu thông thường cũng đủ đảm bảo hơn một nữa chất béo trong khẩu
phần thức ăn, phần còn lại có được nhờ sự phối trộn trực tiếp dầu mỡ vào thức ăn. Một phần
chất béo còn có thể tổng hợp được trong cơ thể nhờ glucid và một phần từ protid. Trong cơ
thể glucid và protid chỉ có thể chuyển thành các acid béo no (Nguyễn Văn Thoa và Bạch
Thò Quỳnh Mai, 1996).
Tuy nhiên trong chế biến thức thủy sản người ta thường sủ dụng các chất béo có
nguồn gốc động vật biển như dầu gan cá, dầu gan mực, mỡ cá trích, cá mòi….Các chất béo
23
có nguồn gốc từ thực vật bao gồm: dầu đậu nành, dầu dừa, dầu đậu phộng,...Dầu mỡ của
các động vật sống ở biển chứa nhiều phospholipid và nhiều acid béo không thay thế. Lipid
cá chứa 40% các acid béo có mạch carbon dài (14 - 22 nguyên tử carbon) là các acid béo
mà cơ thể không tự tổng hợp mà phải được cung cấp từ bên ngoài. Do đó, các acid béo có
nguồn gốc động vật đóng vai trò quan trọng trong thức ăn của tôm cá.
Thành phần chính của chất béo là acid béo. Do đó, phần quyết đònh tính chất của
chất béo thuộc về các acid béo. Trong chất béo bao gồm các chất béo no và các chất béo
không no: chất béo no chủ yếu nằm trong thành phần mỡ động vật, còn các acid béo chưa
no chủ yếu nằêm trong thành phần các dầu có nguồn gốc thực vật thường có 1, 2 hoặc 3 nối
đôi. Trong mỡ cá và các động vật thủy sản sống ở biển thường có nhiều acid béo có nhiều
nối đôi nên giá trò thực phẩm cao hơn giá trò các chất béo có nguồn gốc từ thực vật. Hàm
lượng acid arachidic trong mỡ cá là 5% còn trong dầu gan cá là 25% và nhiều hơn nữa
(Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thò Quỳnh Mai, 1996).

Người ta chia vitamin thành hai nhóm: vitamin tan trong nước và vitamin tan trong
chất béo.
Các vitamin A, D, E, K có dung môi chính là chất béo. Trong đó, vitamin A, D thường
có nhiều trong nguyên liệu có nguồn gốc động vật đặc biệt là trong gan cá. Còn các vitamin
E, K có nhiều trong các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật.
Vitamin C, vitamin nhóm B và các vitamin khác có dung môi chính là nước. Thực vật
là nguồn gốc chính của các vitamin này. Ngoài ra, còn có một số vitamin được tổng hợp
trong cơ thể cá.
Về muối khoáng: Thành phần hóa học và giống loài có ảnh hưởng đến tỉ lệ photpho
có trong khẩu phần thức ăn.
Trong bột cá có hàm lượng tro cao thành phần photpho (trên 16%) và thay đổi theo
từng loài nhưng thường thấp hơn những loài cá có hàm lượng tro thấp (Lê Đại Quan, 2004).
Muối khoáng bao gồm các nguyên tố đa lượng và các nguyên tố vi lượng . Các
nguyên tố đa lượng gồm: Ca, Na, Mg, K, P, S, Cl chiếm khoảng 60-80% tổng muối khoáng.
Các nguyên tố vi lượng: Fe, Cu, I, Mn, Zn, Co, Ni, Al chiếm khoảng 0,01% trọng lượng cơ
thể.
Vai trò khoáng chất đối với tôm cá rất đa dạng chủ yếu là quá trình tạo hình đặc biệt
là vỏ, vẫy, xương, tham gia vào quá trình tạo protid, các quá trình enzym điều hòa chuyển
hóa nước, duy trì tính ổn đònh môi trường bên ngoài và sức đề kháng đối với nhiễm trùng.
Tóm lại, nhu cầu vitamin và khoáng chất của động vật thủy sản cần ít nhưng cần phải
được cung cấp đầy đủ vì là những chất quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển.
Nếu thiếu những vitamin và khoáng chất cần thiết thì sẽ gây nên những rối loạn trong vật
25
nuôi. Khi còn nhỏ vật nuôi cần được cung cấp đầy đủ vitamin và khoáng chất để cơ thể có
thể phát triển đầy đủ.
2.3 Hiệu Quả Sử Dụng Thức Ăn
Hiệu quả sử dụng thức ăn hay còn gọi là hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) hay hệ số thức
ăn (HSTĂ) là số kg thức ăn phải tiêu tốn để thu đươc 1kg cá tăng trọng và được tính theo
công thức.
Khối lượng thức ăn suốt thời gian nuôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status