BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
MÔN QUẢN TRỊ SẢN XUẤT VÀ ĐIỀU HÀNH
Chuyên đề 3:
Giáo viên hướng dẫn: PGS-TS HỒ TIẾN DŨNG
Nhóm thực hiện: Nhóm 10 – QTKD Đêm 4
Nguyễn Thị Thanh Xuân Nguyễn Đăng Vũ
Trần Đình Anh Tú Nguyễn Thị Thanh Nhanh
Trần Lâm Anh Quân Nguyễn Thị Uyên Phương
Phạm Xuân Thanh Mai Kiều Lam
Nguyễn Ngọc Quỳnh Dương
Khóa học: Khóa 20 Cao học
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN 1: LÝ THUYẾT
I. Phân bố công việc Trang 3
1.1. Cách sắp đặt công việc theo lối cổ truyền Trang 4
1.2. Ảnh hưởng của môi trường làm việc đến việc phân bổ công việc Trang 7
1.3. Luân chuyển và mở rộng công việc Trang 7
1.4. Nâng cao chất lượng công việc Trang 8
II. Tiêu chuẩn sản xuất và hoạt động Trang 10
2.1. Các tiêu chuẩn cấp bộ phận Trang 10
2.2. Các tiêu chuẩn cấp nhà máy Trang 10
2.3. Cách sử dụng các tiêu chuẩn Trang 11
III. Đo lường công việc Trang 11
3.1. Chọn người lao động trung bình Trang 11
3.2. Những kỹ thuật đo lường công việc Trang 12
PHẦN 2: ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN ĐÔNG HẢI BẾN TRE
I. Lịch sử hình thành và phát triển Trang 15
công nhân và chịu trách nhiệm về họ như chính cá nhân mình. Người quản lý cần phải điều tiết
những sự gần gũi như sau cho hợp lý và cân nhắc những sự luân phiên nhau. Sau khi công việc
được phân bố, một tiêu chuẩn khác được nêu lên là phải đảm bảo những công việc phải được
thực hiện chính cá nhân đó. Dù sao đi nữa thiết lập một tiêu chuẩn đòi hỏi phải am tường về cách
đo lường công việc. Cần nhấn mạnh rằng sự triển khai công việc theo sau những phương pháp
phân tích, chỉ có sau khi đề ra một phương pháp riêng biệt để phân bố công việc đã định, chúng ta
mới có thể được dựa vào cách đo lường nó. Rõ ràng ta lập một chuẩn cho một công việc hiện hữu
và kế đó là phân bố công việc đó lại, đó là một việc phí công, chúng ta sẽ tìm hiểu về các lĩnh vực
có mối quan hệ với nhau này và trước tiên là phân bố công việc.
Trong sản xuất và cách đo lường, phân bố công việc đi sau phân bố sản phẩm, phương pháp
và trang thiết bị. Phân bố công việc định rõ nội dung của từng công việc và xác định cách chia
công việc trong phạm vi một tổ chức. Một kiến trúc sư có thể cất một căn nhà nhiều cách khác
nhau với nhiều nguyên liệu khác nhau, cũng như một quản lý có thể thảo công việc với những
thành phần khác nhau. Tiếp theo nữa là quan sát một cách khoa học từng chi tiết một công việc
nhằm loại bỏ chỗ nào phí công và đưa sức sản xuất lên. Những quan tâm đến tâm lý và xã hội sẽ
Trang 4
kích thích sự phát triển công việc, và làm cho tần lớp công nhân tham gia vào việc phân bố công
việc nhiều hơn. Với những điều kiện nào đó nó cũng có thể mang lại kết quả trong việc nâng cao
sức sản xuất.
1.1. Cách sắp đặt công việc theo lối cổ truyền
Những nhà quản lý phải chịu trách nhiệm nhiều về nhân công và trang thiết bị, nên họ thường
cảm thấy “quá tải” bởi những công việc quá chi tiết. Để đối phó với tình trạng trên, những nhà
quản lý cần phải:
- Khám phá cho được lĩnh vực thực hành tổng quát và những công việc chung.
- Phân tích cẩn thận và dẫn chứng làm thế nào công việc đang được thực hiện (những kĩ
thuật trong cách sắp xếp của nền kỹ nghệ rất có ích trong việc phân tích và dẫn chứng).
- Phân tích nội dung của từng công việc một và những yếu tố của từng công việc.
- Phải biết triển khai và bổ sung những phương pháp mới cho công việc thường công tác
có thề chia ra từng yếu tố một. Nếu những yếu tố này được giao cho những bậc công nhân khác
nhau, thì mỗi công nhân chỉ thực hiện một số yếu tố nhưng họ phải hoàn tất nhanh hơn nhất là có
một tam giác được dùng để chỉ sự lưu trữ vĩnh viễn. Khi một sản phẩm bổ sung chở được lưu trữ
dễ dàng hơn một ngày hay hai ngày.
Kiểm tra: tất cả những hoạt động được thực hiện để kiểm soát xem những sản phẩm phản
đối đầu với những đòi hỏi về cơ khí, kích thước và thi hành.
Trì hoãn: lưu trữ tạm thời trước khi hay sau khi sản xuất, khi biểu tượng của lưu trữ tạm thời
được dung, loại lưu trữ này thường bị bỏ quên.
Ba kĩ thuật cổ truyền này: sơ đồ thực hành, sơ đồ hoạt động, và sơ đồ phát triển làm dễ dàng
được phân tích bên trong công việc (từ vị trí từng cá nhân một) và những công việc liên đới (từ vị
trí này sang vị trí khác). Sau khi nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung của một công việc,
những kỹ sư và những chuyên viên có thể tìm ra phương cách để trao đổi những công việc mà
trước đây thường bị những nhà quản lý hoặc giám thị bỏ qua. Một khi giảm được thời gian chết,
những kỹ sư và những chuyên viên này mới có thể khuyến cáo loại bỏ những yếu tố không cần
thiết hay thay đổi cách phối hợp các yếu tố.
Bảng 1: tóm tắt cách áp dụng những kĩ thuật cho những hoạt động khác nhau. Trên bảng này
còn có hai điều khoản được nhắc đến để chỉ thời gian thứ nhất: Con đường thông thường nhỏ của
sơ đồ phát triển, nó vẽ tác động qua lại của một vài công nhân trên một chiếc máy và những
nguyên tắc tiết kiệm động tác. Những nguyên tắc tiết kiệm động tác là những đường nét hướng
dẫn tổng quát để phân tích và trau dồi cách sắp xếp một công việc, cách sử dụng bàn tay, than
mình hay cách sử dụng những dụng cụ thế nào cho tăng thêm hiệu quả và ít mệt.
Bảng 2: kê khai vài nguyên tắc trên có thể áp dụng cho cửa hiệu và cho cả công việc của một
cơ quan.
Bảng 1: Phương pháp sắp đặt cổ truyền
Hoạt động Phương pháp phân tích
Những việc lặp đi, lặp lại trong một chu kỳ
ngắn và chậm để điều tiết lượng hàng sản
xuất, đặt công nhân ở một chỗ cố định.
Sơ đồ thi hành, những nguyên tắc tiết kiệm
động tác
Những công việc lặp đi lặp lại thường nhật
trong một chu kỳ và điều tiết số lượng hàng
a) Hai cánh tay nên cử động
cùng một lúc bắt đầu, bổ túc
những động tác một lúc
b) Hai cánh tay nên cử động
tương phản nhau
Tất cả dụng cụ vật liệu hay tay
lái nên đặt để sao cho tiêu
dùng
Những máy điều chỉnh có thể
tham gia vào việc mà không
cần nhắc đến sự quan tâm
của người thợ máy.
Thân thể là cỗ máy cuối cùng
và tất cả năng lực của nó phải
được sử dụng
a) Không một bàn tay nào bị
bỏ quên
b) Công việc được chia cho
từng bộ phận của thân thể tùy
theo khả năng
c) Phải quan sát những hạn
chế của thân thể để đạt mục
đích chắc chắn
d) Thân thể phải được tận
dụng tối đa
Tất cả dụng cụ vật liều hay tay
lái nên đặt để sao cho khớp
nhau.
Tay lái và cách để chân khi
làm việc có thể làm nhẹ bớt
được lầm tối đa song song với
số lần các cơ bắp tham gia
Chỗ làm việc nên được đặt
sao cho thích hợp với công
việc và với con người
Hệ thống máy móc nên thích
hợp với người dùng.
1.2. Ảnh hưởng của môi trường làm việc đến việc phân bổ công việc
Trang 7
Môi trường làm việc cực kỳ quan trọng trong việc phân bố công việc. Nhiệt độ, độ ẩm và
không khí hít thở xung quanh đều tác động đến công việc. Có một bài nghiên cứu cổ điển ở Anh
nói về những kết quả của nhiệt độ làm việc. Trước khi bắt đầu thí nghiệm, những cuộc khảo sát
đều nhận thấy tốt hoặc trung bình với người thực hiện. Khuyến khích dùng nhiệt độ cao hay thấp
cho từng nhóm và nhiệt độ của nhứng phòng làm việc của công nhân được thay đổi từ ngày này
sang ngày khác.
Những kết quả của cuộc nghiên cứu này cho thấy hiệu quả công việc giảm đối với tất cả công
nhân làm việc ở nhiệt độ cao. Đa số công việc được hoàn tất tốt ở nhiệt độ 60
0
Fahrenheit, khi
nhiệt độ tăng tới 80, 85 và 90
0
công việc thực sự không hoàn tất nổi. Mặc dù baì nghiên cứu này
tập trung vào công việc của người lao động chân tay, những nguyên tắc tương tự cũng có thể áp
dụng cho những người làm việc văn phòng. Nhiệt độ tốt nhất cho công việc, không phải chân tay,
những nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho những người làm việc văn phòng. Nhiệt độ tốt nhất
cho công việc, không phải chân tay từ 68
0
đến 72
0
. Nhiệt độ tăng, hiệu quả giảm. Nếu bạn đã từng
Nhiểu công nhân rút lui khỏi cơ quan, nơi có mức độ đi trễ, nghỉ làm thường xuyên. Nếu các
chủ quản lý mở rộng công việc bằng việc tăng thêm những nhiệm vụ, các nhân tố kích thích thêm
vào sẽ làm giảm những tác xấu do công việc có tính quá đơn giản và quá chuyên môn.
Sự khái niệm hóa của chúng ta về một công việc được mở rộng đưa ra 4 cơ hội cho người
lao động:
1. Tính đa dạng, cơ hội sử dụng các kỹ năng khác nhau.
2. Sự tự quản, cơ hội để thực hiện quyền kiểm soát đối với việc bằng cách nào khi nào công
việc được hoàn thành.
3. Sự nhận biết nhiệm vụ được giao, cơ hội để chịu trách nhiệm toàn bộ hay chương trình
công việc.
4. Sự phản hồi cơ hội để nhận được thông tin nóng.
Vì vậy, sự mở rộng công việc là thao tác của việc tái thiết kế công việc hoặc sửa đổi công việc
sao cho người lao động có thể cảm thấy bị cuốn hút hơn và có ý thức trách nhiệm hơn đối với
điều kiện mà họ làm.
Tính chất và nội dung của công việc có thể được thay đổi qua sự mở rộng của công việc bằng
2 cách cơ bản
- Cách 1: Nhiều việc dùng tính chất và kỹ năng làm việc có thể được bổ sung vào. Ví dụ
một công việc bao gồm việc siết một con tán vào một con ốc thì nó có thể được tái thiết kế để siết
4 con tán vào 4 con ốc khác nhau. Lúc đó công việc sẽ được mở rộng theo chiều ngang.
- Cách 2: Các việc có tính chất khác nhau nhưng giống nhau về kỹ năng có thể được thêm
vào. Thay vì chỉ siết 1 con tán vào 1 con ốc, thì người công nhân có thể ráp 2 miếng kim loại và
mốt miếng nhựa, siết một con tán và một con ốc để giữ chặt cả bộ phận lại và đi đến khu vực nhà
kho để lấy thêm tán và ốc. Công việc được mở rộng theo chiều dọc.
1.4. Nâng cao chất lượng công việc
Nâng cao chất lượng công việc là thiết kế lại nội dung công việc để nó có ý nghĩa hơn và đem
lại sự phấn khởi qua việc tạo điều kiện cho công nhân tham gia vào việc hoạch định, tổ chức, điều
khiển công việc của họ.
Việc nâng cao chất lượng công việc giả định là có rất nhiều công việc chuyên môn mà những
người công nhân không thể nào hình dung được là làm sao họ có thể góp phần vào mục đích
chung
có sức thuyết phục, việc nghiên cứu thường tập trung vào những công việc thêm vào để nâng cao
chất lượng công việc do đó sẽ thất bại. Một vài công nhân không chấp nhận những giá trị của cấp
trung bình và mục tiêu gắn liền với việc nâng cao chất lượng công việc, họ không muốn trở thành
nhà quản lý. Đối với một việc khác, nâng cao chất lượng công việc có thể làm rút ngắn sự tương
tác trong xã hội, tóm lại nhiều công nhân cảm thấy không thích thú và nhiều công nhân thích mức
độ yêu cầu thấp về năng lực, an toàn cao, độc lập tương đối hơn là tăng thêm trách nhiệm và
trưởng thành như việc nâng cao chất lượng công việc gợi ý.
Bảng 3: Những giải pháp từng phần thiết kế công việc dành cho
những công việc khó mở rộng hoặc khó nâng cao chất lượng.
Tính chất công việc Giải pháp từng phần để thiết kế công việc
Thường nhật, lặp đi
lặp lại. Buồn chán,
nóng bức, ồn ào.
Thường là không
thích thú
Xem công việc như mới bắt đầu với nhận thức là người công nhân sẽ
có mặt tại đó trong thời gian ngắn.
Bố trí người làm việc hàng ngày. Thường bạn có thể có một vài người
tình nguyện làm việc, đó là những người muốn tìm sự thay đổi chứ
không thích làm việc thường trực.
Sử dụng người tâm thần, tật nguyền gắn họ vào loại công việc này. Họ
sẽ hoàn thành xuất sắc nếu được huấn luyện chu đáo và thích đáng
Trang 10
tương xứng với công việc.
Sử dụng công nhân bán thời gian. Đặc biệt là công việc trọng thời gian
không thích hợp với họ. Họ thường vui vẻ làm những công việc mà nếu
làm trọn thời gian họ sẽ không thích thú gì.
II. Tiêu chuẩn sản xuất và hoạt động
Tiêu chuẩn sản xuất và hoạt động là một chuẩn mực được đặt ra như là cơ sở để so sánh
trong khi đo lường và xem xét sản lượng. Tiêu chuẩn có thể được lập ra cho số lượng và đó là cơ
chuẩn phải được duy trì cân xứng với sản phẩm. Các nhà quản lý có nhiều mục tiêu đó với nhiều
Trang 11
tiêu chuẩn khác nhau.
Thời gian lao động được sử dụng ít đồng bộ hơn trong khu vực dịch vụ so với khu vực sản
xuất sản phẩm. Trong khu vực dịch vụ thông thường số lao động rất lớn do đó nó sẽ được lợi hơn
nếu tính thời gian lao động chuẩn. Nếu bạn là nhà quản lý giỏi, bạn hãy tìm việc cho mình ở khu
vực dịch vụ vì bán sẽ có cơ may đạt nhiều lợi nhuận từ khu vực này nếu bạn áp dụng các kỹ thuật
quản lý khoa học vừa nêu trên.
2.3. Cách sử dụng các tiêu chuẩn:
Tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá khả năng của công nhân và sự thành thạo của họ, để
dự đoán, hoạch định và kiểm soát các hoạt động. Những tiêu chuẩn đặt ra bởi sự ứng dụng khoa
học công nghệ được sử dụng trong việc kiểm tra sản xuất, tính chi phí và trong nhiều bộ phận hay
đơn vị công việc. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định giá chi phí sản xuất, đồng thời
tiêu chuẩn là chìa khóa nối liền các hoạt động trao đổi hiện tại và các hoạt động hoạch định, tổ
chức, kiểm soát.
Tiêu chuẩn đánh giá khả năng
Đánh giá khả năng Dự đoán, hoạch định và kiểm tra hoạt động
- Đánh giá khả năng cá nhân, bồi thường
tiếp theo.
- Đánh giá khả năng bộ phận, giám sát
tiếp theo.
- Đánh giá tiến trình thiết kế, cách trình
bày và phương pháp làm việc.
- Dự đoán dòng chi phí và lợi tức về đánh
giá thiết bị luân phiên được so sánh.
- Hình thành các chi phí chuẩn.
- Hoạch định toàn bộ mức độ sức lao động
và tỷ lệ sản xuất.
- Hoạch định công suất và cách sử dụng.
- Lên chương trình hoạt động, chuỗi thời gian
Trong việc cân bằng các chi phí của cỡ mẫu và các chi phí của sai xót, có thể tìm một loạt các
chi phí hợp lý thấp.
Quan điểm về một công nhân trung bình còn lưu ý đến điểm khác. Một khi các tỷ lệ khả năng
trung bình được xác lập, tiêu chuẩn khả năng còn thừa được đặt ra. Tiêu chuẩn có phải được xác
lập từ tính trung bình của toàn bộ khả năng của nhóm hay từ mức độ mà hầu hết các nhóm đều
được yêu cầu phải đạt tới.
Phạm vi thành thạo:
Khi thiết lập các tiêu chuẩn công việc, nhà quản lý thông thường xem số lượng để đo lường
khả thành thạo còn chất lượng thuộc hàng tiêu chuẩn thứ hai. Số lượng thường được đo bằng cái
trong khoảng thời gian đối với ngành dịch vụ. Những điểm chính khi xác định phạm vi thành thạo
là:
− Phạm vi phải được chỉ định trước khi xác định tiêu chuẩn.
− Tiêu chuẩn và phạm vi khả năng hiện tại tiếp theo phải được đo lường cả hai.
2. Những kỹ thuật đo lường công việc:
Có 6 cách căn bản để thiết lập một tiêu chuẩn thời gian (công việc):
− Không quan tâm đến tiêu chuẩn đo lường công việc.
− Sử dụng phương pháp dữ kiện quá khứ.
− Sử dụng phương pháp nghiên cứu thời gian trực tiếp.
− Sử dụng phương pháp nghiên cứu thời gian xác định.
− Sử dụng phương pháp lấy mẫu công việc.
− Kết hợp từ phương pháp 2 với phương pháp 5.
a. Không quan tâm đến tiêu chuẩn đo lường công việc:
Đối với nhiều công việc trong nhiều tổ chức, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng nhiều lao động,
các tiêu chuẩn lao động quy ước không đơn giản được xác lập. Lương sản phẩm cho một ngày
lao động sòng phẳng không được quan tâm đến. Kết quả là quản lý kém hoặc quản trị không hiệu
quả. Nếu công nhân không được biết các mục tiêu thì kết quả là hiệu suất lao động kém.
b. Phương pháp dữ liệu quá khứ:
Sử dụng dữ liệu quá khứ như là hướng dẫn chính để xác lập các tiêu chuẩn.
Thuận lợi của phương pháp này là: đơn giản, nhanh chóng.
Bất lợi của phương pháp này là: quá khứ có thể không giống hiện tại mà người công nhân
biểu, vật liệu điển hình, công nhân trung bình).
− Ghi nhận từng yếu tố công việc.
− Có được những bảng thời gian định sẵn cho các yếu tố khác nhau và ghi lại những đơn vị
thao tác cho ca yếu tố khác nhau.
− Thêm vào tổng số các đơn vị thao tác cho tất cả các yếu tố.
− Ước tính một khoản trừ hao cho thời gian cá nhân, những trì hoãn và mệt mỏi cho những
đơn vị thao tác.
− Thêm vào những đơn vị thao tác thực hiện công việc và những đơn vị trừ hao cho một
đơn vị thao tác chuẩn cùng một lúc và chuyển những đơn vị thao tác này thành thời gian thực tế
tính bằng phút hay giờ. Thời gian tổng cộng này là tiêu chuẩn thời gian định sẵn.
Trang 14
Thuận lợi của phương pháp này là: chúng loại trừ những phản ứng không có tính tiêu biểu ở
người công nhân khỏi những nghiên cứu thời gian chính.
Bất lợi của phương pháp này là: cách sử dụng của nó. Nếu vì yếu tố công việc không được
ghi lại hoặc chúng không được ghi một cách phù hợp, sự tính giờ này sẽ không chính xác. Nếu
những yếu tố công việc không thể được nhận dạng một cách đúng đắn và được định trong một
bảng, chúng phải được đánh giá theo sự tiếp cận nghiên cứu thời gian trực tiếp.
e. Phương pháp lấy mẫu công việc:
Việc lấy công việc làm mẫu không liên quan đến phương pháp đo lường bằng đồng hồ bấm,
thay vào đó nó dựa trên cơ sở những kỹ thuật lấy công việc làm mẫu đơn giản, ngẫu nhiên bắt
nguồn từ lý thuyết thống kê, lấy mẫu mục đích của nó là đánh giá tỷ lệ thời gian người công nhân
được dành cho những hoạt động công việc. Nó tiến triển theo những bước sau:
− Quyết định điều kiện nào bạn muốn xác định như là làm việc và những điều kiện nào bạn
muốn xác định như là không làm việc.
− Quan sát hoạt động ở những khoảng thời gian có chọn lựa, ghi lại người đó có làm việc
hay không.
− Tính toán tỷ lệ thời gian mà người công nhân tham gia vào công việc.
− P = x/n = (số làm việc diễn ra) / (tổng số lần quan sát).
Trang 15
PHẦN 2: ỨNG DỤNG THỰC TIỄN TẠI CÔNG TY CP ĐÔNG HẢI BẾN TRE
bì carton vàng 5 lớp, thời gian hoạt động: 3 ca, mỗi ca 8 giờ; thời gian nghỉ mỗi ca là 2 giờ, nghỉ
luân phiên nhằm đảm bảo hoạt động liên tục với nhân sự 1 ca/dây chuyền: 34 người gồm 4 kỹ
thuật và 30 công nhân.
Quy trình sản xuất bao bì carton được miêu tả như sau:
Nguyên vật liệu: cho giấy kraft vào máy
Cắt giấy tấm: tạo bước sóng, dán lớp, cắt giấy tấm nhỏ theo kích thước sản phẩm
In, bế, cắt: in chữ, xẻ rãnh, cán lằn gập
Thành phẩm: kiểm tra, dán, bó, buộc dây, đóng ghim
Với công việc được phân bổ và đo lường cụ thể tại từng khâu sản xuất.
Đối với khâu nguyên vật liệu: Số lượng công nhân được bố trí khoảng 6 người, thường luân
phiên chia nhóm 4 người để làm việc với nhiệm vụ cung cấp đầy đủ và kịp thời nguyên vật liệu
cho quy trình hoạt động liên tục, đồng thời kiểm tra tình hình nguyên vật liệu trong máy, xử lý
những lỗi phát sinh đối với nguyên vật liệu. Ngoài ra, nhóm nhân công này còn chịu trách nhiệm
bảo quản máy móc theo quy định, báo cáo tình trạng hoạt động với quản lý trực tiếp.
Đối với khâu khâu cắt giấy tấm: Số lượng công nhân được bố trí khoảng 9 người với nhiệm
vụ lấy giấy tấm từ máy cắt giấy tấm đưa ra và chuyển sang khâu In–Bế– Cắt. Các nhân công tại
khâu này thường kiểm tra ngẫu nhiên một sản phẩm bất kỳ trong mỗi khuôn trước khi chuyển
sang khâu kế tiếp. Ngoài ra, nhóm nhân công này cũng phải chịu trách nhiệm bảo quản máy móc
theo quy định, báo cáo tình trạng hoạt động với quản lý trực tiếp.
Đối với khâu In – Bế – Cắt: Số lượng công nhân được bố trí khoảng 11người với nhiệm vụ
lấy sản phẩm từ máy In–Bế–Cắt đưa ra và chuyển sang khâu thành phẩm. Các nhân công tại
khâu này thường kiểm tra ngẫu nhiên một sản phẩm bất kỳ trong mỗi khuôn trước khi chuyển
sang khâu kế tiếp. Ngoài ra, nhóm nhân công này cũng phải chịu trách nhiệm bảo quản máy móc
theo quy định, báo cáo tình trạng hoạt động với quản lý trực tiếp.
Đối với khâu thành phẩm: Số lượng công nhân được bố trí khoảng 4 người, thường luân
phiên chia 2 nhóm để làm việc với nhiệm vụ kiểm tra thành phẩm, đóng kiện và chuyển vào kho
hàng, bảo quản thiết bị hỗ trợ trong bộ phận và báo cáo tình trạng thành phẩm và hoạt động của
bộ phận với quản lý trực tiếp.
Bên cạnh đó, công ty còn bố trí nhiều nhân viên kỹ thuật với nhiệm vụ: kiểm tra khuôn, mực
in, keo dán lớp, nhiên liệu…còn trong máy đảm bảo hoạt động; tuần tra theo dõi tình hình hoạt
gian chạy 1 khuôn: 55 giây
Quan sát trực tiếp thời gian làm việc của công nhân trong 1 ca làm việc từ 6 giờ sáng đến 14
giờ trưa), bấm giờ và ghi lại, kết quả như sau:
STT Thời gian thực hiện (giây) Số lần quan sát
1 339 10
2 347 14
3 360 12
4 368 8
5 375 5
6 386 8
Tổng số lần quan sát 57
Tổng thời gian làm việc bình thường: 20.475 giây
Thời gian trung bình cho 1 chu kỳ: 359,21 giây
Tính thời gian làm việc
Thời gian 1 ca: 8 giờ x 3600 giây = 28.800 giây
Thời gian cá nhân (nghỉ giữa ca 3 lần: tổng cộng 2 giờ)
2 giờ x 3600 giây = 7.200 giây
Thời gian làm việc chuẩn:
20.475 + 7200 = 27,675 giây
Trang 18
Số lượng chu kỳ làm việc chuẩn cho một ca sản xuất của 1 công nhân cắt giấy tấm:
(28.800–7.200)/359,21 = 60,13 chu kỳ
4.2.3 Đối với khâu In – Bế – Cắt:
Chu kỳ công việc: Lấy thùng carton từ máy In – Bế – Cắt => Đẩy sang khâu thành phẩm =>
Quay lại vị trí máy In – Bế – Cắt => Một khuôn thành phẩm từ máy có 20 sản phẩm => Thời gian
chạy 1 khuôn: 25 giây
Quan sát trực tiếp thời gian làm việc của công nhân trong 4 giờ làm việc từ 6 giờ sáng đến 10
giờ trưa), bấm giờ và ghi lại, kết quả như sau:
STT Thời gian thực hiện (giây) Số lần quan sát
1 218 9
Trang 19
Thời gian chuẩn làm việc:
10.583 + 3.600 = 14.183 giây
Số lượng chu kỳ làm việc chuẩn cho 4 giờ sản xuất của 1 nhóm 2 công nhân thành phẩm:
(14.400–3.600)/460,13 = 23,47 chu kỳ
5. Ảnh hưởng của môi trường làm việc đến sự phân bổ và đo lường công việc
Nhiệt độ: mặc dù các máy móc không đặt gần kề nhau nhưng do hoạt động liên tục nên sức
nóng lớn ảnh hưởng đến năng lực làm việc –> không thể làm việc trong 1 thời gian dài
Sản phẩm làm từ nguyên liệu giấy nên dễ gây bụi và có mùi giấy thô khó chịu ảnh hưởng
không tốt đến sức khỏe hô hấp của người lao động về lâu dài.
6. Nhận xét và kiến nghị về quá trình phân bổ và đo lường công việc tại Công ty
DOHACO
Quy trình sản xuất của Công ty cho thấy công việc của mỗi công nhân khá đơn điệu, chủ yếu
chỉ lặp lại công việc là lấy thành phẩm từ khâu này chuyển sang khâu kia.
Đôi khi sẽ có những khoản thời gian nói chuyện do sản phẩm ra chậm hơn so với tiến độ. Do
đó có thể bố trí thêm công việc đa dạng hơn hoặc phân công hỗ trợ nhau giữa các khâu:
Công nhân nguyên vật liệu: sau khi cho nguyên vật liệu vào máy, thay vì cả nhóm chờ thì
có thể bố trí 1–2 người trực máy, những người còn lại có thể hỗ trợ ở các khâu còn lại.
Công nhân ở khâu cắt giấy tấm, In–Bế–Cắt và thành phẩm có thể phân bỗ luân phiên thay
đổi vị trí công việc để giản sự nhàm chán
Đối với công nhân làm việc tại 3 khâu cắt giấy tấm, In–Bế–Cắt và thành phẩm: tính chất
công việc lặp lại liên tục, sử dụng phương pháp nghiên cứu thời gian trực tiếp
Đối với công nhân ở khâu nguyên vật liệu:công việc định kỳ và gián đoạn, sử dụng phương
pháp lấy mẫu công việc
Đối với nhân viên kỹ thuật: áp dụng hình thức khoán công việc theo chuyên môn, không có
định mức cụ thể nên không áp dụng đo lường.
Trang 20