NGHIÊN CỨU KHÁNG INSULIN, YẾU TỐ NGUY CƠ MỚI CỦA BỆNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO - Pdf 20

NGHIÊN CỨU KHÁNG INSULIN, YẾU TỐ NGUY CƠ MỚI
CỦA BỆNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TÓM TẮT:
MỤC ĐÍCH: Mục đích của đề tài này là xác định tình trạng và tỷ lệ kháng insulin
ở bệnh nhân tai biến mạch máu não, nghiên cứu giá trị của một số chỉ số gián tiếp
dùng đánh giá và theo dõi tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân tai biến mạch máu
não.
PHƯƠNG PHÁP: Các chỉ số HOMA= insulin (mU/ml) x glucose (mmol/l) /
22,5; QUICKI= 1/log [I
0
+G
0
]; I
0
/ G
0
và I
2
/ G
2
được tính toán qua xét nghiệm máu
lúc đói và sau 2 giờ cho dung nạp 75g glucose bằng đường uống ở 82 bệnh nhân
tai biến mạch máu não đã điều trị tại Bệnh viện trung ương Huế và 82 người
chứng.
KẾT QUẢ: Nồng độ trung bình của I
0
(15,12+13,21 µU/ml) và I
2
(92,78+78,77

0
]; I
0
/ G
0
and I
2
/ G
2
indices were calculated from fasting
values and 2h post-75g oral glucose load in 82 stroke patients from the Hue
Central Hospital and 82 healthy control subjects.
RESULTS: The mean concentration of I
0
(15,12+13,21 µU/ml) and I
2

(92,78+78,77 µU/ml) of stroke patients were higher than those of control subjects
(p<0,001). Mean values of the indices I
0
/G
0
(3,42+3,08), I
2
/G
2
(12,66+9,48),
HOMA (3,06+2,71) were differentiated statistically between 2 groups. The mean
value of the index QUICKI (0,83+0,15) of stroke patients was lower than that of
control subjects (p<0,002). According to selected indices, the percentage of insulin

cứu. Để thuận lợi cho những nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học, nhiều phương
pháp gián tiếp và đơn giản đã được đề nghị để đánh giá tình trạng kháng insulin,
dựa vào sự xác định nồng độ insulin lúc đói và sau khi kích thích tiết bằng glucose
và dựa vào tỉ insulin/glucose được tính toán với những công thức toán học khác
nhau. Phù hợp với đòi hỏi này có chỉ số HOMA (homeostasis model assessment)
do Mathews đề xướng là một chỉ số được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu dịch
tễ kháng insulin hiện nay. Gần đây, Katz và cộng sự đã đưa ra một chỉ số mới và
chính xác để đánh giá nhạy cảm insulin ở người, được gọi là chỉ số QUICKI
(quantitative insulin sensitivity check index), là một chỉ số có tương quan chặt chẽ
với nghiệm pháp kìm giữ đẳng đường huyết cường insulin hơn các chỉ số đã sử
dụng trước đây.
Xuất phát từ những thực tiễn đặt ra, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên
cứu trên nhóm bệnh tai biến mạch máu não tại Thừa Thiên Huế với các mục đích
nghiên cứu sau:
1.Xác định tình trạng kháng insulin và tỷ lệ kháng insulin ở bệnh nhân tai biến
mạch máu não.
2.Tìm hiểu giá trị của một số chỉ số gián tiếp trong đánh giá tình trạng kháng
insulin ở bệnh nhân tai biến mạch máu não.

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1.Đối tượng nghiên cứu:
-Nhóm bệnh : gồm 82 người bị tai biến mạch máu não. Đó là những bệnh nhân ở
giai đoạn ổn định sau khởi phát bệnh và tình nguyện tham gia vào nghiên cứu, đã
được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế.
-Nhóm chứng : gồm 82 người (tuổi và giới tương đương với nhóm bệnh) được
chọn một cách ngẫu nhiên trong các đối tượng đến kiểm tra sức khỏe tại Phòng
bảo vệ sức khoẻ cán bộ Thừa Thiên Huế trong tình trạng mạnh khỏe.
2.Phương pháp nghiên cứu:
-Chẩn đoán bệnh tai biến mạch máu não:
+Tiêu chuẩn xác định bệnh TBMMN: Dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng.

Thực hiện định lượng mẫu đôi tại Khoa Y học hạt nhân - Bệnh viện Trung ương
Huế trên dây chuyền máy Automatic Well Scintillation Counting System
(OAKFIELD-Anh) - Spectrometer/Interface Unit (OAKFIELD-Anh)-Mini Assay
type 6-20 (Mini-Instrument, Anh). Đơn vị biểu thị mU/ml.
-Định lượng glucose máu:
Lấy máu tĩnh mạch và định lượng glucose máu ở các thời điểm theo phương pháp
GOD-PAP (test quang phổ enzym) với kit Glucose GOD FS* (DiaSys) trên máy
AUTOMATIC ANALYZER - HITACHI 704 (Đức) tại Khoa Sinh hoá - Bệnh
viện Trung ương Huế. Đơn vị biểu thị mmol/l.
3.Xử lý kết quả nghiên cứu:
Các chỉ số được tính theo công thức sau:
Chỉ số HOMA = I
0
(µU/ml) x G
0
(mmol/l) / 22,5
Chỉ số QUICKI = 1 / Log [ I
0
+ G
0
]
Chỉ số I
0
(µU/ml) / G
0
(mmol/l)
Chỉ số I
2
(µU/ml) / G
2

32,93
67,07
100

Bảng 2: Phân bố nhóm chứng theo tuổi và giới
Giới /
Tuổi
30 – 50 51 - 70 71 – 90 Tổng số Tỷ lệ %
Nữ
Nam
Tổng số
Tỷ lệ %
5
9
14
17,07
18
24
42
51,22
5
21
26
31,71
28
54
82
100
34,15
65,85

2002)
Akbar
(SaudiArabie
2001)

Nhóm tuổi
thường
gặp 62,2+11

65-74

55-64

71,7

62-66
2 .Phân tích các thông số và các chỉ số sử dụng để đánh giá tình trạng kháng
insulin trong nhóm bệnh và nhóm chứng :
Bảng 4 : Các thông số đánh giá tình trạng kháng insulin ở nhóm bệnh và nhóm
chứng
Nhóm
/ xét
nghiệ
m
I
0


8

12,66+9,4
8

4,54+0,7
8

7,3+2,08
Nhóm
chứng
(X+SD
) 10,4+5,34

61,22+45,7

2,33+1,1
5

9,89+5,75

4,49+0,4
9

6,02+1,4
8


(X+SD) 0,89+0,14

2,09+1,18

P P<0,002

P<0,001
Nhìn vào Bảng 4 và 5 có nhiều giá trị trung bình của các thông số đánh giá tình
trạng kháng insulin đều có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh và
nhóm chứng
-Trong khi G
0
không khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm bệnh và nhóm chứng thì
giá trị trung bình của I
0
ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê.
Điều này phản ánh đã có hiện diện tình trạng kháng insulin ở nhóm bệnh
nhân tai biến mạch máu não.
-Nồng độ trung bình của I
2
ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống

-Giá trị trung bình của các chỉ số I
0

mối liên quan giữa tăng insulin máu và nguy cơ TBMMN, định lượng G
0
và I
0

G
1
, I
1
, G
2
, I
2
sau khi sử dụng thử nghiệm dung nạp glucose. Nghiên cứu cho thấy
tăng insulin máu liên quan với nguy cơ TBMMN, nhưng không độc lập với các
YTNC khác, đặc biệt béo phì dạng nam.
+Kain A. và cs. (2001) khi tìm hiểu các YTNC của đột quỵ não trên 143 bệnh
nhân nhồi máu não người Nam Á so với chứng cho thấy nồng độ trung bình I
0

nhóm bệnh (12 µU/ml) cao hơn nồng độ I
0
nhóm chứng (8,5 µU/ml) (p<0,0001),
giá trị trung bình của chỉ số HOMA nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng (p=0,001).
Kết luận có tình trạng tăng insulin máu và tăng kháng insulin ở bệnh nhân nhồi
máu não.
+Kernan và cs. (2002) nghiên cứu cho thấy kháng insulin là yếu tố nguy cơ nổi bật
đối với TBMMN. Những thuốc mới có thể có hiệu quả làm giảm kháng insulin và
có thể đóng vai trò trong phòng ngừa bệnh TBMMN.
Những khác biệt vừa nêu trong các nghiên cứu trên và trong nghiên cứu của chúng

2
/G
2
15,64 29,3% 13,4% P <0,05
Hiện nay các tác giả sử dụng nhiều thông số để xác định tỷ lệ kháng insulin trong
nhiều nhóm bệnh khác nhau có tình trạng kháng insulin trong đó có bệnh lý
TBMMN.
Để tiện cho việc chọn giá trị của các điểm cắt giới hạn của các thông số chúng tôi
dựa vào các căn cứ sau và chủ yếu dựa vào các dữ liệu trong nhóm chứng chúng
tôi thu thập được:
-Các thông số I
0
, I
2
, I
0
/G
0
và I
2
/G
2
trong đề tài chúng tôi chọn giá trị X + 1SD
trong nhóm chứng làm điểm cắt giới hạn. Lý do của sự chọn lựa này là chúng tôi
dựa vào cách chọn được đa số các tác giả công nhận và đã từng áp dụng cho việc
đánh giá tình trạng kháng insulin trên những nghiên cứu có quy mô và mẫu lớn
dựa vào cộng đồng.
-Còn điểm cắt giới hạn của chỉ số HOMA thì dựa vào định nghĩa kháng insulin
của TCYTTG (1998), tức là chọn tứ phân vị lớn nhất của chỉ số HOMA trong
nhóm chứng.

chúng tôi đã xác định được tỷ lệ kháng insulin của nhóm bệnh cao hơn nhóm
chứng có ý nghĩa thống kê.
*Chỉ số HOMA, I
0
, I
2
và I
0
/G
0
và I
2
/G
2
là các chỉ số đã được sử dụng rộng rãi
trong nghiên cứu dịch tễ tình trạng kháng insulin và đã áp dụng trong nhiều công
trình nghiên cứu trên các nhóm bệnh lý khác nhau.
+Theo Marques-Vidal và cs. (2002) khi nghiên cứu dịch tễ tần suất hội chứng
kháng insulin ở vùng Tây Nam của Pháp, trong một nghiên cứu cắt ngang trên
mẫu 1153 người, hội chứng kháng insulin được xác định khi chỉ số HOMA > 3,8,
tác giả đã xác định được tần suất hội chứng kháng insulin ở nam cao hơn nữ (23 so
với 12%; p <0,001).
+Ascaro và cs. (2003) tiến hành nghiên cứu với mục đích xác định phương pháp
gián tiếp và đơn giản để thăm dò kháng insulin, tác giả đã chọn giá trị ở vị trí thứ
75 của bách phân vị như là điểm cắt giới hạn để xác định kháng insulin. Chỉ số
này tương ứng với insulin lúc đói ở mức 12 µU/ml và chỉ số HOMA là 2,6.
+Huỳnh Văn Minh (1996) nghiên cứu kháng insulin, một YTNC của bệnh tăng
huyết áp nguyên phát. Trong nghiên cứu đã chọn điểm cắt giới hạn của chỉ số I
0


trên lâm sàng.
*Trong khi tiến hành nghiên cứu và thực hành lâm sàng, ngoài các chỉ số truyền
thống trước đây, chỉ số QUICKI là một chỉ số gián tiếp mới dùng xác định kháng
insulin và đã được áp dụng trên nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau:
+Gonzalez (2001) xác định giá trị trung bình chỉ số QUICKI trên nhóm
béo phì có THA, nhóm béo phì có huyết áp bình thường và nhóm chứng. Tương
quan giữa chỉ số QUICKI và chỉ số nhạy cảm insulin ISI (insulin sensitivity index)
là rất cao (r:0,88;p< 0,001).
+Chen và cs. (2003) xác định giá trị chỉ số QUICKI trên nhóm bệnh nhân
THA, kết quả cho thấy chỉ số QUICKI có tương quan chặt chẽ với nghiệm pháp
kìm giữ đẳng đường huyết cường insulin (r: 0,84). Kết luận chỉ số QUICKI là một
chỉ số chính xác và đơn giản đánh giá nhạy cảm insulin, sử dụng để đánh giá và
theo dõi kháng insulin ở bệnh nhân THA.
+Rabasa-L’horet và cs. (2003) đã tìm hiểu tương quan giữa chỉ số
QUICKI và nghiệm pháp kìm giữ đẳng đường huyết cường insulin trên nhiều đối
tượng nghiên cứu khác nhau liên quan rõ với tình trạng kháng insulin như béo
phì, hội chứng buồng trứng đa nang, đái đường týp 2 và rối loạn dung nạp glucose.
Kết quả cho thấy chỉ số QUICKI có tương quan rõ với nghiệm pháp kìm giữ đẳng
đường (r:0,78; p < 0,001) và chỉ số này được xem như một dụng cụ đơn giản để
ước tính nhạy cảm insulin trong nghiên cứu dịch tễ.
+Rajala và cs. (2002) nghiên cứu liên quan giữa tình trạng xơ vữa động
mạch cảnh với hội chứng kháng insulin, kết quả cho thấy có tương quan nghịch
giữa độ dày lớp áo trong động mạch cảnh chung và chỉ số QUICKI (r:-0,158;
p=0,027). Giá trị trung bình của chỉ số QUICKI là thấp hơn ở bệnh nhân đái
đường (0,319 + 0,027) so với bệnh nhân có rối loạn dung nạp glucose (0,334 +
0,022) hay có glucose máu bình thường (0,335 + 0,022; p=0,002).
Đa số các nhóm bệnh nghiên cứu trên là thuộc nhóm bệnh lý mạch máu nói chung,
có kháng insulin đóng vai trò chính trong nguyên nhân bệnh sinh hay chiếm vị trí
trung tâm trong kết chùm các YTNC. Như vậy, ngoài một số chỉ số gián tiếp sử
dụng để đánh giá tình trạng kháng insulin trước đây như chỉ số HOMA, I

/G
0
và tỷ
I
2
/G
2

Chỉ số HOMA I
0
I
2
I
0
/G
0
I
2
/G
2QUICKI -0,70
p < 0,001

-0,74
p < 0,001

cao (r:-0,91; p < 0,001).
+Chen và cs. (2003) đã tiến hành nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân THA, kết quả
nghiên cứu cho thấy chỉ số QUICKI có tương quan chặt chẽ với chỉ số 1/HOMA
(r: 0,97, p< 0,001) và chỉ số logHOMA (r:-0,99; p< 0,001).
*Từ kết quả tương quan thu được càng khẳng định thêm giá trị sử dụng của chỉ số
QUICKI ngoài chỉ số HOMA đã được công nhận và sử dụng nhiều trong nghiên
cứu lâm sàng và dịch tễ. Có thể xem chỉ số QUICKI như là một chỉ số gián tiếp,
đơn giản, có thể chấp nhận và có giá trị trong đánh giá tình trạng kháng insulin ở
bệnh nhân TBMMN và có thể mở rộng áp dụng ở các nhóm bệnh lý khác mà
kháng insulin là YTNC dự phần.
*Khi xét đến mối liên quan giữa 2 chỉ số QUICKI và HOMA được sử dụng trong
đánh giá kháng insulin trên nhóm bệnh TBMMN. Chúng tôi có một số nhận xét
sau:
+Cả 2 chỉ số HOMA và QUICKI đều chọn I
0
và G
0
làm biến số của mình.
+Giá trị trung bình của 2 chỉ số này đều khác biệt giữa nhóm bệnh và nhóm
chứng. Điểm khác biệt là chỉ số HOMA trong nhóm bệnh cao hơn trong nhóm
chứng , còn chỉ số QUICKI thì ngược lại.
+Nồng độ I
0
càng cao dần thì giá trị chỉ số HOMA càng tăng và giá trị chỉ số
QUICKI càng thấp. Như vậy càng tăng kháng insulin thì giá trị của chỉ số HOMA
càng tăng và giá trị chỉ số QUICKI càng thấp.
+Khi sử dụng chỉ số HOMA và QUICKI để tính tỷ lệ kháng insulin trên nhóm
bệnh và nhóm chứng thì kết quả thu được khá tương đương và đều lớn hơn tỷ lệ
kháng insulin ở nhóm chứng có ý nghĩa thống kê.
+Tương quan giữa chỉ số QUICKI và chỉ số HOMA là rất chặt chẽ.

2
/G
2
(12,66+9,48), HOMA (3,06+2,71) trong nhóm
bệnh cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê. Giá trị trung bình của chỉ số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status