Phát triển khao học kỹ thuật tăng nhu cầu của con người trong hưởng thụ và tiềm năng cho du lịch nghỉ dưỡng - Pdf 20


CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI ( FDI : FOREIGN DIRECT INVESTMENT )
I. Đầu tư nước ngoài và các loại hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
1. Khái niệm về đầu tư nước ngoài
Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do hoàn toàn thống trị là
việc xuất khẩu hàng hóa sang các nước kém phát triển hơn. Nhưng đến cuối thế
kỷ 20, với sự hình thành các tổ chức độc quyền, thì trong nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa xuất hiện thêm hình thức xuất khẩu mới-xuất khẩu tư bản. Bằng việc
xuất khẩu tư bản, nhà tư bản tổ chức việc sản xuất ở nước ngoài, hàng hóa sản
xuất ra của các xí nghiệp nước ngoài sẽ thay thế một phần cho việc xuất khẩu
hàng hóa. Xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới hình thức đầu tư quốc tế.
Đầu tư quốc tế là một quá trình kinh tế trong đó các nhà đầu tư nước
ngoài ( tổ chức hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào
nước nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ
nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt được các hiệu quả xã hội.
Sự hợp tác đầu tư quốc tế giữa hai bên và nhiều bên là xu hướng có tính
chất quy luật trong điều kiện tăng cường quốc tế hoá đời sống kinh tế hiện nay,
tuy rằng trên thực tế, sự hợp tác này không đơn giản mà trái lại luôn chứa đựng
một sự cạnh tranh gay gắt. Song dù sao trong hợp tác đầu tư, lợi ích của các
bên tham gia cũng khá gắn liền với nhau. Nhận thức rõ của xu hướng này và sử
dụng nó một cách khôn ngoan là một trong những cách bảo đảm cho sự thành
công của một con đường phát triên trong giai đoạn hiện nay của mỗi nước.
2. Các loại hình đầu tư nước ngoài
Theo quan niệm của OECD thì các nguồn tài trợ cho nước ngoài bao gồm:
2.1. Tài trợ phát triển chính thức (ODF): bao gồm viện trợ phát triển
chính thức (ODA) và các hình thức ODF khác, song phương cũng như đa
phương.
2.2. Tín dụng xuất khẩu
2.3. Tài trợ tư nhân: bao gồm vay tư ngân hàng quốc tế (WB), vay tín
phiếu, đầu tư thị trực tiếp, các nguồn tài trợ tư nhân khác, viện trợ cho không

thị trường xuất khẩu, kích thích cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước, và
đào tạo công nhân.
Về mặt ổn định, có sự khác biệt rõ ràng giữa FDI và các hình thức cấp
vốn khác như cho vay ngắn hạn của ngân hàng và đầu tư gián tiếp. Đầu tư gián
tiếp chủ yếu bao gồm việc mua các tài sản tài chính. Lợi suất từ việc mua các
tài sản tài chính con tuỳ thuộc vào nhiều biến số như tỷ giá, lãi suất và giá cổ
phiếu, là cái thường chịu những dao động ngắn hạn. Hơn nữa những tài sản này
có thể dễ dàng bán nhanh ( tức nhiên cũng có cái giá của nó ). Ngược lại, FDI
như nêu trên là luồng vốn dài hạn dựa trên những cân nhắc lợi nhuận dài hạn,
mà một khi đã đầu tư thì không dễ dàng nhanh chóng rút lui. FDI về cơ bản thể
hiện ở quyền sở hữu và vận hành các cơ sở sản xuất. Do đó, khi so sánh với
đầu tư gián tiếp và những loại luồng đầu tư khác, FDI là nguồn vốn tương đối
ổn định.
Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, nhà nước Việt Nam chủ trương
khuyến khích mở rộng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm góp phần
phát huy mọi tìm năng để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội. Để
thể chế hóa chủ trương đó và cũng để tạo ra hệ thống khung pháp lý cho việc
quản lý, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định. “Đầu tư trực tiếp nước
ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước ngoài vốn bằng tiền mặt
hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật
này”.
Với những quy định như đã nêu trong luật thì đầu tư trực tiếp nước
ngoài là việc các nhà đầu tư (pháp nhân hoặc tư nhân) đưa vốn (bằng tiền hay
bất cứ tài sản nào) vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận và đạt được những hiệu quả xã
hội. Do đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chính là một loại hình di chuyển
vốn quốc tế mà trong đó mỗi người sở hữu đồng thời là người trực tiếp quản lý
điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư. Đối với hình thức đầu tư này, người
bỏ vốn sẽ trực tiếp tham gia quản lý điều hành quy trình thực hiện và có thể
quyết định toàn bộ mọi hoạt động nếu hình thức là doanh nghiệp 100% vốn

những cho vốn đầu tư nước ngoài, mà cả vốn đầu tư trong nước được đưa vào
thực hiện một cách thuận lợi ( với tư cách là phần vốn góp của nước sở tại
trong liên doanh ). đứng trên giác độ của một quốc gia, việc thu hút đầu tư trực
tiếp của nước ngoài liên quan đến các vấn đề sau:
3.1.1 Xây dựng hệ quan điểm về vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài đối với phát triển kinh tế
Để xây đựng hệ thống quan điểm về vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài, trước hết phải xác định rõ FDI có vai trò như thế nào đối với sự phát
triển kinh tế của nước đó.
Xuất phát từ lý luận về xuất khẩu tư bản của V.I.Lênin, từ vai trò nguồn
vốn nước nước ngoài của các nhà kinh tế học hiện đại chúng ta thấy, FDI là
nguồn vốn bổ sung rất quan trọng cho các nước, nhất là các nước đang phát
triển. Thiếu nguồn vốn này, các nước khó có thể vượt khỏi vòng luẩn quẩn của
sự đói nghèo để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội. Song vấn đề là ở chỗ,
thái độ của nước nhận đầu tư như thế nào và biện pháp xử lý ra sao nhằm phát
huy mặt tích cực và hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của loại hình đầu tư
này.
Từ kinh nghịêm thành công của các nước đang phát triển trong việc thu
hút FDI, có thể nói rằng, nhìn chung các nước này đều có thái độ và chính sách
ưu đãi với các nhà đầu tư nước ngoài. Họ nhìn hoạt động FDI không phải là
hoạt động nhằm bóc lột nguồn lực của nước mình, mà đó là những điều kiện
thuận lợi cho việc tăng trưởng kinh tế của đất nước. Chính vì vậy, các nước
thường có những chính sách ưu đãi, nhất quán đối với nhà đầu tư, tạo những
điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI.
Là nhà đầu tư, họ quan tâm đến những lợi ích và những ưu đãi mà họ có
thể thu được từ dự án đầu tư thực hiện ở nước sở tại, các vấn đề liên quan đến
việc thành lập và triển khai dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong việc lập dự án, nhà đầu tư sẽ quan tâm tới việc phải hoàn thành
những gì trong bộ hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư, các ngành, các cấp nào đã
tham gia vào việc cấp giấy phép đầu tư, liệu nhà đầu tư có nhận được các thông

dẫn nhiều), môi trường đầu tư có tính cạnh tranh trung bình (hấp dẫn vừa), môi
trường đầu tư có tính cạnh tranh thấp (hấp dẫn ít) và môi trường không có tính
cạnh tranh (không hấp dẫn).
Khi xem xét môi trường đầu tư, các nhà kinh doanh và các nhà quản lý
phải thấy một số đặc điểm cơ bản trong quá trình đánh giá và tạo dựng môi
trường đầu tư.
Thứ nhất, môi trường đầu tư không phải là cố định mà luôn luôn biến
đổi do sự thay đổi của các yếu tố cấu thành. Tính chất của môi trường đầu tư
luôn luôn thay đổi là do mối tương quan giữa môi trường đầu tư trong nước và
các môi trường đầu tư của các nước khác. Không có một môi trường đầu tư cố
định.
Thứ hai, môi trường đầu tư là sự đang xen của các môi trường thành
phần và sự tác động qua lại giữa chúng. Điều này đòi hỏi khi phân tích đánh
gia môi trường phải xem xét đánh giá một cách tổng thể trong mối quan hệ chặt
chẽ và với một mối tương quan cụ thể giữa các môi trường thành phần.
Thứ ba, ngày nay xu thế hội nhập không ngừng gia tăng, các doanh
nghiệp không chỉ kinh doanh ở trong nước mà còn phải mở rộng hoạt động ở
các thị trường nước ngoài. Do đó, khi đánh giá môi trường đầu tư của một nước
cụ thể, không thể so sánh với môi trường đầu tư của các nước khác, đặc biệt là
các nước trong khu vực. Bởi vì, các nhà đầu tư nước ngoài có một quyền rất
lớn: đó là quyền tự do lựa chọn thị trường đầu tư ở nước này hay nước khác,
quyền không đầu tư nếu môi trường không đáp ứng được các yêu cầu của họ,
đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt về vốn đầu tư.
Nói đến môi trường đầu tư là nói đến hàng chục yếu tố hoặc trực tiếp
hoặc gián tiếp tác động đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh của dự án đầu tư,
không kể vốn đầu tư là từ trong nước hay từ ngoài nước. Đó là một môi trường
đầu tư chung, “một sân chơi bình đẳng” cho tất cả mọi người không kể quốc
tịch và trình độ phát triển.
3.2 Chính sách đầu tư nước ngoài
Chính sách đầu tư nước ngoài là một bộ phận trong các chính sách phát

3.2.1 Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính
Chính sách này bao gồm các chính sách thuế và các khuyến khích khác
như tỷ lệ thuế mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp cho
ngân sách nhà nước, thời gian miễn thuế kể từ khi doanh nghiệp kinh doanh có
lợi nhuận. Sau kỳ chịu thuế này, các doanh nghiệp có thể được giảm thuế trong
một thời gian nào đó.
Luật thuế xuất nhập khẩu cũng là một công cụ để khuyến khích hay hạn
chế đầu tư nước ngoài. Nếu một hàng hoá được khuyến khích đầu tư sản xuất
bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong một nước thì có thể được
miễn giảm thuế xuất (nhập) khẩu.
Hoàn trả thuế lợi tức. Một khi lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, nhà
đầu tư nước ngoài sẽ được hoàn trả một phần hay toàn bộ thuế lợi tức đã nộp.
Thuế chuyển lợi nhuận về nước. Thông thường, vốn trả nợ cho nước
ngoài không phải chịu thuế, song khoản vay mượn này phải được kê khai trong
hồ sơ dự án đầu tư xin giấy phép đầu tư. Lợi nhuận chuyển ra nước ngoài cần
được xem xét về mức độ đánh thuế của nó.
Thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập cá nhân được đánh vào những
người có thu nhập cao làm việc trong các dự án đầu tư nước ngoài.
Quy định hình thức và tỷ lệ góp vốn. Nhà đầu tư trong và nước ngoài có
thể góp vốn dưới các hình thức khác nhau như: bằng tiền mặt, máy móc,
nguyên vật liệu, quyền sở hữu công nghiệp hay giá trị quyền sở hữu đất.
Sự chuyển vốn ra nước ngoài. Thông thường sau khi chịu thuế, nhà đầu
tư nước ngoài có thể chuyển về nước những khoản lợi nhuận; giá trị chuyển
nhượng công nghệ và dịch vụ; vốn đầu tư thu hồi; gốc và lãi từ các khoản nợ
thu được.
3.2.2 Chính sách về cơ cấu đầu tư
Những ngành, lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư tự do,
những ngành đòi hỏi một số điều kiện nhất định và những ngành, lĩnh vực được
khuyến khích…
3.2.3 Chính sách đất đai

các nước tiên tiến. Viện trợ không hoàn lại không trở thành nợ nước ngoài,
nhưng quy mô nhỏ và thường chỉ giới hạn trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và
cứu trợ.
Các hình thức chủ yếu trong đầu tư quốc tế là đầu tư trực tiếp, đầu tư
qua thị trường chứng khoán, vay của các định chế kinh tế và các ngân hàng
nước ngoài (vay thương mại) và nguồn vốn viện trợ phát chính thức (ODA).
Do vậy thương mại với lãi suất cao nên dễ trở thành gánh nặng về nợ
nước ngoài trong tương lai. Đầu tư qua thị trường chứng khoán không trở thành
nợ nhưng lại thay đổi đột ngột trong hành động (như: bán chứng khoán, rút tiền
về nước) của nhà đầu tư nước ngoài làm ảnh hưởng mạnh đến thị trường vốn,
gây biến động tỷ gia và các mặt khác của nền kinh tế vĩ mô. FDI cũng là hình
thức đầu tư không trở thành nợ. Đây là vốn có tính chất lâu dài ở bản xứ nên
không dễ rút đi trong thời gian ngắn. Ngoài ra, FDI không chỉ đầu tư vốn mà
còn đầu tư công nghệ và tri thức khách hàng nên dễ thúc đẩy sự phát triển các
ngành công nghiệp hiện đại và phát triển kinh tế.
1.2 Đặc điểm chủ yếu của FDI
Hiện nay FDI có những đặc điểm sau đây:
1.2.1 FDI trở thành hình thức chủ yếu trong đầu tư nước ngoài.
Xét về xu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về chất
lượng trong nền kinh tế thế giới, gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp, tham
gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở của sự
hoạt động của các công ty xuyên quốc gia và các doanh nghiệp quốc tế
1.2.2 FDI đang và sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển
Có nhiều lý do giải thích mức độ đầu tư cao giữa các nước công nghiệp
phát triển với nhau, nhưng có thể thấy hai nguyên nhân chủ yếu.
Thứ nhất, môi trường đầu tư của các nước phát triển có độ tương hợp
cao. Môi trường này hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả môi trường công nghệ và
môi trường pháp lý.
Thứ hai, xu hướng khu vực hóa đã thúc đẩy các nước này thâm nhập thị
trường của nhau.

một chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm vào mục đích tiềm
năng xuất khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty nước ngoài được lựa chọn
và địa điểm đầu tư cũng dựa trên cở sở tăng khả năng của sản phẩm trên thị
trường quốc tế.
FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyể giao công nghệ.
Xu hướng hiện nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn bó chặt
chẽ với nhau. đấy chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự lưu chuyển vốn và
kỹ thuật trên phạm vi quốc tế. Nhiều đã đạt được thành công trong việc hấp thụ
các yếu tố bên ngoài để phát triển kinh tế trong nước là nhờ chú ý đến điều này.
Hơn nữa, chuyển giao công nghệ giúp nâng cao năng lực cộng nghệ bản địa.
Kinh nghiệm của các nước cho thấy rằng, sự tách rời công nghệ với thương mại
quốc tế, trước hết là xuất khẩu đã làm cho năng lực công nghệ quốc gia không
được cải thiện, ngược lại có nguy cơ tụt hậu do thiếu sức cạnh tranh.
Sự gắn bó giữa FDI và các nguồn viện trợ và vay nợ khác cũng là một đặc
điểm nổi bật của sự lưu chuyển các nguồn và công nghệ trên phạm vi quốc tế
trong những năm gần đây. Hơn nữa, xu hướng này sẽ ngày càng trở nên mạnh
mẽ hơn. Lý do là trước đây các nguồn viện trợ và cho vay thường nhằm vào
mục đích quân sự và chính trị, do đó hiệu quả của nó đối với thúc đẩy phát
triển sự phát triển kinh tế của các nước nhận và nước cho rất thấp. Ở các nước
chậm phát triển nhất hiện nay viện trợ và cho vay chiếm 90% các nguồn vốn
từ bên ngoài bên ngoài. Viện trợ và cho vay trong nhiều trường hợp dẫn đến sự
phụ thuộc một chiều hơn là giúp cho các nước nhận có được sự phát triển tự
thân và tham gia có hiệu quả và phân công lao động quốc tế. Vì vậy, các nguồn
vốn này đã được các chính phủ, các tổ chức quốc tế đặt trong các mối quan hệ
với các nguồn vốn tư nhân nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng chúng.
2. Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế đất nước
2.1 Một số quan điểm về FDI của các nhà kinh tế học
Đầu thế kỷ XX các nhà kinh tế đã bàn nhiều về xuất khẩu tư bản.
V.I.Lênin cho rằng:xuất khẩu tư bản là một đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư
bản hiện đại (tức chủ nghĩa tư bản độc quyền). Theo ông, trong giai đoạn cạnh

đầu tư những dự án lợi nhuận cao ra nước ngoài đó sao?”
Sơ đồ 1: vòng luẩn quẩn của các nước đang phát triển Tiết kiệm và đầu
tư thấp
Tốc độ tích
luỹ vốn thấp
Thu nhập bình
quân thấp
Năng suất lao
động thấp
Theo ông R.Nurkse, mở cửa cho FDIcó ý nghĩa đối với các nước đang
phát triển có thể vươn đến những thị trường mới, cũng như khuyến khích việc
mở rộng kỹ thuật hiện đại và những phương pháp quản lý có hiệu quả. FDI
giúp các nước đang phát triển tránh được những đòi hỏi về lãi suất chặt chẽ, về
điều kiện thanh toán nợ và những điều hay tác động đến vay nợ quốc tế. Mặc
dù FDI là để phục vụ cho việc củng cố hệ thống này, các nước có thu nhập
thấpđược chuyên môn hóa sản xuất nguyên liệu và thực phẩm xuất khẩu, được
chuyên môn hoá dựa trên nguyên tắt bất di bất dịch của lợi thế trong thương
mại quốc tế, dù rằng FDI trước hết phục vụ cho lợi ích của các công nghiẹp
xuất khẩu, chứ không phải của nước nhận vốn, và thậm chí phần nào các nước
đang phát triển phải chịu sự mất cân bằng không tránh khỏi, nhưng vẫn nên mở
cửa hơn là đóng cửa. R.Nurkse cho rằng, FDI đem lại lại lợi ích chung cho cả

nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình thanh toán và tạo công ăn
việc làm cho người lao động.
FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để
cải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự
phát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học
hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác.
+ Đối với các nước đang phát triển, FDI giúp đẩy mạnh tốc độ
phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm
lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở nước này. Theo thống kê của
Liên hợp quốc, số người thất nghiệp và bán thât nghiệp của các nước đang phát
triển chiếm khoản 35-38% tổng số lao động
FDI giúp các nước đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo
dài. FDI là phương thức đầu tư phù hớp với các nước đang phát triển, tình tràng
tích lũy quá căng thẳng dẫn đến những méo mó về kinh tế không đáng xảy ra.
Theo sau FDI là máy móc thiết bị và công nghệ mới, giúp các nước
đang phát triển tiếp cận với khoa học-kỹ thuật mới. Quá trình đưa công nghệ
vào sản xuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các
nước đang phát triển trên thị trường quốc tế.
Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội hiện đại được du
nhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nước bắt kịp
phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dần với
phong cách làm việc công nghiêpk cũng như hình thành dần đội ngũ những nhà
doanh nghiệp giỏi.
FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa nước
ngoài và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không
ngừng.
FDI giúp tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc đánh thuế các
công ty nước ngoài. Từ đó các nước đang phát triển có nhiều khả năng hơn
trong việc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư, bên cạnh

- Thông đầu tư nước ngoài, nhất là FDI, chúng ta tiếp nhận thành
tựu phát triển khoa học-kỹ thuật tiên tiến của thế giới, nhờ đó rút ngắn khoảng
cách của ta so với thế giới.
- Nhờ có FDI chúng ta sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất
nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu
mỏ, khoáng sản v.v…
Ngoài ra, trong quá trình tiếp nhận FDI chúng ta học được kinh ngiệm
quản lý kinh doanh và cách làm thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường
của các nước tiên tiến.
Tóm lại, FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta nhanh chóng
hội nhập với sự phát triển của thế giới và khu vực.
III. Tầm quan trọng của các doanh nghiệp có vốn FDI
1. Doanh nghiệp có vốn FDI
1.1 Nguồn gốc của doanh nghiệp có vốn FDI
Một trong những hình thức biểu hiện của đầu tư trực tiếp nước ngoài là
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với Việt Nam đây là
một loại hình doanh nghiệp mới, được hình thành kể từ khi luật đầu tư nước
ngoài được ban hành đầu tiên vào năm 1988. Mặc dù doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm một tỷ trọg không lớn ở nhiều quốc gia kể
cả các nước NICs ở Châu Á, tuy nhiên ở một số nước ASEAN con số này là
khá cao và thực tế đã cho thấy vai trò quan trọng của loại hình doanh nghiệp
này đối với đời sống kinh tế của Việt Nam. Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hoa,
quốc tế hoá nền kinh tế không thê đảo ngược thì các doanh nghiệp FDI thực sự
trở thành một bộ phận cấu thành hữu cơ của toàn nền kinh tế, là nhân tố cần
thiết, quan trọng tạo dựng những nền tảng cơ bản giúp Việt Nam nói và Đà
Nẵng nói riêng từng bước hoà nhập vào thị trường thế giới.
Bắt đầu từ những năm 90, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hoá nền kinh
tế thế giới được mở rộng, cùng với tự do hoá thương mại, tự do hoá đầu tư xuất
hiện đã tạo cơ hội phát triển mạnh mẽ cho các doanh nghiệp FDI phát triển với
quy mô ngày càng tăng. Đồng thời do nghịch lý của tự do hoá đầu tư, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status