Đánh gia ảnh hưởng của sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật đến sức khoẻ người - Pdf 20


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
--------------***--------------- NGUYỄN TUẤN KHANH
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA
S
S

ỬD
D


N
N
G
G

HOÁ CHẤT
BẢO VỆ THỰC VẬT ĐẾN SỨC KHOẺ NGƯỜI
CHUYÊN CANH CHÈ TẠI THÁI NGUYÊN VÀ HIỆU QUẢ
CỦA CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP I

MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục I
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt III
Danh mục các bảng IV
Danh mục các hình (hình vẽ, ảnh chụp, đồ thị...) VI
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Một số khái niệm cơ bản 3
1.2. Thực trạng sử dụng HCBVTV và kiến thức, thái độ, thực hành
của người nông dân thường xuyên tiếp xúc hoá chất bảo vệ thực vật
5
1.3. Ảnh hưởng của hoá chất bảo vệ thực vật và một số yếu tố nguy cơ
liên quan đến sức khoẻ của người tiếp xúc hoá chất bảo vệ thực vật
13
1.3. Phân tích một số mô hình can thiệp bảo vệ sức khỏe người tiếp
xúc với hoá chất bảo vệ thực vật đã triển khai tại Việt Nam
21
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng nghiên cứu 24
2.2. Địa điểm nghiên cứu 24
2.3. Thời gian nghiên cứu 25
2.4. Phương pháp nghiên cứu 25

4.4. Khả năng duy trì và mở rộng của mô hình 91
KẾT LUẬN 95
KHUYẾN NGHỊ 97
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC III

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
BHLĐ Bảo hộ lao động
BNN & PTNN Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn
BYT Bộ Y tế
BVĐK Bệnh viện Đa khoa
BVTV Bảo vệ thực vật
CSSKND Chăm sóc sức khoẻ nhân dân
CS Cộng sự
CSHQ Chỉ số hiệu quả
CT Can thiệp
ĐC Đối chứng
ĐT Điều tra
FAO Tổ chức lương thực-nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc
(Food and Agriculture Organization)
HCBVTV Hoá chất bảo vệ thực vật
HQCT Hiệu quả can thiệp

Bảng 3.4.

Kiến thức của người chuyên canh chè về chọn thời tiết và hướng
gió khi phun HCBVTV
41

Bảng 3.5.

Người chuyên canh chè kể được tên phương tiện bảo vệ cá nhân
khi tiếp xúc HCBVTV
42

Bảng 3.6.

Người chuyên canh chè hiểu về đường xâm nhập của HCBVTV
vào cơ thể người
43

Bảng 3.7.

Kiến thức bảo quản, cất giữ HCBVTV của người chuyên canh
chè
43

Bảng 3.8.

Hiểu biết về điều kiện đảm bảo sức khoẻ khi phun HCBVTV
của người chuyên canh chè
44


50

Bảng 3.19.

Mối liên quan giữa các bệnh mũi họng với thực h
ành pha,
phun HCBVTV
50

Bảng 3.20.
Mối liên quan giữa các bệnh mắt với thực hành pha, phun
HCBVTV
51
Bảng 3.21. Tổng hợp hoạt động tập huấn, truyền thông 54
Bảng 3.22. Kiến thức của cán bộ y tế và người bán HCBVTV 55
Bảng 3.23.
So sánh kết quả trước và sau can thiệp tại xã Tân Linh, kết
quả điều tra lần thứ nhất và lần thứ 2 tại xã Phục Linh về kiến
thức mức độ độc qua vạch màu trên nhãn lọ, tác dụng, tác hại
của HCBVTV
56 Bảng 3.24. So sánh kết quả trước và sau can thiệp tại xã Tân Linh, kết

So sánh kết quả trước và sau can thiệp tại xã Tân Linh, kết
quả điều tra lần thứ nhất và lần thứ 2 tại xã Phục Linh về biết
điều cần thiết đảm bảo sức khoẻ khi phun HCBVTV
60 Bảng 3.28. So sánh kết quả trước và sau can thiệp tại xã Tân Linh, kết
quả điều tra lần thứ nhất và lần thứ 2 tại xã Phục Linh về kiến
thức xử trí khi bị ngộ độc HCBVTV
61

Bảng 3.29. So sánh kết quả trước và sau can thiệp tại xã Tân Linh, kết
quả điều tra lần thứ nhất và lần thứ 2 tại xã Phục Linh về thái
độ khi sử dụng HCBVTV.
62 Bảng 3.30. So sánh kết quả trước và sau can thiệp tại xã Tân Linh, kết
quả điều tra lần thứ nhất và lần thứ 2 tại xã Phục Linh về thực
hành pha, phun và sử dụng HCBVTV cấm
63


So sánh kết quả trước và sau can thiệp tại xã Tân Linh, kết
quả điều tra lần thứ nhất và lần thứ 2 tại xã Phục Linh về các
triệu chứng cơ năng xuất hiện trong tháng qua của người nông
dân chuyên canh chè
67
Bảng 3.36. So sánh kết quả trước và sau can thiệp tại xã Tân Linh, kết
quả điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai tại Phục Linh về các
bệnh lý thực thể của người nông dân chuyên canh chè
68 Bảng 3.37.

Hiệu quả thực sự đối với KAP của người chuyên canh chè
tiếp xúc với HCBVTV sau 2 năm can thiệp tại Tân Linh
69

Bảng 3.38.

Hiệu quả thực sự đối với sức khoẻ của người chuyên canh chè
tiếp xúc với HCBVTV sau 2 năm can thiệp tại Tân Linh
70


thế giới ngày càng tăng, sản lượng hoá chất bảo vệ thực vật tăng từ 400.000 tấn
(1955) lên 4,4 triệu tấn (2009) [124]. Đi đôi với số lượng hoá chất bảo vệ thực
vật sử dụng tăng là số người ngộ độc hoá chất bảo vệ thực vật cũng tăng, đặc
biệt là tại các nước đang phát triển, 99 % trường hợp ngộ độc xảy ra ở các
nước này, cho dù lượng tiêu thụ hoá chất bảo vệ thực vật chỉ chiếm 20 % [37],
[39]. Tuy nhiên, phần lớn người nông dân tại các nước này chưa nhận biết đầy
đủ về tác hại cũng như nguy cơ do hoá chất bảo vệ thực vật gây ra [37].
Thực trạng nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam vẫn còn
nghiêm trọng. Thống kê sơ bộ tại 38 tỉnh, thành phố, trong năm 2007 đã xảy
ra gần 4.700 vụ, với 5.207 trường hợp bị nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật
và 106 người đã tử vong. Năm 2009 có 4.372 vụ nhiễm độc với 4.515 trường
hợp, tử vong 138 trường hợp chiếm tỷ lệ 3,05 % [14]. Theo Hà Minh Trung
và cộng sự, cả nước hiện có 11,5 triệu hộ nông nghiệp, số người tiếp xúc
nghề nghiệp với hoá chất bảo vệ thực vật ít nhất cũng tới 11,5 triệu người.
Với tỷ lệ nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật mạn tính là 18,26 % thì số
người bị nhiễm độc mạn tính trong cả nước có thể lên tới 2,1 triệu người [79].
Nguyên nhân chủ yếu do tình trạng lạm dụng và sử dụng bừa bãi hoá chất bảo
vệ thực vật, 98 % trường hợp lạm dụng hoặc pha đặc hơn so với hướng dẫn
trên bao bì 2-3 lần, có 84,17 % đến 93,23 % không sử dụng đầy đủ phương
2
tiện bảo vệ cá nhân khi phun hoá chất bảo vệ thực vật [35], [55], [86].
Việt Nam có diện tích chè khoảng 120.000 ha hiện đứng thứ 5 trên thế
giới về số lượng chè xuất khẩu (hơn 100.000 tấn năm 2009) [16]. Sử dụng
hoá chất bảo vệ thực vật trong chuyên canh chè đứng hàng đầu về số lượng
thuốc sử dụng và số lần phun [53], [71]. Thái Nguyên có diện tích chè lớn với
gần 16.000 ha, chè Thái Nguyên nổi tiếng trong nước và thế giới. Nhiều khu
vực chuyên canh chè thuộc các huyện miền núi, vùng sâu vùng khó khăn,

từ thuật ngữ tiếng anh “Pesticide” có nghĩa là chất để diệt loài gây hại [22].
Dịch sang tiếng Việt các tác giả sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như:
thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất trừ sâu, hoá chất bảo vệ thực
vật. Như vậy HCBVTV là danh từ chung để chỉ một chất hoặc một hợp chất
bất kỳ có tác dụng dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sinh vật gây hại kể
cả các Vector gây bệnh cho người và động vật, các loại côn trùng khác hay
động vật có hại trong quá trình sản xuất, chế biến, dự trữ, xuất khẩu, tiếp thị
lương thực, sản phẩm trong nông nghiệp, sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc
hoặc phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng [34], [67].
1.1.2. Chất độc: Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một
lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong
cơ thể sinh vật, phá huỷ nghiêm trọng những chức năng của cơ thể, làm cho
sinh vật bị ngộ độc hoặc bị chết [67]. Theo từ điển bách khoa Việt Nam:
Chất có khả năng ức chế, phá huỷ hoặc làm chết cơ thể sống: khi đưa một
lượng nhỏ chất độc vào cơ thể (qua miệng, dạ dày, thở hít qua phổi, thấm qua
da...) hoặc khi được hấp thụ vào máu trong những điều kiện nhất định, gây ra
những rối loạn sinh lý của cơ thể, làm nguy hại cho sức khoẻ hoặc gây nguy
hiểm đến tính mạng con người. Hiện tượng này còn gọi là ngộ độc [22].
1.1.3. Độc tính: là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh
vật ở một lượng nhất định của chất độc đó [67].
Theo từ điển Bách khoa Việt
Nam: Độc tính là tính gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật. Độc tính
được chia ra các dạng:
- Độc cấp tính: chất độc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thì, kí
hiệu LD
50
(letal dosis 50), biểu thị lượng chất độc (mg) đối với 1 kg trọng
lượng cơ thể có thể gây chết 50 % cá thể vật thí nghiệm (thường là chuột hoặc
thỏ). LD
50

như bản chất của chất độc, tuổi, trạng thái sức khoẻ, giới tính, cơ quan hấp thụ
chất độc của đối tượng bị ngộ độc [22].
1.1.5. Vệ sinh lao động: là tổng thể các tiêu chuẩn môi trường lao động
(ánh sáng, chống bụi, nóng lạnh, gió, tiếng ồn, độ ẩm...); bảo hộ an toàn lao
động, trang thiết bị bảo hộ lao động, máy móc, thiết bị sản xuất; chế độ ăn
uống tối ưu thích hợp với mỗi loại lao động; vệ sinh cá nhân của người lao
động; nhà ở và các tiện nghi sinh hoạt; quản lí sức khoẻ cho người lao động
và gia đình [22].
1.1.6. Biện pháp An toàn vệ sinh lao động: việc sử dụng các trang thiết
bị an toàn để giảm thiểu các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong môi trường lao
động. Các biện pháp An toàn vệ sinh lao động được chia ra 02 nhóm: Nhóm
các biện pháp chung, đảm bảo an toàn lao động chung cho mọi người cùng làm
việc trong một môi trường. Nhóm thứ hai là các phương tiện bảo vệ cá nhân,
được sử dụng để bảo vệ cho từng cá nhân người lao động, loại này phụ thuộc
vào đặc thù công việc và thời điểm làm việc cụ thể của từng người lao động.
5
1.1.7. Phương tiện bảo vệ cá nhân: là những dụng cụ, phương tiện, trang
thiết bị thiết yếu mà mỗi một người lao động cần sử dụng trong khi làm việc và
công tác để cơ thể không bị tác động xấu của các yếu tố có hại phát sinh trong
môi trường [28].
1.2. Thực trạng sử dụng HCBVTV và kiến thức, thái độ, thực hành của
người nông dân thường xuyên tiếp xúc HCBVTV
Sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật đã giúp các quốc gia giảm đáng kể
thiệt hại do dịch hại gây ra, tiết kiệm được số lương thực có thể nuôi sống
được 200 triệu người một năm [108], [132]. Hóa chất bảo vệ thực vật được sử
dụng phổ biến ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới. Giá trị doanh thu của
HCBVTV từ năm 2005 đã vượt quá 30 tỷ USD/năm [130]. Sản xuất, kinh

này các nhà khoa học đã đầu tư nghiên cứu các loại HCBVTV mới an toàn
hơn đối với môi trường và sức khoẻ con người. Nhiều HCBVTV mới ra đời
như hoá chất trừ cỏ mới; các HCBVTV nhóm perethroid tổng hợp; các
HCBVTV bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các chất điều
tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng. Lượng HCBVTV được dùng trên thế
giới không những không giảm mà còn liên tục tăng lên [67], [124].
Từ những năm 1980 đến nay, vấn đề bảo vệ môi trường được quan
tâm hơn, vai trò của biện pháp hoá học vẫn được thừa nhận. Tư tưởng sợ
HCBVTV cũng bớt dần [67], do hiểu biết tốt hơn về tác động qua lại của côn
trùng và cây trồng, các loại HCBVTV đã được phát triển lên một tầm cao mới
cũng như đã có một chiến lược mới về công thức hoá học và các phương pháp
sử dụng. Nhiều loại hoá chất mới, trong đó có nhiều HCBVTV sinh học có
hiệu quả cao với dịch hại nhưng an toàn với môi trường ra đời [67]. Sự phát
triển mới này đã tạo ra cơ hội giảm bớt nguy cơ nhiễm độc HCBVTV [59].
Sản lượng HCBVTV thế giới tăng lên theo thời gian, năm 1955 thế giới
sản xuất ra gần 400 nghìn tấn, thập niên 90 của thế kỷ XX sản xuất ra hơn 3
triệu tấn mỗi năm [133]. Đến nay thế giới sản xuất khoảng 4,4 triệu tấn/năm
với 2.537 loại HCBVTV [4], [124]. Những quốc gia có sản lượng, kim ngạch
xuất nhập khẩu và sử dụng HCBVTV đứng hàng đầu thế giới là Trung Quốc
và Hoa Kỳ.
Tại Trung Quốc để tăng cường tự chủ về HCBVTV, Chính phủ Trung
Quốc đã gia tăng đầu tư vào ngành công nghiệp HCBVTV. Chính vì vậy
ngành công nghiệp sản xuất HCBVTV phát triển mạnh, hiện tại có hơn 2500
nhà máy sản xuất lớn, nhỏ [19]. Sản lượng HCBVTV của Trung Quốc đã tăng
trưởng nhanh, năm 2007 đạt 1731 nghìn tấn, năm 2008 đạt 1902 nghìn tấn.
7
Trung Quốc là nhà sản xuất lớn nhất trong ngành công nghiệp HCBVTV toàn

8
phân phối HCBVTV hoàn toàn do nhà nước thực hiện. Lượng HCBVTV
dùng không nhiều, khoảng 15.000 tấn thành phẩm/năm với hơn 20 chủng loại
chủ yếu là thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh [67]. Thời kỳ 1976-1980 mỗi năm
cả nước sử dụng 16.000 tấn HCBVTV. Thời kỳ 1986-1990 trung bình mỗi
năm sử dụng 14.000 tấn HCBVTV, trong đó 55 % là lân hữu cơ, 13 % là clo
hữu cơ, 12 % là hợp chất carbamat còn lại là hợp chất thuỷ ngân, asen. Đa
phần là các hoá chất tồn lưu lâu trong môi trường hay có độ độc cao [72].
Giai đoạn từ 1990 đến nay, kể từ khi có chính sách đổi mới năm 1986,
thị trường HCBVTV đã thay đổi cơ bản. Nền kinh tế thị trường nguồn hàng
phong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân có điều kiện
lựa chọn HCBVTV, giá cả khá ổn định có lợi cho nông dân [67]. Lượng hóa
chất sử dụng trong nông nghiệp ở Việt Nam ngày càng tăng. Trong đó phần
lớn là hoá chất trừ sâu và còn lại là trừ cỏ, trừ bệnh, nhóm phosphore hữu cơ
chiếm khoảng 56 %, phổ biến nhất là Wolfatox và Monitor. Đó là những loại
thuốc độc hại cho môi trường và con người. Giai đoạn gần đây cơ cấu tỉ lệ các
loại HCBVTV đã được thay đổi đáng kể, nhiều loại hoá chất mới hiệu quả
hơn, an toàn hơn với môi trường được nhập khẩu và sử dụng. Năm 1991 hoá
chất trừ sâu chiếm 83,3 %, hoá chất trừ nấm 9,5 %, hoá chất diệt cỏ 4,1 %,
những loại khác 3,1 % [44]. Đến năm 2008 tỉ lệ là hoá chất trừ sâu chiếm
37,9%, hoá chất trừ nấm 21,12 %, hoá chất diệt cỏ 13,77 %, hoá chất diệt côn
trùng 23,46 % và những loại khác 3,75 %. Lượng HCBVTV tiêu thụ qua các
năm tăng dần, kim ngạch nhập khẩu HCBVTV tăng mạnh [67], [19]. Theo số
liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhập khẩu HCBVTV và nguyên liệu
năm 2007 là 382.830.015 USD tăng 25,4 % so với cùng kỳ năm 2006, năm
2008 là 473.760.692 USD tăng 23,8 % so với cùng kỳ năm 2007. Nguồn
HCBVTV được nhập khẩu về trong năm 2008 chủ yếu từ: Trung Quốc

(thiocarba - mate) hydrochlorid, tên khác Carap. Phân tử lượng: 273,8. Công
thức phân tử C
7
H
16
CIN
3
O
2
S
2
. Padan có tác dụng tốt, đạt hiệu quả cao đối với
các loài sâu hại khác nhau như sâu đục thân, rầy xanh đuôi đen, bọ xít hôi, bọ
trĩ, sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh, bọ cánh tơ và sâu xếp lá hại chè. Nó được sử
dụng với nhiều loại HCBVTV khác như: Sumithion, Azodrin, hoặc Wofatox.
- Shepar: Thuộc nhóm Pyrethrin và Pyrethrinodie, trong đó Pyrethrin
có nguồn gốc tự nhiên được chiết xuất từ cây cúc, còn Pyrethrinodie được
tổng hợp. Các chất có cùng nhóm: Bioresmethrin, Cypermethrin, Deltameth-
rin, Perme - thrin, Fenvaslerate và Resmethrin được sử dụng diệt côn trùng để
bảo vệ ngũ cốc, rau quả và các nông sản thực phẩm. Shepar có thể xâm nhập
qua da, hít thở và qua ăn uống. Độc với não, kích thích phổi và gây dị ứng.
- Hóa chất 2.4D: Là thuốc diệt cỏ thuộc nhóm nội tiết tố thực vật, có
tác dụng như hocmon đối với cây trồng. Thuốc hấp thu qua da, hô hấp và thải
qua nước tiểu theo cơ chế vận chuyển tích cực. Trên thực nghiệm nếu dùng
kéo dài gây giảm trọng lượng cơ thể, giảm số lượng bạch cầu, hồng cầu,
huyết sắc tố.
- Wofatox: Tên khác Methy Parathion Metaphos, Metacide. Tên hóa học

ngoài danh mục, HCBVTV giả, HCBVTV kém chất lượng, HCBVTV quá
hạn sử dụng. Tình trạng thông tin, quảng cáo, ghi nhãn HCBVTV sai quy
11
định vẫn tồn tại. Việc tuân thủ các quy định về sử dụng HCBVTV, bảo hộ an
toàn lao động của nông dân khi phun rải HCBVTV còn nhiều bất cập [6],
[73], cần có sự can thiệp của chính quyền và những nghiên cứu của các nhà
chuyên môn.
1.2.2. Kiến thức, thái độ, thực hành của người tiếp xúc HCBVTV
Nhiều nghiên cứu chỉ ra việc sử dụng, bảo quản HCBVTV không an
toàn, tuân thủ các biện pháp bảo hộ lao động kém [13], [136]... Phần lớn nông
dân dùng thuốc theo kinh nghiệm, không được tập huấn, hướng dẫn cụ thể.
* Trên thế giới
- Tại Hoa Kỳ theo nghiên cứu của Alicia L. Salvatore và CS (2008) tại
Monterey - California cho thấy 60 % số người được hỏi chưa bao giờ nhận
được bất kỳ thông tin hoặc đào tạo về làm thế nào để tự bảo vệ mình trước
HCBVTV. Chính vì vậy chỉ có 25 % người sử dụng HCBVTV mặc đầy đủ
quần áo BHLĐ, chỉ có 43 % đeo găng tay và khoảng 10 % số người không sử
dụng găng tay và cũng không rửa tay sau khi phun hoá chất [92].
- Tại Trung Quốc HCBVTV được sử dụng rộng rãi để bảo vệ cây
trồng. Tuy nhiên, việc sử dụng một số HCBVTV có độc tính cao và luỹ kế đã
dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường. Nghiên cứu KAP của
Hong Zhang và Yonglong Lu

về mối liên quan đến HCBVTV trong khu vực
phía bắc Trung Quốc cho thấy: hầu hết người dùng HCBVTV không sử dụng
đầy đủ các biện pháp phòng ngừa. Tác giả đã khuyến nghị Chính phủ là cần
thiết có biện pháp can thiệp thích hợp để quản lý những rủi ro sức khỏe cộng

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh kiến thức, thực hành của người sử
dụng HCBVTV rất kém [12], [13], theo Phạm Bích Ngân và CS nguyên nhân
chính dẫn tới các triệu chứng nhiễm độc chủ yếu là do: không mang trang bị
phòng hộ 89,5 %, hoá chất dính vào da khi pha 75,5 %, do bình phun bị rò rỉ
35,0 % và phun không đúng theo kỹ thuật 54,7 %, do phun với liều lượng cao
và sử dụng một số loại thuốc đã bị hạn chế hoặc cấm sử dụng [60].
Chương trình VTN/OCH, cho thấy trong tổng số 1988 người trực tiếp
phun HCBVTV ở 4 tỉnh, những yếu tố nguy cơ được phát hiện là: 86,3 %
phun nhiều lần trong ngày, 70 % phun khi trời nắng, 64,6 % phun trộn nhiều
loại hoá chất, 44 % pha thuốc đậm đặc hơn, 57 % pha trộn thuốc bằng tay,
48,9 % không che miệng, 37,6 % mặc quần cộc phun thuốc, 43 % không bảo
vệ mắt, 41 % bị dính HCBVTV vào người, 48,9 % phun ngược gió, 21 %
bình phun bị rò rỉ, 21,7 % lắp bình phun không kín, 91 % quần áo bị thấm
ướt, 35 % hút thuốc khi phun [8].
13
Nghiên cứu của Phạm Huy Dũng, Nguyễn Văn Thường về KAP của
những người sử dụng HCBVTV trong 1400 hộ, kết quả cho thấy kiến thức
VSATLĐ của người sử dụng rất thấp, người phun HCBVTV rất coi thường
việc tiếp xúc với chất độc: pha thuốc bằng tay không 57,0 %, cơ thể tiếp xúc
với HCBVTV 41 %, phun thuốc nhiều lần trong ngày 86,3 %...[33]. Một số
nghiên cứu đã chỉ ra phụ nữ và trẻ em là đối tượng tiếp xúc nhiều với
HCBVTV, kết quả từ điều tra 100 hộ thuần nông ở xã Hải Vân, huyện Hải
Hậu, tỉnh Nam Định cho thấy: phụ nữ tiếp xúc với HCBVTV nhiều hơn nam
giới, phụ nữ phải tiếp xúc với HCBVTV 2 tiếng/ngày nhiều gấp 2 lần nam
giới và 3 tiếng/ngày nhiều gấp 3 lần nam giới [5 3], [66].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà có 58,82 % phụ nữ trực tiếp đi
phun HCBVTV [35]. Có 90 % phụ nữ có thai dưới 3 tháng vẫn đi phun

những khu vực bị quây kín, thông khí không được thông thoáng [40], [124].
Trong đất có tới 50 % lượng HCBVTV được phun để bảo vệ mùa
màng hoặc được sử dụng diệt cỏ đã phun không đúng vị trí và dải trên mặt
đất. Một vài HCBVTV như clo hữu cơ có thể tồn tại trong đất nhiều năm mặc
dù là một lượng lớn HCBVTV đã bay hơi. Theo Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức
Vọng nghiên cứu dư lượng HCBVTV trong đất tại Dắk Lắk thấy trong đất
canh tác các loại có chứa dư lượng HCBVTV chung là 62,22 % số mẫu và
44,44 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Đất trồng cà phê
60,0 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 33,33 % số mẫu có dư lượng vượt
quá tiêu chuẩn cho phép. Đất trồng rau, màu 66,66 % số mẫu có dư lượng
HCBVTV và 60,0 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Đất
trồng lúa 60,0 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 40,0 % mẫu có dư lượng
vượt quá tiêu chuẩn cho phép [31].
Nước có thể bị ô nhiễm bởi việc đổ các HCBVTV thừa sau khi phun
xong. Đổ nước rửa dụng cụ sau khi phun xuống hồ ao. Cây trồng được phun
HCBVTV ở ngay cạnh mép nước, sự rò rỉ, xói mòn từ đất đã xử lý bằng
HCBVTV hoặc HCBVTV rơi xuống từ không khí bị ô nhiễm. Sử dụng
HCBVTV cho xuống các sông hồ để giết cá và vớt cá để ăn [37], [57]. Nghiên
cứu của Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức Vọng dư lượng HCBVTV chung là 58,33 %
số mẫu và 20,0 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Nước
giếng đào có 60,0 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 20,0 % mẫu có dư
lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Nước hồ thủy lợi 53,33 % số mẫu có dư
lượng HCBVTV và 26,66 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
15
Nước ruộng có 66,66 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 33,33 % vượt quá
tiêu chuẩn cho phép. Nước sông, suối có 53,33 % số mẫu có dư lượng
HCBVTV và không có mẫu nào vượt quá tiêu chuẩn cho phép [31].


16
[127]. Đặc biệt là những liên quan của HCBVTV với ung thư, bạch cầu cấp ở
trẻ em [116]. Liên quan đến một số bệnh như Alheimer [105], bệnh Parkison
[102], các bệnh ở hệ thống miễn dịch, tạo huyết [119].
Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có những con số chính xác về ngộ độc
HCBVTV trên phạm vi toàn cầu [133]. Theo Tổ chức Y tế Liên Mỹ ước tính
khoảng 3 % người lao động nông nghiệp tiếp xúc với HCBVTV bị ngộ độc
cấp tính, với khoảng 1,3 tỷ người lao động nông nghiệp trên toàn thế giới có
nghĩa là khoảng 39 triệu người có thể bị ngộ độc cấp tính hàng năm [115].
Một phương pháp khác để tính số trường hợp nhiễm độc do HCBVTV
là dựa vào số dân có nguy cơ. Theo Jayaratnam và CS ở một số nước mỗi
năm có khoảng 7 % số người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp có sử dụng
HCBVTV đã từng có triệu chứng nhiễm độc (bao gồm cả các trường hợp
nhiễm độc nhẹ). Một số đánh giá khác do Trung Quốc đưa ra lại cho rằng mỗi
năm có 1 % số người sử dụng HCBVTV bị nhiễm độc [96], tuy nhiên tất cả
các đánh giá trên vẫn chưa được thống nhất [111].
1.3.2.1. Thực trạng nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật trên thế giới
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1990, mỗi năm
có khoảng 25 - 39 triệu lao động trong ngành nông nghiệp bị nhiễm
độc, trong đó 3 triệu ca nhiễm độc nghiêm trọng làm 220.000 ca tử vong liên
quan đến HCBVTV [133]. Ở các nước đang phát triển chiếm 99 % số trường
hợp, cho dù những nước này chỉ tiêu thụ 20 % lượng HCBVTV. Con số thực
tế có thể còn cao hơn nhiều [37], [40]. Cụ thể thống kê của một số quốc gia
như sau:
Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 1951-1990 có ít nhất 184 vụ ngộ
độc cấp tính do HCBVTV, gây nhiễm độc cho 24.731 người, chết 1.065 người
(4,3 %). Năm 1992-1995 có 214.094 trường hợp ngộ độc HCBVTV cấp tính
với 22.545 người chết. Năm 1997-2003 có 108.372 người bị ngộ độc
HCBVTV. Trong đó, tỷ lệ nhiễm độc nghề nghiệp chiếm 25,39 % và nhiễm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status