Đề tài : Xây dựng hệ thống trò chơi học tập phục vụ dạy học chủ đề Tự nhiên môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 - Pdf 20

BÁO CÁO THỰC TẬP
ĐỀ TÀI :
Xây dựng hệ thống trò chơi học tập
phục vụ dạy học chủ đề Tự nhiên môn
Tự nhiên và Xã hội lớp 2
MỤC LỤC
Đề tài : 1
Xây dựng hệ thống trò chơi học tập phục vụ dạy học chủ đề Tự nhiên môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 2 1
MỤC LỤC 2
3
A. PhẦN MỞ ĐẦU 3
2. Lí do chọn đề tài: 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu: 6
6. Đối tượng nghiên cứu: 6
B . PHẦN NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: 7
Chương 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu: 8
1.1. Đặc điểm nội dung chương trình môn Tự nhiên – Xã hội lớp 2: 8
1.2. Trò chơi học tập và vai trò của trò chơi học tập: 9
Chương 2. Nội dung và kết quả nghiên cứu 11
2.3 Kết quả nghiên cứu: 27
PHẦN 3: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT 27
3.1 Kết luận: 28
Trò chơi học tập là một trong những phương tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ, nó kích thích
hứng thú nhận thức, rèn luyện khả năng độc lập suy nghĩ của học sinh. Với chủ đề Tự
nhiên, chúng tôi đã xây dựng hệ thống trò chơi dựa trên 4 nguyên tắc kết hợp với 2 cơ
sở phân loại trò chơi. Từ đó chúng tôi đã xây dựng được 30 trò chơi (với 4 trò chơi
chính và 26 biến thể của trò chơi). Khóa luận đã đưa ra mục đích, sự chuẩn bị, cách
thức tiến hành 4 hệ thống trò chơi chính, dẫn chứng minh họa một số trò chơi biến thể
cùng với cách thức sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất. Chúng tôi cũng đã soạn
6 giáo án để tiến hành thực nghiệm một số trò chơi và thấy được vai trò của trò chơi

trường Tiểu học Vĩnh Lợi đã tạo điều kiện giúp đỡ em thực hiện và hoàn
thành tốt khoá luận tốt nghiệp này.

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề:
Giảng dạy là một quá trình mang tính chất nghệ thuật tạo sự kích thích,
định hướng và hướng dẫn. Dạy không chỉ là sự truyền đạt đơn thuần kiến thức
3
mà là một quá trình tạo mối tương quan giữa người dạy, người học và tư liệu
giảng dạy. Thông thường con người chỉ nhớ: 10% những gì họ đọc, 20%
những gì họ nghe, 80% những gì họ nói và đến 90% những gì họ nói và làm,
tức là khi họ tự khám phá cho chính họ. Đặc biệt với cấp học Tiểu học, phụ
huynh và các em vẫn xem trọng môn Toán và Tiếng Việt, trong khi đó môn
Tự nhiên và Xã hội cũng không kém phần quan trọng. Chúng ta phải làm sao
học sinh vẫn nắm bắt được những kiến thức về xã hội và thế giới tự nhiên
trong tâm thế thoải mái là vấn đề rất được quan tâm. Trò chơi học tập chính là
một chiếc cầu nối hữu hiệu thân thiện nhất, tự nhiên nhất giữa người dạy và
người học trong việc tự giải quyết nhiệm vụ chung đạt được mục đích đề ra
làm thoả mãn nhu cầu của cá nhân. Áp dụng hình thức dạy học trò chơi học
tập là một phương pháp đổi mới đáp ứng yêu cầu dạy học lấy học sinh làm
trung tâm, phát huy tính tích cức tự giác của người học.
2. Lí do chọn đề tài:
Việc vận dụng phương pháp trò chơi trong quá trình dạy học là rất cần
thiết, làm sao cho mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Trò chơi xuất phát từ
nội dung bài học là hoạt động góp phần làm cho học sinh hứng thú, ham thích
học tập tạo không khí phấn khởi tạo tâm thế thoải mái trước giờ học hay củng
cố nắm chắc kiến thức đã được học, kích thích tư duy sáng tạo và rèn kĩ năng.
Theo mục tiêu giáo dục hiện nay, giáo dục học sinh phát triển toàn diện cả
đức, trí, thể, mĩ. Các hoạt động dạy - học ở trường Tiểu học đang đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng: Lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính

Trần Quang Đức( đồng chủ biên). Nhưng ở các tài liệu này thì các tác giả đã
đề cập rất rõ vai trò của trò chơi, đưa ra những hoạt động vui chơi chung
chung, chưa đi sâu vào ứng dụng của trò chơi trong môn học cụ thể.
Đối với môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học nói chung và trong chủ đề Tự
nhiên nói riêng có các nghiên cứu sáng tác trò chơi trong dạy học cụ thể như:
cuốn “Học mà vui vui mà học” của tác giả Vũ Xuân Đỉnh, Trò chơi học tập
Tự nhiên - Xã hội lớp 1, 2, 3 Bùi Phương Nga( chủ biên), Dự án phát triển
5
giáo viên Tiểu học- NXB Giáo dục. …Tuy nhiên để có hệ thống, cụ thể từng trò
chơi trong từng bài cho chủ đề Tự nhiên thì chưa có.
Đề tài đi vào chuyên sâu nghiên cứu “Xây dựng hệ thống trò chơi học tập
phục vụ dạy học các bài trong chủ đề Tự nhiên môn Tự nhiên và Xã hội lớp
2” một cách cụ thể.
4. Mục đích nghiên cứu:
Khi nghiên cứu đề tài mục tiêu chúng tôi đặt ra là kết quả đạt được góp
phần xây dựng hoàn thiện hệ thống trò chơi phục vụ các bài học trong chủ đề
Tự nhiên môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2, nâng cao hiệu quả bài dạy.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt những mục tiêu đề ra việc xây dựng và giải quyết các nhiệm vụ là
hết sức quan trọng. Thông qua các nhiệm vụ chúng tôi sẽ tiến hành từng bước
như thế nào để hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu. Các nhiệm vụ đó là: Đầu tiên
chúng tôi nghiên cứu cơ sở lý luận nắm bắt những nền tảng cơ sở ban đầu của
vấn đề. Lí thuyết là một vấn đề và thực tiễn là vấn đề khác chúng tôi đi vào
nghiên cứu cơ sở thực tiễn: Vấn đề sử dụng trò chơi trong dạy học các bài
thuộc chủ đề: Tự nhiên lớp 2. Nhiệm vụ cuối cùng là xây dựng một số trò
chơi mới kết hợp các sưu tầm được tạo nên tính hệ thống phục vụ các bài ở
các chủ đề Tự nhiên.
6. Đối tượng nghiên cứu:
Khi đi vào nghiên cứu chúng ta cần biết đối tượng nghiên cứu của đề tài
này là: Xây dựng hệ thống trò chơi phục vụ các bài dạy ở chủ đề Tự nhiên

lớp 2 và tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học Vĩnh Lợi.
9. Giả thuyết khoa học:
Xây dựng hoàn thiện hệ thống trò chơi học tập ứng dụng vào từng bài học chủ
đề Tự nhiên góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
B . PHẦN NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
7
Chương 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu:
1.1. Đặc điểm nội dung chương trình môn Tự nhiên – Xã hội lớp 2:
Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học chứa đựng những kiến thức gắn với
đời sống con người, các sự vật hiện tượng trong thực tế cuộc sống rất gần gũi
với học sinh Tiểu học. Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học tích hợp kiến thức
của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội trong đó tỉ trọng kiến thức khoa học
stự nhiên nhiều hơn so với kiến thức khoa học xã hội ”.[1, tr 8] Môn Tự nhiên
và Xã hội lớp 2 được xây dựng theo quan điểm tích hợp xem xét tự nhiên con
người và xã hội trong một thể thống nhất có quan hệ qua lại, tác động lẫn
nhau, các kiến thức trong chương trình là kết quả tích hợp kiến thức của nhiều
ngành khoa học sinh học, vật lí, địa lí, lịch sử, môi trường. Nội dung chương
trình có cấu trúc đồng tâm, hợp lí ”.[5, tr 24] Chương trình môn Tự nhiên và
Xã hội lớp 2 sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng các kiến thức các em đã học ở lớp
1 theo 3 chủ đề: Con người – sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên. Sau khi học xong
chủ đề Tự nhiên học sinh cần đạt được mục tiêu đề ra: Biết sơ lược về hoạt
động của cơ quan vận động và cơ quan tiêu hóa ở cơ thể người; phòng chống
cong vẹo cột sống; giữ vệ sinh ăn uống, phòng nhiễm giun. Biết về công việc
của các thành viên trong gia đình, nhà trường và một số nghề nghiệp trong xã
hội, ở địa phương; giữ sạch nhà ở, trường học, giữ an toàn khi ở nhà, ở trường
và khi đi đường. Biết cây cối và các con vật có thể sống được ở khắp nơi: trên
cạn, dưới nước, trên không; biết quan sát bầu trời ban ngày, ban đêm; có hiểu
biết sơ lược về hình dạng và đặc điểm của Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao[1, tr
4]. Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng: Tự chăm sóc sức khỏe
cho bản thân, ứng xử hợp lí trong đời sống để phòng chống một số bệnh tật và

nhiều gốc độ khác nhau trò chơi được định nghĩa riêng, có thể trò chơi là một
hoạt động tự nhiên cần thiết thỏa mãn nhu cầu giải trí của con người hay là
một phương pháp thực hành hiệu nghiệm đối với việc hình thành nhân cách
và trí lực của trẻ em Theo quan điểm của tác giả Hà Nhật Thăng, trong cuốn
“Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể
9
lực cho học sinh”, “trò chơi là một hoạt động vui chơi mang một chủ đề, một
nội dung nhất định và có những quy định mà người tham gia phải tuân thủ”[4,
tr 6]
Trò chơi học tập được hiểu một cách đơn giản là các trò chơi có nội dung
gắn với các hoạt động học tập của học sinh nhằm giúp học sinh học tập trên
lớp được hứng thú, vui vẻ hơn[5, tr 49]. Nội dung của trò chơi này là sự thi
đấu về một hoạt động trí tuệ nào đó như sự chú ý, sự nhanh trí, sức tưởng
tượng, sáng tạo Ví dụ như các câu đố, triển lãm, đố bạn con gì?.
Theo F.l.Frratkina cho rằng: “Hành động chơi luôn là hành động giả
định. Hành động chơi mang tính khái quát, không bị giới hạn bởi cấu tạo
của đồ vật”[8, tr 12]. Vui chơi là hoạt động cần thiết, góp phần phát triển
nhân cách con người ở mọi lứa tuổi, nhất là đối với học sinh mẫu giáo và tiểu
học. Đối với học sinh mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo, bước sang lứa
tuổi Tiểu học hoạt động học là chính. Khoảng cách giữa hai lứa tuổi này là
không lớn nhưng hoạt động chủ đạo có sự thay đổi lớn. Vì vậy, giáo viên phải
tạo cho các em sân chơi học tập: chơi mà học, học mà chơi.
Học sinh Tiểu học là lứa tuổi ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt
và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa, chú ý có chủ định của trẻ còn
yếu khả năng ghi nhớ chưa cao. Đối tượng cảm xúc của các em là những sự
vật hiện tượng cụ thể, sinh động[2, tr 36] mà theo quan điểm dạy học, quá
trình dạy học là một quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tế cuộc sống. Học sinh tiểu học tư duy
cụ thể còn chiếm ưu thế, phương pháp dạy học truyền thống theo hướng một
chiều: giáo viên truyền thụ học sinh tiếp nhận làm cho học sinh dễ mệt mỏi

Để biết được thực tế sử dụng trò chơi học tập trong dạy học chủ đề Tự
nhiên môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 2 hiện nay, chúng tôi đã tiến hành điều
tra và quan sát giáo viên ở trường Tiểu học thực tập Vĩnh Lợi.
Giáo viên nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và tác dụng của trò
chơi trong dạy học. Với hơn 90% giáo viên đều cho rằng sử dụng trò chơi
11
trong dạy học làm cho học sinh không nhàm chán, giờ học nhẹ nhàng thoải
mái, nâng cao hiệu quả giờ dạy.
Trong khi đó một số giáo viên có tuổi vẫn nặng về áp dụng các phương
pháp dạy học truyền thống, kĩ năng tổ chức trò chơi còn hạn chế, giáo viên
vẫn làm việc nhiều còn học sinh thụ động. Thêm vào đó, do tác động của điều
kiện thời gian, cơ sở vật chất, đặc điểm học sinh cho nên việc áp dụng phương
pháp trò chơi trong học tập chưa phổ biến và áp dụng chưa có hiệu quả. Tài
liệu tham khảo về trò chơi học tập rất nhiều nhưng phần lớn các trò chơi có sự
lặp lại, chưa có tính hệ thống cụ thể. Sách giáo viên hướng dẫn soạn bài giảng
đưa ra rất ít, đơn điệu, chưa có tính hệ thống các trò chơi chỉ có 2 trò chơi:
Triển lãm, Tìm phương hướng bằng mặt trời. Một số trò chơi yêu cầu về sự
chuẩn bị rất phức tạp, với đặc điểm hiếu động của học sinh giáo viên rất khó
quản lí lớp học. Hơn 2/3 giáo viên đều rất hạn chế trong việc tổ chức trò chơi,
khi sử dụng thì các thầy cô đều áp dụng vào phần củng cố bài cuối giờ học,
rất ít thầy cô sử dụng trò chơi như là một hình thức dạy học bài mới. Vẫn tồn
tại số ít giáo viên luôn có sự rập khuôn từ sách thiết kế bài giảng các trò chơi,
lặp đi lặp lại các trò chơi gây ra sự nhàm chán cho học sinh. Bên cạnh đó một
số giáo viên có hướng tìm tòi đổi tên gọi hay cách chơi phong phú luôn tạo
cảm giác mới lạ cho học sinh. Vấn đề sử dụng trò chơi trong học tập là vấn đề
rất cần thiết. Giáo viên nhận thức một cách sâu sắc về việc sử dụng trò chơi
học tập trong dạy học.
Vì vậy, để sử dụng trò chơi học tập trong dạy học có hiệu quả việc cung
cấp các tài liệu tham khảo cũng như tổ chức các chuyên đề, hội thảo mở các
lớp tập huấn để không ngừng nâng cao kĩ năng tổ chức cho giáo viên là nhu

giữa các cá nhân, giữa các nhóm để tạo ra không khí thi đua hào hứng đem
lại hiệu quả cao giúp phát triển những kĩ năng cần thiết cho học sinh: tính hợp
tác, kiên trì, nổ lực Chơi dù để học hay chỉ với mục đích chơi đều phải tuân
theo nguyên tắc thứ tư có tính kỉ luật, cách thức chơi cụ thể riêng biệt của mỗi
13
trò chơi. Người ta gọi đó là luật chơi. Luật chơi khiến cho trò chơi hấp dẫn tạo
ra sự bình đẳng giữa người chơi. Khi thiết kế, chúng tôi đã chọn lọc và tìm ra
các điểm chung của các trò chơi để tạo nên hệ thống. Ví dụ hệ thống trò chơi:
Gọi hình đáp tiếng, Kể nhanh kể đúng, Cây gì sống ở đâu? được gọi tắt
thành trò nhận biết đối tượng với cách thực hiện chơi là giáo viên sẽ chia lớp
thành hai đội, các đội sẽ nêu tên các đối tượng sao cho phù hợp với những đặc
điểm của đối tượng đó.
Nguyên tắc cuối cùng: Khi chơi học sinh mong đợi nhất đó là kết quả trò
chơi vấn đề đưa ra thang đánh giá trò chơi là rất quan trọng. Trò chơi học tập
là một hoạt động mới mẻ, đầy sáng tạo. Nhiều trò chơi được sử dụng nhiều
lần nhưng vẫn lôi cuốn người tham gia. Bởi lẽ, cả quá trình chơi và kết quả
trò chơi là một ẩn số bất ngờ đối với tất cả người tham gia. Giáo viên cần có
hình thức khen thưởng cho đội thắng, phạt nhẹ nhàng đội thua như thế nào có
thể là cho các em múa theo lời bài hát
Thiết kế trò chơi học tập dựa vào các nguyên tắc trên và khi sử dụng
chúng cần đảm bảo các yêu cầu cụ thể. Như chúng ta đã biết không nên áp đặt
cho học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập.
Khi sử dụng bất kì phương pháp dạy học gì cần chú ý các yêu cầu của
phương pháp đó. Khi sử dụng trò chơi trong học tập trong chủ đề Tự nhiên,
giáo viên cần phải đảm bảo các yêu cầu. Với những đặc điểm hiếu động và
ghi nhớ của học sinh Tiểu học, đầu tiên trò chơi phải dễ chơi có luật chơi rõ
ràng, dễ hiểu. Thứ hai, trò chơi phải gắn liền với mục tiêu - nội dung cho từng
bài học: Bất kì bài học nào cũng có mục tiêu đề ra kết hợp với nội dung kiến
thức truyền đạt. Tùy vào mục tiêu, nội dung của từng bài mà giáo viên có sự
lựa chọn cho phù hợp. Ví dụ: Khi dạy bài “Một số loài vật sống trên cạn”

nắm chắc kiến thức về tự nhiên, rèn năng lực tư duy, phản ứng nhanh. Giáo
viên chuẩn bị hệ thống câu đố về thế giới tự nhiên. Luật chơi: đội nào ghi
được nhiều điểm là đội thắng cuộc. Giáo viên chia lớp thành hai đội. Sau khi
giáo viên đọc câu đố hai đội sẽ đưa tay dành quyền trả lời. Đội nào trả lời
15
đúng sẽ ghi 1 điểm, đội nào không trả lời được quyền trả lời thuộc về đội còn
lại. Tổng kết trò chơi đội nào ghi điểm nhiều thắng cuộc.
Thứ tư, trò chơi phải đảm bảo tính giáo dục thẩm mĩ: Chúng ta dạy học sinh
không chỉ về thế giới tự nhiên mà còn dạy học sinh làm người. Do đó, trò chơi còn
phải gớp phần giúp các em trở thành những người tốt, biết bảo vệ tự nhiên. Chẳng
hạn, thông qua trò chơi Con gì sống ở đâu?, Cây gì sống ở đâu? Chúng ta giúp các
em biết thêm được thêm nhiều về nơi sống của các loài vật, loài cây hình thành cho
các em thái độ bảo vệ môi trường sống của chúng, tinh thần đoàn kết, hợp tác trong
học tập.
Do đó khi áp dụng bất kì trò chơi nào có sử dụng phương tiện trực quan
cần chuẩn bị chu đáo, cẩn thận, rõ ràng, đẹp thu hút học sinh chú ý.
Cuối cùng, trò chơi phải đảm bảo an toàn, tiết kiệm phù hợp với cơ sở
vật chất của trường lớp. Đối với trẻ em, đồ chơi là phương tiện để chơi, đã
chơi là phải có đồ chơi và thời gian một tiết học có qui định phù hợp với mục
tiêu đề ra. Giáo viên phải xác định rõ mục tiêu, cách tổ chức, các phương tiện
trực quan cần chuẩn bị một cách chu đáo để khi lên lớp không mất thời gian,
hạn chế tốn kém về vật chất. Phương pháp trò chơi cũng chỉ là một hình thức
dạy học nên khi sử dụng phải đảm bảo thời gian cụ thể, trò chơi gì đáp ứng yêu
cầu dạy học nào? Học sinh Tiểu học rất hiếu động, giáo viên phải có khả năng
quản lí lớp, kĩ năng tổ chức trò chơi đảm bảo an toàn cho học sinh trong khi chơi
là điều tất yếu.
2.1.3. Cơ sở, các tiêu chí phân loại trò chơi theo chủ đề Tự nhiên:
Sau quá trình nghiên cứu nắm bắt nội dung chủ đề Tự nhiên dựa vào các
tiêu chí phân loại trò chơi theo 2 cách: theo tính chất bài học và theo nội dung
bài học.

múa, con thỏ ăn cỏ uống nước vào hang,
chanh chua cua kẹp, chim bay- cò bay
2. Dạy bài mới - Ghép 2 đối tượng, xếp hình, nối nhanh vào
hình, ai biết nhiều hơn, kể nhanh kể đúng, gọi
hình đáp tiếng, hoa nào đẹp, .
3.
Củng cố kiến thức
- Ghép 2 đối tượng, xếp hình, nối nhanh vào
hình, ai biết nhiều hơn, kể nhanh kể đúng, gọi
hình đáp tiếng, nhìn nhanh nhìn đúng, tiếp
sức, thử tài học sinh,đố bạn con gì?, giải câu
đố, Cây gì sống ở đâu?
4.
Ôn tập chủ đề
- Giải câu đố, tổ chức triểm lãm, hái hoa dân
chủ, ô chữ kì diệu, chỉ tên những kẻ giấu tên,
đếm nhanh, Ai nhanh ai tài, tiếp sức
Theo nội dung bài học trò chơi áp dụng với 2 dạng bài: Bài về thế giới
động thực vật ở các bài này các em sẽ được tìm hiểu trực tiếp về các loài cây,
loài vật xung quanh các em, chúng tôi đã hệ thống các dạng trò chơi cho kiểu
bài này gồm: Điền đúng thông tin, Nối nhanh vào hình, Triển lãm, Câu đố về
các loài vật và loài cây, Gọi hình-đáp tiếng, Kể nhanh kể đúng. Dạng bài thứ hai
mà chúng tôi thiết kế các bài về thiên thể với các cách xác định phương hướng, thế
giới vũ trụ, hệ thống trò chơi gồm: Tìm phương hướng bằng mặt trời, Ai thông
minh hơn, Du hành vũ trụ.
18
Bảng 2:
* Phân loại trò chơi theo nội dung bài học:
STT Nội dung bài học Tên trò chơi
1

19
Để lựa chọn và thực hiện một trò chơi chúng ta cần thực hiện theo 4 bước.
Sau khi nắm bắt, phân tích yêu cầu của từng bài, tiết học chúng ta đi vào bước 1:
Lựa chọn trò chơi: dựa vào hệ thống trò chơi được xây dựng cần lựa chọn trò chơi
phù hợp. Đi vào bước 2: Chuẩn bị tổ chức trò chơi: để tiết dạy thành công việc
xây dựng giáo án với đầy đủ mục tiêu, ý nghĩa, nội dung các hoạt động tiến hành
cụ thể, chuẩn bị các phương tiện phục vụ trò chơi, thang đánh giá trò chơi là rất
quan trọng. Đến phần mà mọi học sinh hứng thú nhất đó là bước 3: Tổ chức trò
chơi: chúng ta cần nêu rõ tên gọi, qui luật chơi, các yêu cầu về tổ chức kỉ luật,
cách phân thắng thua như thế nào cho học sinh chơi và theo dõi.
Cuộc chơi nào rồi cũng đến lúc kết thúc đó là bước 4 của quá trình tổ
chức trò chơi. Các thành phần tham gia trò chơi đưa ra kết qủa làm được sau
thời gian chơi, giáo viên đưa ra đánh giá chung về kết quả trò chơi, tuyên
dương khen thưởng đội thắng đưa ra hình phạt với đội thua.
2.1.5. Hệ thống trò chơi thiết kế trong chủ đề Tự nhiên:
Dựa vào các tiêu chí và cơ sở phân loại trò chơi kết hợp nghiên cứu hệ
thống bài học ngoài hai trò chơi trong sách thiết kế, chúng tôi đã xây dựng
bảng hệ thống trò chơi tương ứng với bài áp dụng:
Bảng 3
* Hệ thống trò chơi, tên bài áp dụng
STT Tên trò chơi Bài áp dụng Thời gian
1 Ghép 2 đối tượng Bài 28, bài 29 7-9 phút
2 Xếp hình Bài 32 8- 10 phút
3 Nối nhanh vào hình Bài 32 8- 10 phút
4 Hoa nào đẹp Bài 28, bài 29 8- 10 phút
5 Tổ chức triển lãm tranh Bài 25, 26, 27, 28, 29, 30. 8- 10 phút
6 Ong tìm nhụy Bài 28,29 8- 10 phút
7 Tìm nhà Bài 28, 29 8- 10 phút
8 Ai biết nhiều hơn Bài 27, 30 8- 10 phút
9 Đố bạn con gì? Bài 27, 28, 29, 30 8- 10 phút

1- 3 phút
27 Phe nào thắng Bài 27, 34 8- 10 phút
28 Hát mà nghe Bài 27, 30 3- 5 phút
29 Con công hay múa,
Tất cả các bài: ở phần
khởi động
1- 3 phút
30 Chim bay- cò bay
Tất cả các bài: ở phần
khởi động
1- 3 phút
Từ các trò chơi đó, chúng tôi dựa vào các đặc điểm giống nhau về mục
đích sử dụng nhóm trò chơi thành 4 nhóm sau: trò chơi ghép hai đối tượng,
nhận biết đối tượng, thử tài học sinh, khởi động giờ học. Cụ thể:
Bảng 4
STT Tên trò chơi Biến thể trò chơi
1
Ghép 2
đối tượng
- Xếp hình, Nối nhanh vào hình, Hoa nào đẹp, Tìm
phương hướng bằng mặt trời, Hội thi triển lãm,
Chạy tiếp sức, Tìm nhà, Ong tìm nhụy
2
Nhận biết
đối tượng
Đố bạn con gì?, Ai biết nhiều hơn?, Kể nhanh kể
đúng, Gọi hình đáp tiếng, Xì điện, Hát nối, Thi kể
21
tên, Tìm kẻ giấu tên, Giải câu đố?, Ô chữ kì diệu,
Con vật bí mật, Ai nhanh hơn và đúng hơn, Hái hoa

nâng cao hiệu quả giờ dạy.
22
- Yêu cầu: Tiến hành thực nghiệm việc sử dụng trò chơi trong dạy học
một số bài trong chủ đề Tự nhiên môn Tự nhên và Xã hội tại lớp 2 phải đảm
bảo tính khách quan, chân thực.
- Quan sát kết hợp đứng lớp, điều tra, thống kê và xử lí số liệu rút ra
nhận xét, kết luận.
2.2.2. Nội dung thực nghiệm:
Chúng tôi đã thực nghiệm 3 bài trong chủ đề Tự nhiên môn Tự nhiên và
Xã hội lớp 2:
- Một số loài cây sống trên cạn
- Loài vật sống ở đâu?
- Một số loài vật sống trên cạn
Chúng tôi đã phát phiếu thăm dò đối với học sinh, phiếu trưng cầu ý kiến
đối với giáo viên, thu thập xử lí số liệu.
2.2.3. Đối tượng thực nghiệm: Khối lớp 2 trường Tiểu học Vĩnh Lợi.
Học sinh khối lớp hai trường tiểu học Vĩnh Lợi với 295 học sinh. Các em
học bán trú 2 buổi/ ngày. Chúng tôi tiến hành thực nghiệm tại lớp 2/5. Lớp
học với diện tích 45m2 và 44 học sinh trong đó có 23 học sinh nam. 98% học
sinh đi học đúng độ tuổi, các em đều là con cán bộ, nhân viên, làm thợ điều
kiện sống đảm bảo chỉ có 2 học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Thuận lợi của
lớp: được Ban giám hiệu nhà trường quan tâm giúp đỡ 100% học sinh và giáo
viên có đủ SGK và đồ dùng học tập. Lớp học đạt kết quả tốt: 89% học sinh
đạt loại giỏi, 100% có hạnh kiểm đạt. Bên cạnh đó vẫn tồn tại một số khó
khăn: một số em tiếp thu bài và làm bài còn chậm, rất hiếu động. Đối với các
môn học như Tự nhiên và xã hội, Đạo đức tỉ lệ học sinh đạt loại giỏi hạn
chế chỉ chiếm khoảng: 25%, còn lại là loại khá.
2.2.4 Tiến hành thực nghiệm:
Đối với bài:
- Một số loài cây sống trên cạn

Số HS 0 0 0 3 35 6 44
Tỉ lệ 0 0 0 6,8% 79,6% 13,6% 100%
Lớp
ĐC
Số HS 0 0 4 20 19 2 45
Tỉ lệ 0 0 8,9% 44,5 42,2% 4,4% 100%
Qua phát phiếu trưng cầu ý kiến đối với giáo viên chúng tôi nhận thấy:
24
Việc thiết trò chơi của chúng tôi tương đối hợp lí. Các thầy cô đều đồng ý
với việc thực hiện trò chơi ở bài đó. Ở mỗi lớp chúng tôi tiến hành thực hiện
một trò chơi với các mục đích khác nhau: có thể là khởi động trước giờ học,
truyền đạt kiến thức mới, củng cố kiến thức sau bài học.
Sau tiết dạy bài Loài vật sống ở đâu? Chúng tôi phát phiếu thực nghiệm
và thu được một số kết quả: Đối với bài này theo các thầy cô áp dụng:
Bảng 7
Tên trò chơi
Cung cấp kiến thức Củng cố bài
Số lượng GV Tỉ lệ Số lượng GV Tỉ lệ
Giải câu đố? 2 40% 3 60%
Triển lãm tranh 4 80% 1 20%
Trong một bài học, giáo viên có thể sử dụng một trong hai trò chơi trong
hoạt động Dạy bài mới cho học sinh thay vì phải truyền thụ kiến thức một
cách thụ động. Ở cuối tiết học, giáo viên có thể tổ chức cho lớp chơi trò chơi
để thay đổi không khí lớp học hoặc củng cố kiến thức vừa học được. Theo
khảo sát thực tế, chúng tôi thu được:
Phần lớn 80% giáo viên sử dụng trò chơi “Giải câu đố?” vào cuối tiết
học nhằm củng cố kiến thức cho học sinh. Với khoảng 20% thầy cô áp dụng
“Triển lãm tranh” để các nhóm thi đua trưng bày các sản phẩm của nhóm
mình. Không có thầy cô nào sử dụng cả hai trò chơi trong một tiết dạy.
Bảng 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status