1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: 13
Bảng 1.2 …14
Bảng 2.1: Tình hình thực hiện doanh thu qua hai năm (2009-2010) 40
Bảng 2.2: Tình hình thực hiện doanh thu qua hai năm (2010-2011) 41
Bảng 2.3: So sánh tình hình thực hiện lợi nhuận qua hai năm (2009-2010) 43
Bảng 2.4: So sánh tình hình thực hiện lợi nhuận qua hai năm (2010-2011) 43
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua ba năm (2009-2010-2011) 46
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp số liệu tính các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả 46
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp chi phí qua ba năm (2009-2010-2011): 50
Bảng 2.8: Cấu trúc chi phí qua hai năm (2009 – 2010): 51
Bảng 2.9: Các trúc chi phí qua hai năm (2010-2011) 51
Bảng 2.10: Các yếu tố cấu thành biến phí trong hai năm (2009-2010) 53
Bảng 2.11: Các yếu tố cấu thành biến phí trong hai năm (2010-2011) 53
Bảng 2.12: Các yếu tố cấu thành định phí trong hai năm (2009-2010) 55
Bảng 2.13: Các yếu tố cấu thành định phí trong hai năm (2010-2011) 55
Bảng 2.14: Tác động của cấu trúc chi phí lên doanh lợi của Công ty qua hai năm (2009-2010) 58
Bảng 2.14a: 59
Bảng 2.14b: 60
Bảng 2.14c: 62
Bảng 2.14d: 62
Bảng 2.15: Tác động của cấu trúc chi phí lên doanh lợi của Công ty qua hai năm (2010-2011) 58
Bảng 2.15a: 61
Bảng 2.15b: 61
Bảng 2.15c: 63
Bảng 2.15d: 63
Bảng 2.16: Bảng tổng hợp số liệu tính các chỉ số hòa vốn 64
Bảng 2.17: Độ nghiêng đòn cân định phí qua hai năm (2009-2010) 66
3
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 :Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa sản lƣợng, doanh thu và chi phí 11
Hình 1.2 : Cấu trúc chi phí của ba phƣơng án 12
Hình 1.3 : Quan hệ giữa DOL và doanh thu thể hiện qua đồ thị 16
Hình 1.4 : Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa EBIT và EPS của doanh nghiệp 24
Hình 1.5 : Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính và rủi ro tổng
hợp cùng với phƣơng pháp nghiên cứu mối quan hệ tƣơng quan giữa chúng 29
Hình 2.1 : Sơ đồ tổ chức Công ty 34
Hình 2.2 : Biểu đồ tình hình thực hiện doanh thu qua ba năm (2009-2010-2011) 41
Hình 2.3 : Biểu đồ tình hình thực hiện lợi nhuận qua ba năm (2009-2010-2011) 44
Hình 2.4 : Biểu đồ cấu trúc chi phí của Công ty qua ba năm (2009-2010-2011) 51
Hình 2.5 : Biểu đồ cấu trúc biến phí qua ba năm (2009-2010-2011) 53
Hình 2.6 : Biều đồ cấu trúc định phí qua ba năm (2009-2010-2011) 56
Hình 2.7 : Biểu đồ cấu trúc nguồn vốn qua ba năm (2009-2010-2011) 70
Hình 3.1 : Đồ thị xác định điểm bàng quan theo ba phƣơng án 90
pháp thích hợp hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất do rủi ro mang lại.
Chính vì thế, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp thì
vấn đề: Tác động đòn bẩy lên doanh lợi và rủi ro của doanh nghiệp đã trở thành một
đề tài thu hút được sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt là các nhà quản trị tài
chính. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt ngày nay thì việc am hiểu và sử dụng
hợp lý tác động của đòn bẩy lên doanh lợi và rủi ro của doanh nghiệp sẽ là một lợi
thế rất lớn.
Xuất phát từ tình hình trên, sau khi được các Thầy, Cô trường Đại học Nha
Trang trang bị đầy đủ những kiến thức cơ bản về tài chính doanh nghiệp hiện đại,
đặc biệt là sự gợi ý, hướng dẫn tận tình, chu đáo của Cô Phan Thị Lệ Thúy và sự
5
giúp đỡ, tạo điều kiện rất thuận lợi của đơn vị thực tập, nên em đã chọn đề tài: “Tác
động đòn bẩy lên doanh lợi và rủi ro của doanh nghiệp tại Công ty cổ phần cà
phê Mê Trang” làm đề tài tốt nghiệp của mình.
Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của đề tài này nhằm đưa ra những lý luận cơ bản nhất về tác động
của đòn bẩy, đánh giá khái quát tác động của đòn bẩy lên doanh lợi và rủi ro tại
Công ty cổ phần cà phê Mê Trang, đưa ra những giải pháp kiến nghị góp phần nâng
cao hiệu quả tác động của đòn bẩy tại Công ty.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu tác
động đòn bẩy lên doanh lợi và rủi ro của hoạt động sản xuất kinh doanh chính tại
Công ty cổ phần cà phê Mê Trang.
Số liệu phân tích được thu thập trong năm 2009, 2010 và năm 2011.
Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Trong đề tài này, em sử dụng kết hợp đồng thời nhiều phương pháp nghiên
cứu (phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp phân
tích…), trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích so sánh.
Cấu trúc đề tài
1.1.2. Phân loại rủi ro
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải thường xuyên
đương đầu với hàng loạt rủi ro. Tuy nhiên, hai loại rủi ro có ảnh hưởng trực tiếp đến
doanh nghiệp có thể kể đến là: Rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.
1.1.2.1. Rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro tiềm tàng trong bản thân hoạt động của từng
doanh nghiệp, sẽ không có gì chắc chắn xoay quanh doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp. Chính điều này sẽ tạo ra rủi ro, thể hiện ở chổ Công ty không tạo đủ
doanh thu hàng năm từ việc tiêu thụ sản phẩm đến mức đủ thanh toán các định phí
trong sản xuất kinh doanh. Hay nói cách khác, rủi ro kinh doanh phụ thuộc vào sự
phân bổ các chi phí hoạt động. Mối quan hệ giữa các loại chi phí và lợi nhuận là
công cụ phân tích rủi ro quan trọng của nhà quản trị tài chính. Chính vì thế, các nhà
7
quản trị trong doanh nghiệp giữ vai trò kiểm soát đối với mức độ rủi ro kinh doanh
thông qua sự lựa chọn dự án đầu tư, công nghệ và các chiến lược đầu tư cụ thể.
1.1.2.2. Rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính chỉ tính khả biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần và xác
suất mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp sử dụng các nguồn tài trợ có
chi phí tài chính cố định, như nợ và cổ phần ưu đãi trong cấu trúc tài chính của
mình. Các chi phí sử dụng vốn như lãi vay và cổ tức ưu đãi tượng trưng cho các
nghĩa vụ theo hợp đồng một doanh nghiệp phải đáp ứng bất kể mức độ EBIT. Việc
gia tăng sử dụng các số lượng nợ và cổ phần ưu đãi làm tăng các chi phí tài chính cố
định của doanh nghiệp, đến lượt mình các chi phí này lại làm tăng mức EBIT mà
doanh nghiệp phải đạt được để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và duy trì hoạt động.
Lý do một doanh nghiệp chấp nhận rủi ro của tài trợ có chi phí tài chính cố định là
để tăng lợi nhuận có thể có cho các cổ đông. Như vậy, rủi ro tài chính là tính khả
biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần do việc sử dụng các nguồn vốn có chi phí
tài chính cố định. Những doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau
phải đối diện với mức độ đòn bẩy khác nhau, và họ có thể thay đổi phương thức sử
Chi phí là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động
vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Chi phí được phân
loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Trong quản lý tài chính, chi phí được phân loại
và phân tích theo sự biến đổi của chi phí đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động,
tức là phân loại theo cách ứng xử của chi phí. Cách phân loại này căn cứ vào sự
thay đổi của chi phí khi có sự thay đổi của mức độ hoạt động. Theo đó, người ta
phân chia chi phí ra thành các loại: Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp.
1.2.2.1. Biến phí
Chi phí biến đổi (Chi phí khả biến, biến phí): Là những chi phí sản xuất kinh
doanh thay đổi tỷ lệ thuận về tổng số, về tỷ lệ với sự biến động về khối lượng sản
phẩm, gồm: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (CP NVLTT); Chi phí nhân công
trực tiếp (CP NCTT) và một số khoản chi phí sản xuất chung như: Chi phí nhân
công, chi phí điện nước, phụ tùng sửa chữa máy,…Chi phí khả biến không thay đổi
khi tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc.
9
1.2.2.2. Định phí
Chi phí cố định (Chi phí bất biến, định phí): Là những chi phí mà tổng số
không thay đổi với sự biến động về khối lượng sản phẩm, công việc, gồm: chi phí
khấu hao tài sản cố định (TSCĐ), lương nhân viên (NV), cán bộ quản lý,…Chi phí
bất biến của một đơn vị sản phẩm, công việc có quan hệ tỷ lệ nghịch với khối
lượng, sản phẩm, công việc.
Trong chi phí cố định, các khoản định phí bắt buộc như chi phí khấu hao
TSCĐ, chi phí tiền lương cho nhân viên quản lý thường chiếm một tỷ trọng cao.
Những doanh nghiệp có đầu tư về máy móc, thiết bị hiện đại và trình độ công nghệ
cao thường có khoản chi phí khấu hao lớn, đưa đến chi phí cố định cao. Bên cạnh
đó, trình độ tự động hóa của doanh nghiệp tăng cao, nhân công đòi hỏi ít hơn, chi
phí nhân công giảm làm giảm chi phí biến đổi. Do đó, trong những doanh nghiệp
này, tỷ lệ chi phí cố định chiếm trong tổng chi phí là khá lớn. Còn định phí tùy ý
(hay định phí không bắt buộc) thì chiếm một tỷ lệ thấp trong tổng định phí. Tuy
Tại điểm hòa vốn, thì EBIT = 0, tức:
Doanh thu hòa vốn – (Biến phí + Định phí) = 0
Hay: Doanh thu hòa vốn = Biến phí + Định phí (*)
Chúng ta dùng các ký hiệu sau:
S
hv
: Doanh thu hòa vốn;
p: Giá bán đơn vị sản phẩm; Q
hv
: Sản lượng hòa vốn;
v: Biến phí trên một đơn vị sản phẩm; V: Tổng biến phí;
S: Tổng doanh thu bán hàng trong kỳ; F: Định phí;
Thay vào (*), ta được:
F + V = S
hv
F – (p – v) Q
hv
= 0
Từ đó, rút ra ta được:
- Sản lượng hòa vốn (Q
hv
):
=
- Doanh thu hòa vốn (S
sản lượng hòa vốn là doanh thu hòa vốn chỉ vừa đủ để bù đắp chi phí, không có lãi.
Khi nào tiêu thụ trên mức sản lượng hòa vốn với doanh thu hòa vốn thì sẽ có lãi.
Điểm hòa vốn nói lên tình trạng doanh thu tại điểm đó vừa đúng bằng chi phí. Khi
nào doanh thu đã bù đắp đủ chi phí thì vùng lãi sẽ xuất hiện.
Hình 1.1: Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa sản lƣợng, doanh thu và chi phí
12
Trong phân tích hòa vốn cũng có một vài hạn chế của nó như: Gía bán và
biến phí một đơn vị không đổi; Thành phần của các chi phí hoạt động có thể thay
đổi; Tính đa dạng của sản phẩm; Tính không chắc chắn trong phân tích hòa vốn và
thời gian hoạch định là ngắn hạn.
Như vậy, phân tích hòa vốn là một công cụ phân tích tài chính được dùng để
nghiên cứu các mối liên hệ giữa doanh thu, các định phí (ĐP), biến phí (BP), và
EBIT của một doanh nghiệp tại nhiều mức sản lượng khác nhau. Phân tích hòa vốn
có thể được dùng hỗ trợ việc dự báo lợi nhuận, phân tích các thay đổi trong cấu trúc
vốn hay cấu trúc giá cả và trong hoạch định cấu trúc vốn.
1.2.3.3. Rủi ro kinh doanh thông qua việc phân tích hòa vốn
Phân tích hòa vốn thường được sử dụng để đánh giá rủi ro của một doanh
nghiệp bằng cách chỉ ra tác động của chúng lên EBIT khi chúng có những thay đổi
của môi trường kinh doanh. Một khi tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đang ở
thấp, đòi hỏi nhiều công nhân thì tài sản cố định thấp và do vậy tỷ lệ định phí thấp
trong tổng số chi phí, tức là chúng có khả năng sản xuất thấp (PA 1). Ngược lại,
những doanh nghiệp đầu tư nhiều vào kỹ thuật thì tài sản cố định rất cao và do vậy
tỷ lệ định phí chiếm rất cao trong tổng số chi phí, tức chúng có khả năng sản xuất
cao hơn (PA 3). Khả năng sản xuất cao có tác dụng khuếch đại lợi nhuận nếu như
doanh số ban đầu tăng, nhưng đồng thời cũng khuếch đại tổn thất nếu doanh số
bán giảm.
Kết luận trên được khẳng định khi ta xem xét thêm một ví dụ minh họa đơn
giản tại Công ty X và Công ty Y trong 2 trường hợp: khi doanh thu tăng lên 10% và
khi doanh thu giảm xuống 10%.
Qua số liệu cụ thể của ví dụ đơn giản này, ta thấy: Nếu một Công ty có tỷ
trọng cấu trúc định phí cao thì EBIT đạt được sẽ tăng cao (so với một Công ty có tỷ
trọng cấu trúc định phí thấp) nếu như doanh thu tăng nhiều và ngược lại thì EBIT sẽ
bị giảm nhiều hơn (so với một Công ty có tỷ trọng cấu trúc định phí thấp). Nghĩa là:
Cấu trúc chi phí có tác động lớn đến EBIT của doanh nghiệp.
Sau đây là ví dụ minh họa:
- Trong điều kiện bình thường:
Bảng 1.1
STT
Chỉ tiêu
Công ty X
Công ty Y
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
1
Doanh thu thuần (DTT)
- Lựa chọn những phương án kinh doanh khác nhau:
Việc lựa chọn những phương án sản xuất khác nhau là nguyên nhân làm thay
đổi cấu trúc chi phí và giá bán, do dó phân tích hòa vốn thường được sử dụng để
phân tích những sự lựa chọn khác nhau và dự báo những hậu quả có thể xảy ra của
chúng đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp thay đổi phương án sản xuất: Qua phân tích hòa vốn của
các nhà quản trị cũng có thể lựa chọn phương án sản xuất nào là tối ưu. Và dự báo
những ảnh hưởng có thể xảy ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Khi doanh nghiệp đưa ra thị trường một sản phẩm mới, việc phân tích hòa
vốn là công cụ hữu hiệu để đánh giá hiệu quả của việc sản xuất sản phẩm mới. Qua
việc phân tích hòa vốn, các nhà quản trị cũng có thể dự báo mức độ thành công và
những rủi ro ảnh hưởng đến dự án sản xuất sản phẩm mới của họ. Tóm lại, thông
qua việc phân tích hòa vốn có thể rút ra được một số ý nghĩa như: Giúp ta phân tích
được các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
như: giá bán đơn vị, biến phí đơn vị, định phí; Xác định được mục tiêu lợi nhuận
cho doanh nghiệp để lựa chọn các phương án kinh doanh khác nhau; Giúp cho
doanh nghiệp đánh giá được mức độ rủi ro của một dự án đầu tư hay mức độ rủi ro
của hoạt động sản xuất kinh doanh một doanh nghiệp… Chỉ tiêu
Khi doanh thu tăng lên 10%
Khi doanh thu giảm 10%
Công ty X
Công ty Y
Công ty X
Công ty Y
Số tiền
%
22,22
60.000
66,67
EBIT
13.000
11,82
17.000
15,45
7.000
7,78
3.000
3,33
15
1.2.4. Độ nghiêng đòn cân định phí (DOL) và mối quan hệ giữa
DOL với doanh thu
Đòn bẩy kinh doanh dùng các chi phí hoạt động cố định làm điểm tựa. Khi
một doanh nghiệp sử dụng các chi phí hoạt động cố định, một thay đổi trong doanh
thu sẽ được phóng đại thành một thay đổi tương đối lớn trong lãi trước thuế và lãi
vay (EBIT). Tác động số nhân này của việc sử dụng các chi phí hoạt động cố định
được gọi là độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (hay độ nghiêng đòn cân định phí –
DOL).
Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (DOL) được định nghĩa là phần trăm thay
đổi trong EBIT do một phần trăm thay đổi trong doanh thu. Hay nói cách khác, độ
nghiêng đòn bẩy kinh doanh của một doanh nghiệp được định nghĩa là tác động số
nhân của việc sử dụng các chi phí hoạt động cố định. Cụ thể hơn, DOL có thể được
tính như phần trăm thay đổi trong EBIT do một phần trăm thay đổi cho sẵn trong
doanh thu (sản lượng).
DOL
ti X
EBIT
16
Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tiến đến cực đại khi
doanh nghiệp tiến gần đến hoạt động ở mức sản lượng hòa vốn. Điều này thể hiện
qua phương trình:
DOL
ti X
=
Q
Q Q
hv
Rủi ro kinh doanh, tính khả biến trong EBIT trong một doanh nghiệp cũng
chịu ảnh hưởng bởi tính khả biến của doanh thu và các chi phí hoạt động theo thời
gian.
Hình 1.3 :QUAN HỆ GIỮA DOL VÀ DOANH THU THỂ HIỆN QUA ĐỒ
THỊ
Nhìn vào đồ thị ta thấy tại điểm hòa vốn Q=Q
hv
+
Theo đẳng thức này, với mức sản lượng cho trước, độ nghiêng đòn cân định
phí cũng tăng như định phí. Như vậy, nếu một doanh nghiệp có độ nghiêng đòn cân
định phí cao thì những biến đổi nhỏ của doanh số tiêu thụ sản phẩm cũng tác động
lớn vào lợi nhuận (EBIT). Lợi nhuận tăng rất nhanh trong trường hợp mở rộng bán
hàng nhưng đồng thời cũng sẽ giảm rất mạnh nếu có sự sụt giảm mức độ tiêu thụ.
Hay nói cách khác, độ nghiêng đòn cân định phí càng tăng cao thì rủi ro trong kinh
doanh càng lớn. Nhìn chung, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp càng ở gần
điểm hòa vốn là càng không tốt, vì đó là tình trạng rất mạo hiểm. Để giảm bớt rủi ro
do hệ số đòn cân định phí tăng, một số doanh nghiệp thực hiện giảm định phí như
nhận gia công đặt hàng, nhận ủy thác xuất nhập khẩu, giảm đầu tư vào tài sản cố
định…Trong phân tích tài chính hiện nay, cần giữ ổn định mức độ ảnh hưởng cho
chi phí cố định vào lợi nhuận khi ta thực hiện phân tích để lập dự toán cho kỳ sau.
Sự biến động của lợi nhuận thể hiện sự mạo hiểm về kinh tế của doanh nghiệp và
18
thường phụ thuộc vào ba yếu tố: doanh thu, cấu trúc chi phí, mức độ ở gần điểm
hòa vốn so với mức sản lượng có thể.
1.3. Tác động của đòn bẩy tài chính lên doanh lợi và rủi ro của doanh
nghiệp
1.3.1. Khái niệm đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính còn được gọi là đòn cân nợ. Đòn cân nợ là tỷ số giữa tổng
số nợ trên tổng số vốn của doanh nghiệp. Tổng số nợ bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ
dài hạn. Đòn cân nợ xác định chi phí tài chính cố định trong tổng số chi phí sử dụng
ngân quỹ của doanh nghiệp. Đòn bẩy tài chính liên quan đến sử dụng nợ (và cổ
phần ưu đãi) có chi phí tài chính cố định. Khi doanh nghiệp sử dụng lãi vay thì đòn
cân nợ sẽ làm thay đổi tỷ lệ sinh lời trên phần vốn chủ sở hữu.
1.3.2. Cấu trúc tài chính – Cấu trúc vốn
trong Công ty liên doanh, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh
hoặc các cổ đông trong Công ty cổ phần,…
Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu mà doanh nghiệp không
phải cam kết thanh toán. Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các nhà
đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh, do đó nguồn vốn chủ sở hữu
không phải là một khoản nợ. Một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều chủ sở
hữu vốn.
Vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn chủ sở hữu và nguồn kinh phí và quỹ khác.
1.3.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá cấu trúc vốn
Các chỉ tiêu này phản ánh mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp trong
kinh doanh, đồng thời cũng phản ánh khả năng về rủi ro tài chính có thể xảy ra đối
với doanh nghiệp, cũng như đối với các chủ nợ doanh nghiệp. Thông thường khi
đánh giá cấu trúc vốn của doanh nghiệp người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
* Tỷ số nợ:
=
N phi tr
Tng ngun vn
Tỷ số này nói lên tình trạng góp vốn của doanh nghiệp, các chủ nợ thường
muốn tỷ số này thấp, có như vậy trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản mới
20
đảm bảo được khả năng thanh toán nợ. Ngược lại, tùy trường hợp mà doanh nghiệp
có thể muốn có tỷ số nợ cao vì có như thế chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC)
sẽ thấp, để làm cho tỷ suất doanh lợi của vốn chủ sở hữu tăng lên.
Tóm lại, tỷ số này càng cao thì sự biến động tỷ suất doanh lợi của vốn chủ sở
hữu càng lớn do đó rủi ro về mặt tài chính của doanh nghiệp càng tăng.
* Hệ số thanh toán lãi vay:
HS
TTLV
- Sự ổn định doanh thu: Sự ổn định doanh thu và các tỷ số nợ có liên quan
trực tiếp đến doanh lợi vốn tự có, doanh nghiệp sẽ ít gặp rủi ro trong việc trang trải
các định phí của nợ vay (hoàn vốn và lãi) hơn là phải gặp nhiều bất ổn định về
doanh thu và doanh lợi vốn tự có.
- Cơ cấu cạnh tranh: Khả năng vay nợ phụ thuộc vào doanh lợi tiêu thụ lẫn
doanh thu. Như thế, sự ổn định của doanh lợi tiêu thụ cũng quan trọng như sự ổn
định của doanh thu, sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp mới cùng ngành và khả
năng khuếch trương của các doanh nghiệp cạnh tranh sẽ ảnh hưởng đến doanh lợi
tiêu thụ. Một ngành đang phát triển hứa hẹn doanh lợi tiêu thụ tăng dần nhưng
doanh lợi tiêu thụ bị thu hẹp lại nếu trong ngành này có quá nhiều doanh nghiệp
mới tham gia vào thị trường.
- Cơ cấu tài sản: Cơ cấu tài sản ảnh hưởng đến nguồn tài trợ bằng nhiều
cách. Doanh nghiệp với tài sản cố định có đời sống lâu dài, đặc biệt khi mức nhu
cầu sản lượng của họ được đảm bảo, thường vay nhiều hơn nợ dài hạn có thế chấp.
Doanh nghiệp mà tài sản gồm phần lớn các khoản thu phải thu và hàng tồn kho mà
giá trị phụ thuộc vào sự sinh lời liên tục của doanh nghiệp thì thường sử dụng nợ
ngắn hạn.
- Thái độ của Ban Giám đốc: có ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương thức tài
trợ là sự kiểm soát doanh nghiệp và rủi ro.
Đối với những doanh nghiệp thật lớn mà cổ phần được phân tán rộng rãi có
thể chọn dễ dàng việc phát hành thêm cổ phần. Thường vì họ không sợ mất quyền
kiểm soát doanh nghiệp do sự phát hành mới này. Ngược lại, chủ nhân các doanh
nghiệp nhỏ không thích phát hành thêm cổ phần để nắm chắc phần kiểm soát, vì họ
tin tưởng vào tình hình hoạt động của doanh nghiệp và họ sẽ hưởng lợi nhuận rất
lớn do đòn cân nợ, Giám đốc các doanh nghiệp này rất muốn có các tỷ số nợ cao.
- Thái độ của người cho vay: Mặc dù, phân tích tìm những đòn cân nợ thích
hợp cho doanh nghiệp là nhiệm vụ của Ban Giám đốc, nhưng thường thì chính thái
22
độ của người chủ nợ mới là yếu tố quan trọng quyết định cơ cấu tài chính. Trong đa
lập các kế hoạch tài trợ.
1.3.4. Độ nghiêng đòn cân nợ (DFL) và tác động của đòn bẩy tài
chính lên doanh lợi và rủi ro của doanh nghiệp.
Đòn bẩy tài chính dùng các chi phí tài chính cố định làm điểm tựa. Khi một
doanh nghiệp sử dụng các chi phí tài chính cố định, một thay đổi trong EBIT sẽ
được phóng đại thành một thay đổi tương đối lớn hơn trong thu nhập trên mỗi cổ
phiếu (EPS). Tác động số nhân này của việc sử dụng các chi phí tài chính cố định
được gọi là độ nghiêng đòn bẩy tài chính hay độ nghiêng đòn cân nợ (DFL).
Có thể dùng nhiều tỷ số tài chính khác nhau để đo lường rủi ro gắn với việc
sử dụng nợ và cổ phần ưu đãi trong cấu trúc vốn của một doanh nghiệp. Các tỷ số
này bao gồm tỷ số nợ trên tổng tài sản, tỷ số nợ trên vốn cổ phần thường, tỷ số khả
năng thanh toán lãi vay. Riêng tỷ số khả năng thanh toán lãi vay có thể giúp đo
lường mức độ mà một doanh nghiệp có thể đáp ứng được các chi phí tài chính cố
định lấy ra từ EBIT. Một phương thức khác để đo lường rủi ro tài chính của một
doanh nghiệp là độ nghiêng đòn bẩy tài chính (DFL).
Độ nghiêng đòn bẩy tài chính của một doanh nghiệp được định nghĩa là phần
trăm thay đổi trong thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) do phần trăm thay đổi trong
EBIT.
DFL
ti X
=
T l phn thay i ca EPS (ROE)
T l phm thay i ca EBIT
Điều này ngụ ý rằng nếu EBIT tăng tương đối 1% thì EPS tăng lên một
khoản bằng DFL %. Và ngược lại, khi EBIT giảm 1% thì EPS sẽ giảm một khoản
bằng DFL %. DFL còn có thể viết thành:
- Trường hợp: Cấu trúc vốn gồm cổ phần thường và nợ:
DFL
ti X
p v
F
Q
p v
F I
Dp
1 t
Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều loại sản
phẩm, DFL được tính như sau:
DFL
ti X
=
EBIT
EBIT I
Dp
1 t
Theo các công thức trên, khi doanh nghiệp sử dụng nợ càng nhiều, rủi ro (lãi
vay) càng lớn thì DFL càng lớn, EBIT chỉ cần thay đổi một ít thì EPS sẽ thay
đổi lớn.
Khi doanh nghiệp hoàn toàn không sử dụng nợ (I = 0) khi đó DFL=1, đòn
cân nợ bị triệt tiêu, lúc này EBIT tăng bao nhiêu % thì EPS sẽ tăng bấy nhiêu %
tương ứng. Mối quan hệ giữa EBIT và EPS (với những giả định khác nhau của lợi
nhuận) có thể được biểu diễn qua đồ thị dưới đây.
Hình 1.4:Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa EBIT và EPS của doanh nghiệp
trên mỗi cổ phần (EPS) của doanh nghiệp vẫn không đổi.
Độ nghiêng đòn bẩy tài chính tiến đến cực đại khi doanh nghiệp tiến gần đến
hoạt động ở mức lỗ, khi EBIT = 0. Khi tất cả các yếu tố khác bằng nhau, độ nghiêng
đòn bẩy tài chính của một doanh nghiệp càng cao, rủi ro tài chính của doanh nghiệp
càng lớn.
- Nếu EBIT dưới điểm hòa vốn thì đường tài trợ bằng vốn cổ phần nằm trên
đường tài trợ bằng vốn cổ phần và vốn vay, do đó tài trợ bằng vốn cổ phần có
lợi hơn.
- Nếu EBIT trùng với điểm hòa vốn EBIT, bất chấp phương thức tài trợ thì
EPS là không đổi.
- Nếu EBIT vượt qua điểm hòa vốn thì đường tài trợ bằng vốn cổ phần và
vốn vay nằm trên đường tài trợ bằng vốn cổ phần, do đó tài trợ bằng vốn cổ phần và
vốn vay có lợi hơn.
1.3.5. Lợi ích từ tấm chắn thuế khi sử dụng đòn bẩy tài chính
Khi doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ thì doanh nghiệp luôn nhận được một
khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế của lãi vay. Đây được xem là lợi ích chủ yếu có
được từ việc vay nợ. Khoản sinh lời này cũng được xem như là một khoản mà chính
phủ đã trợ cấp cho các doanh nghiệp dưới hình thức giảm thuế để khuyến khích các
doanh nghiệp sử dụng các khoản vay nợ.
Gọi t là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và I là lãi vay, thì các khoản
trợ cấp này hằng năm sẽ là (t x I). Do đó khi doanh nghiệp sử dụng càng nhiều nợ
vay thì khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế của lãi vay càng lớn. Tuy nhiên doanh
nghiệp cũng cần chú ý là khi gia tăng nợ vay càng lớn thì rủi ro tài chính mà doanh
nghiệp gánh chịu cũng ngày càng gia tăng. Do đó doanh nghiệp nên thận trọng cân
nhắc kỹ trước khi gia tăng nợ vay trong cấu trúc vốn.