i
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian thực tập tại phòng thí nghiệm, em đã hoàn thành đề tài tốt
nghiệp của mình. Để hoàn thành được đồ án tốt nghiệp này em đã nhận được rất
nhiều sự giúp đỡ từ nhiều phía. Qua đây, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến:
Trước hết em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nha
Trang, ban chủ nhiệm khoa Công nghệ thực phẩm đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp
đỡ em trong thời gian thực hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn các thầy cô trong khoa Công nghệ thực phẩm đã
truyền đạt cho em những kiến thức trong suốt quá trình học tập.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô ở các phòng thí
nghiệm: phòng Hóa sinh, Công nghệ chế biến, Công nghệ thực phẩm, Viện Công
nghệ sinh học và Môi trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình em
thực hiện đồ án.
Thầy Nguyễn Anh Tuấn người trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt em trong quá
trình làm đồ án. Những kiến thức và kinh nghiệm mà thầy truyền đạt đã giúp em rất
nhiều trong quá trình làm nghiên cứu. Sự thành công của đồ án này không thể thiếu
sự đóng góp to lớn của thầy.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và người thân em đã động viên,
chia sẻ những khó khăn cả về tinh thần lẫn vật chất trong suốt quá trình thực hiện đồ
án tốt nghiệp cùng tất cả các bạn sinh viên đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian
thực hiện đồ án.
Xin chúc các thầy cô, Bố Mẹ, anh chị và những người đồng hành cùng em
lời chúc sức khỏe và có nhiều niềm vui trong cuộc sống.
Nha Trang, tháng 6 năm 2011.
Sinh viên
Phạm Thị Ngọc
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÁ NỤC GAI 40
iii
3.1.1. Kết quả 40
3.1.2. Nhận xét và thảo luận 40
3.2. KẾT QUẢ CÁC THÍ NGHIỆM THĂM DÒ 40
3.2.1. Kết quả xác định tỉ lệ hỗn hợp enzyme Protamex và Flavouzyme thích
hợp 40
3.2.2. Kết quả xác định tỉ lệ E/S thích hợp 44
3.2.3. Kết quả xác định nhiệt độ thủy phân thích hợp. 48
3.2.4. Kết quả xác định thời gian thủy phân thích hợp 52
3.3. TỐI ƯU CÔNG ĐOẠN THỦY PHÂN CÁ NỤC GAI BẰNG HỖN HỢP
ENZYME PROTAMEX VÀ FLAVOUZYME 56
KẾT LUẬN VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng của cá nục 5
Bảng 2.1. Mức thí nghiệm của các yếu tố 39
Bảng 2.2. Bảng bố trí thí nghiệm ở giá trị biên. 39
Bảng 2.3. Bố trí thí nghiệm ở tâm phương án 39
Bảng 3.1. Thành phần hóa học của cá nục gai 40
Bảng 3.3. Đánh giá chất lượng cảm quan của dịch đạm thủy phân theo tỉ lệ E/S 44
Bảng 3.4. Đánh giá chất lượng cảm quan của dịch đạm thủy phân theo nhiệt độ thủy
phân 48
Bảng 3.5. Đánh giá chất lượng cảm quan của dịch đạm thủy phân theo thời gian
thủy phân 52
thủy phân 50
Hình 3.13. Ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến lượng Naa và lượng Nts trong
dịch thủy phân 53
Hình 3.14. Ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến tỉ lệ Naa/Nts trong dịch thủy
phân 53
Hình 3.15. Ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến hiệu suất thu hồi 54
Hình 3.17. Quy trình sản xuất dịch đạm giàu acid amine từ cá nục gai bằng hỗn hợp
enzyme Protamex và Flavouzyme dự kiến 59
vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 thu và xử lí mẫu 25
Sơ đồ 2.2 bố trí thí nghiệm tổng quát 27
Sơ đồ 2.3 xác định thành phần hóa học của cá nục gai 29
Sơ đồ 2.4 bố trí thí nghiệm thăm dò tỉ lệ hai enzyme Protamex và Flavouzyme 30
Sơ đồ 2.5 bố trí thí nghiệm xác định tỉ lệ enzyme trên cơ chất. 32
Sơ đồ 2.6 bố trí thí nghiệm xác định nhiệt độ thủy phân. 34
Sơ đồ 2.7 bố trí thí nghiệm xác định thời gian thủy phân. 36
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Ý nghĩa
E/S Tỉ lệ enzyme trên cơ chất
gN/l Gam nitơ trên lít
T Giờ
H
2
thực phẩm được ưa chuộng từ trước đến nay chính là thủy sản vì chúng dễ tiêu hóa
và chứa đầy đủ một số loại acid amine cần thiết cho cơ thể. Vùng biển Việt Nam có
rất nhiều các loài thủy hải sản phong phú và giàu dinh dưỡng: tôm, mực, cá, rong
biển Cá nục gai là một loại cá biển có sản lượng thu hoạch hàng năm rất cao, giàu
chất dinh dưỡng nhưng mới chỉ dừng ở các sản phẩm ăn tươi hay phơi khô mà chưa
có hướng tạo chúng thành các chất dễ hấp thụ cho cơ thể và có thể tạo ra sản phẩm
mới ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nữa. Vì thế có thể thủy phân cá nục gai thu
dịch đạm acid amine từ đó có thể ứng dụng bổ sung vào nhiều loại thực phẩm khác
tăng giá trị dinh dưỡng như bánh kẹo, nước mắm, các sản phẩm chức năng…
Xuất phát từ thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của thầy TS. Nguyễn Anh Tuấn em
thực hiện đề tài “Nghiên cứu tìm chế độ thủy phân thích hợp để thu dịch đạm
giàu acid amine từ protein cá nục gai bằng hỗn hợp enzyme Protamex và
Flavouzyme”
Mục tiêu của đề tài: tìm ra được chế độ thích hợp để thủy phân cá nục gai thu dịch
đạm giàu acid amine bằng hỗn hợp enzyme Protamex và Flavouzyme.
Nội dung của đề tài:
- Xác định thành phần hóa học cơ bản của đối tượng cá nục gai.
- Bố trí thí nghiệm tối ưu hóa công đoạn thủy phân trong quy trình thu nhận
dịch đạm giàu acid amine bằng hỗn hợp enzyme Protamex và Flavouzyme,
đề xuất chế độ thủy phân thích hợp.
2
- Thử nghiệm chế độ thủy phân, đánh giá kết quả. Đề xuất quy trình thu nhận
dịch đạm giàu acid amine từ cá nục gai bằng hỗn hợp enzyme Protamex và
Flavouzyme.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài là dẫn liệu khoa học về việc sản xuất dịch đạm thủy
phân từ cá nục gai và mở ra một hướng mới về sử dụng hỗn hợp enzyme thủy phân.
Từ dịch đạm thủy phân có thể ứng dụng bổ sung vào nhiều sản phẩm khác làm tăng
giá trị dinh dưỡng và dễ hấp thụ làm phong phú thêm cho ngành thực phẩm ngày
* Sản lượng khai thác và chế biến cá nục.
+ Trên thế giới, cá nục phân bố rộng khắp chủ yếu ở các vùng biển của Ấn Độ
Dương, từ Đông Phi tới Indonesia và ở phía tây Thái Bình Dương, từ Nhật Bản đến
Úc. Loài này cũng đã được tìm thấy ở đông Địa Trung Hải (Golani 2006). Đây cũng
là một trong những loài cá nổi ven biển phổ biến nhất ở Đông Nam Á như:
Campuchia; Malaysia; Indonesia; Thái Lan; Việt Nam…
+ Cá nục là một loài có tính thương mại cao đối với các nước mà vùng biển loài cá
phân bố nhiều. Loài này là rất quan trọng trong khu vực biển Nam Trung Quốc như
là một nguồn giá rẻ của protein, đặc biệt là cho các nhóm thu nhập thấp.
+ Cá nục chủ yếu được đánh bắt bằng lưới, lưới vây và lưới kéo. Trong 10 năm qua
đã có thống kê toàn cầu của loài này như sau: 1997 – 150,027 tấn, 1998 – 145,747
tấn, 1999 – 162,437 tấn, 2000 – 182,99 tấn, 2001 – 171,701 tấn , 2002 – 195,422
tấn, 2003 – 179,011 tấn, 2004 – 168,625 tấn, 2005 – 167,975 tấn, 2006 – 175,770
tấn, 2007 – 164,016 tấn (FAO – FIGIS 2008). Tổng sản lượng đánh bắt loài này để
báo cáo cho FAO cho năm 1999 là 159863 tấn. Các quốc gia với sản lượng đánh bắt
lớn nhất là Thái Lan (82 000 tấn) và Malaysia (70160 tấn).
+ Các nước trên thế giới thường sử dụng loài cá này ở dạng tươi hoặc có thể được
sấy khô hoặc ướp muối, cũng được bán đông lạnh và đóng hộp…
+ Ở nước ta, vì cá nục có thịt ngon và giàu dinh dưỡng được nhiều người ưa thích.
Các loài cá nục có giá trị kinh tế là cá nục sò (D. maruadasi) sống ở tầng mặt và cá
nục đỏ (D. kurroides), ngoài ra còn có cá nục thuôn (D. lajang). Cá nục thường
4
phân bố ở các vùng biển Trung Bộ, Đông và Tây Nam Bộ, thường bắt gặp cá nục
gai với sản lượng lớn ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh
Hòa…Theo báo thủy sản tỉnh Phú Yên thì ngư trường cá nục chỉ cách xa bờ từ 25
đến 30 hải lý ở vùng biển Tuy An, Phú Yên. Bình quân một đêm đi biển, mỗi tàu
thuyền có thể đánh bắt được từ 1,2 đến 1,8 tấn cá nục, có thuyền đánh bắt được hơn
2,5 tấn. Cá nục đánh bắt được ở đây chủ yếu là cá nục thuôn và cá nục gai. Từ đầu
năm đến nay, đây là lần thứ hai ngư dân ở đây trúng đậm cá nục, đưa sản lượng từ
túi tiền với người có thu nhập từ 1 – 1,5 triệu đồng/tháng.
Bên cạnh đó thì cá nục có thành phần dinh dưỡng rất phong phú đảm bảo cho
sức khỏe con người, cung cấp đầy đủ các acid amine, vitamin và các chất dinh
dưỡng cần thiết cho cơ thể.
Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng của cá nục [23]
Thành phần dinh dưỡng trong 100 g thực phẩm ăn được
Thành phần chính Muối khoáng Vitamin
Năng
lượng
Nước
Protein
Lipid
Tro
Ca
P Fe Na
K A B1 B2 PP C
Kcal
G Mg µg mg
93 76,4 21,3 0,8 1,3 58 216
2,3
mà nó xúc tác, cộng thêm đuôi “ase”.
Tên gọi hệ thống gồm hai phần:
+ Phần thứ nhất là tên gọi cơ chất (nếu phản ứng lưỡng phân thì phần thứ
nhất là tên gọi của hai cơ chất viết cách nhau bằng dấu hai chấm);
+ Phần thứ hai chỉ một cách khái quát bản chất của phản ứng xúc tác.
Ví dụ: tên thông dụng: urease.
tên hệ thống: cacbamit – amidohydrolase.
Dựa vào tính đặc hiệu của phản ứng của enzyme, từ năm 1960 Hội hóa sinh
quốc tế (IUB) đã thống nhất phân loại enzyme thành sáu lớp, đánh số thứ tự từ 1
đến 6. Các thứ tự này là cố định cho mỗi lớp:
1 - Oxydoreductase: các enzyme xúc tác cho phản ứng oxy hóa – khử.
2 - Transpherase: các enzyme xúc tác cho phản ứng chuyển vị.
7
3 - Hydrolase: các enzyme xúc tác cho phản ứng thủy phân.
4 - Liase: các enzyme xúc tác cho phản ứng phân cắt không cần nước, loại
nước tạo thành liên kết đôi hoặc kết hợp phân tử nước vào liên kết đôi.
5 - Isomerase: các enzyme xúc tác cho phản ứng đồng phân hóa.
6 - Ligase: các enzyme xúc tác cho phản ứng tổng hợp có sử dụng liên kết
giàu năng lượng của ATP…
a. Phân loại enzyme.
Việc phân loại enzyme protease có thể dựa vào các tiêu chí: cơ chế phản
ứng của enzyme tham gia, pH tối thích cho hoạt động của enzyme, nguồn thu
protease, và tính đặc hiệu của enzyme.
Theo phân loại quốc tế enzyme protease được chia thành 4 nhóm phụ:
+ Aminopeptidase: enzyme xúc tác sự thủy phân liên kết peptide ở đầu nitơ của
mạch polypeptide.
+ Cacboxypeptidase: xúc tác sự thủy phân liên kết peptide ở đầu cacbon của mạch
polypeptide.
+ Dipeptihydrolase: xúc tác sự thủy phân các dipeptide.
E + S E – S P + E
Phản ứng này không bền, xảy ra nhanh, năng lượng hoạt hóa thấp, các liên kết
yếu tạo thành giữa các enzyme và cơ chất trong phức hợp ES là: tương tác tĩnh điện,
liên kết hydrogen, liên kết Vandecvan.
+ Giai đoạn 2: có sự biến đổi sâu sắc trong chính phức enzyme cơ chất, liên
kết bị kéo căng và bị phá vỡ, lúc này dưới tác dụng của một số nhóm chức trong
trung tâm hoạt động của enzyme làm cho cơ chất từ chỗ không hoạt động trở thành
hoạt động. Giai đoạn này năng lượng hoạt hóa cũng rất thấp.
+ Giai đoạn 3: phức enzyme cơ chất giải phóng sản phẩm, trả lại enzyme ban đầu
P + E E – S
Cả 3 giai đoạn trên năng lượng cần là rất ít so với một phản ứng mà
không có chất xúc tác hoặc dùng chất xúc tác vô cơ [4].
9
4. Tính đặc hiệu của enzyme [14][15]
Tính đặc hiệu của enzyme là một trong những khác biệt chủ yếu giữa
enzyme với các chất xúc tác khác. Mỗi enzyme chỉ có khả năng xúc tác cho sự
chuyển hóa một hay một số chất nhất định theo một kiểu phản ứng nhất định. Sự
tác dụng có tính chọn lọc cao này gọi là tính đặc hiệu.
Tính đặc hiệu này thể hiện:
+ Đặc hiệu kiểu phản ứng: là enzyme chỉ xúc tác cho một kiểu phản ứng nhất
định để chuyển hóa một chất nhất định.
+ Đặc hiệu cơ chất: mỗi enzyme chỉ xúc tác cho sự chuyển hóa một hoặc một số
chất nhất định. Với cơ chất enzyme đòi hỏi 2 mức độ:
- Đặc hiệu cơ chất tuyệt đối: enzyme chỉ xúc tác cho một kiểu liên kết nhất
định và đòi hỏi rất khắt khe các nhóm nguyên tử xung quanh liên kết mà enzyme tác
dụng.
- Đặc hiệu cơ chất tương đối: enzyme chọn một kiểu liên kết để xúc tác
nhưng đòi hỏi không quá khắt khe các nhóm nguyên tử xung quanh liên kết mà
+ Enzyme từ vi sinh vật có hoạt tính cao.
+ Tốc độ sinh sản của vi sinh vật mạnh, trong thời gian ngắn có thể thu được
một lượng sinh khối lớn.
+ Trong quá trình sinh trưởng, phát triển và sinh tổng hợp enzyme của vi sinh
vật không phụ thuộc vào khí hậu bên ngoài.
+ Nguồn nguyên liệu để sản xuất enzyme theo quy mô công nghiệp rẻ tiền, dễ
kiếm.
+ Vi sinh vật có thể tổng hợp cùng một lúc nhiều loại enzyme khác nhau.
+ Một đặc điểm riêng có của vi sinh vật là cơ thể nhỏ bé nên việc vận hành,
kiểm soát thiết bị lên men trong quá trình sản xuất đơn giản hơn nhiều.
* Từ vi sinh vật
11
Nguồn vi sinh vật thu nhận enzyme protease chủ yếu gồm: vi khuẩn, nấm
mốc, xạ khuẩn.
+ Vi khuẩn
Lượng protease sản xuất từ vi khuẩn được ước tính khoảng 500 tấn, chiếm
59% lượng enzyme sử dụng.
Protease của động vật hay thực vật chỉ chứa một trong hai loại
endopeptidase hay exopeptidase, riêng vi khuẩn có khả năng sinh ra hai loại
trên, do đó protease của vi khuẩn có tính đặc hiệu cơ chất cao. Chúng có khả
năng phân hủy tới 80% các liên kết peptid trong phân tử protein.
Trong các chủng vi khuẩn có khả năng tổng hợp mạnh protease là Bacillus
subtilis, Bacillus mesentericus, Bacillus Thermorpoteoliticus, và một số giống
thuộc Clostridium. Trong đó Bacillus subtilis có khả năng tổng hợp protease
mạnh nhất (Nguyễn Trọng Cẩn và cộng sự, 1998). Các vi khuẩn thường tổng
hợp các protease hoạt động thích hợp ở vùng pH trung tính và kiềm yếu (pH 5 –
8) và khả năng chịu nhiệt thấp.
+ Nấm mốc
Nhiều loại nấm mốc có khả năng tổng hợp một lượng lớn protease
công nghiệp sản xuất các chế phẩm enzyme. Tuy nhiên số lượng và chất lượng
enzyme còn ở mức thấp.
Các chế phẩm của enzyme đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau
như :
+ Trong hóa phân tích: dùng để định tính và định lượng các chất.
+ Trong y học: có thể dùng enzyme để chữa bệnh, sản suất các sinh tố và các chất
kháng sinh. Ví dụ: có thể dùng enzyme để tăng thêm lượng enzyme cho cơ thể,
chữa các bệnh thiểu enzyme bẩm sinh hoặc dùng làm các nội quan nhân tạo, dùng
enzyme để chữa các bệnh tiêu hóa kém hoặc để loại bỏ các phần mô bị hỏng, bị thối
ở các ổ viêm, các vết thương hoặc hòa tan các cục máu đông làm tắc nghẽn mạch
13
máu. Ngoài ra cũng có thể dùng enzyme để phân giải thuốc khi cơ thể bị dị ứng với
thuốc.
+ Trong công nghiệp:
Trong công nghiệp xà phòng dùng làm chất tấy rửa dầu mỡ công nghiệp.
Sử dụng enzyme amylase để khử hồ trên vải trong công nghiệp.
Sử dụng protease của Asp – oryzea 33 để khử lông trâu bò trong công nghiệp thuộc
da, cho hiệu suất cao hơn phương pháp vôi sunfua.
Dùng cellulase thủy phân bào mòn màng cellulose để trích ly các chất keo trong
rong biển.
Dùng enzyme để sản xuất bột giấy và giấy
- Ứng dụng trong thực phẩm: chế phẩm enzyme được sử dụng rất rộng rãi trong
công nghiệp thực phẩm.
- Trong công nghiệp chế biến thịt: protease được dùng làm mềm thịt nhờ sự thủy
phân protein trong thịt.
- Trong chế biến thủy sản, chế biến nước mắm ngắn ngày rút ngắn thời gian chế
biến và nâng cao hiệu quả kinh tế.
- Trong công nghiệp sữa: protease được dùng trong sản xuất phomat nhờ tác dụng
làm đông tụ sữa.
1.2.3. Các phương pháp thủy phân
1. Thủy phân hóa học
Thủy phân hóa học là phương pháp cổ điển. Thủy phân có thể thực hiện
trong môi trường acid (HCl hoặc H
2
SO
4
) hoặc trong môi trường kiềm (NaOH).
Điều kiện thủy phân khá tốn kém: nhiệt độ cao (100
0
C) và thường là trong môi
trường áp suất thấp. Thủy phân bằng acid có bất lợi là phá hủy một phần acid amin
và đặc biệt là trytophane.
Thủy phân trong môi trường kiềm bằng xút sẽ phá hủy cystein, cystine, arginin và
methionin. Đặc biệt, thủy phân trong môi trường kiềm là nguyên nhân gây ra sự
biến đổi L – axit amin thành D – axit amin con người không thể hấp thụ được, điều
này làm giảm giá trị dinh dưỡng của sản phẩm.
2. Phản ứng thủy phân protein bằng enzyme protease [11][14]
15
Thủy phân bằng enzyme có thuận lợi là dễ kiểm tra hơn thủy phân hóa học,
cho phép giữ giá trị dinh dưỡng của nguyên liệu ban đầu và không cần xử lí hóa học
để loại bỏ các tác nhân thủy phân sau khi thủy phân (enzyme dễ dàng bị bất hoạt bởi
nhiệt độ tương đối). Ngoài ra, enzyme có hoạt lực xúc tác cao gấp hàng trăm hàng
ngàn lần so với các chất xúc tác vô cơ thông thường khác.
Protein là một chuỗi polymer dài, mà bao gồm các nhóm amino gắn với nhau
bởi các liên kết peptide. Phản ứng liên quan đến việc phá vỡ chuỗi các nhóm amino
này thành các mạch, nhánh nhỏ hơn sử dụng nước được gọi là sự thủy phân protein.
O
R
1
R
2
R
n
H
2
N – CH – COOH + H
2
N – CH – COOH + … + H
2
N
– CH – COOH
R
1
R
2
R
n
Enzyme
16
tích điện dương tạo nên. Người ta gọi liên kết này là: “liên kết nhị dương”. Enzyme
sẽ tấn công vào các liên kết nhị dương. Nhờ các liên kết nhị dương bị cắt đứt mà
tác được đặc trưng bằng hệ số:
17
Q
10
=
k
k
t 10
Với k
t
: Hằng số tốc độ phản ứng tại nhiệt độ t
k
t+10
: Hằng số tốc độ phản ứng tại nhiệt độ t + 10
0
C
Người ta đã xác định được hệ số Q
10
của các loại enzyme trong cơ thể cá trong
khoảng từ 2 – 3, cá biệt có thể lên đến 7 như phản ứng Hemoglobin trong máu cá.
Vùng nhiệt độ tạo cho enzyme có hoạt độ cao nhất gọi là vùng nhiệt độ thích
hợp của enzyme, trong đó có một giá trị nhiệt độ mà ở đó, tốc độ enzyme đạt cực
đại gọi là nhiệt độ tối thích. Với đa số enzyme, vùng nhiệt độ thích hợp trong
khoảng 40 – 50
0
C. Nhiệt độ làm cho enzyme mất hoàn toàn hoạt tính gọi là nhiệt độ
tới hạn, đa số enzyme có nhiệt độ tới hạn khoảng 70
0
hoặc nâu đen tùy chất lượng ban đầu.
Sản phẩm thủy phân có thể được thực hiện bằng chính enzyme nội tại hoặc
bổ sung enzyme từ ngoài vào. Sản phẩm của quá trình thủy phân bao gồm: dịch
đạm thủy phân, bột đạm thủy phân, lipid, bột khoáng. Hiện nay, dịch đạm được ứng
dụng trong nhiều lĩnh vực:
Trong y dược: dùng sản xuất môi trường dinh dưỡng nuôi vi sinh vật, sản
xuất huyết thanh miễn dịch. Sản xuất dịch đạm truyền cho người bệnh suy kiệt,
người không tự ăn uống được, người bị chấn thương nặng, bệnh nhân phải phẫu
thuật lớn. Trong hương liệu mỹ phẩm, người ta trộn một lượng nhỏ enzyme
protease vào kem thoa, kem cạo râu, dầu gội, dầu bôi tóc…làm cho da, tóc mềm
mại, tẩy bỏ dễ dàng lớp tế bào già.
Dịch đạm thủy phân có ứng dụng rất rộng rãi trong sản xuất thực phẩm thông
thường cũng như thực phẩm chức năng. Và có thể bổ sung vào quá trình làm nước
mắm do có hàm lượng acid amine cao, làm tăng độ đạm của nước mắm. Ngoài ra
cũng có thể dùng trong sản xuất nước mắm công nghiệp khi thêm hương vị của
nước mắm, rút ngắn thời gian sản xuất mà hàm lượng đạm acid amine trong đó lại
cao. Bên cạnh đó có thể bổ sung vào chao, bánh kẹo…
Trong nông nghiệp: dùng làm phân bón cải tạo đất…