BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
TRƯƠNG THẠCH
NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ THỦY PHÂN CÁ CƠM BẰNG SỰ
KẾT HỢP ENZYME PROTAMEX VÀ FLAVOURZYME ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên Ngành: CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY SẢN
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ MỸ HƯƠNG
Nha Trang, ngày….tháng 06 năm 2013
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
(kí và ghi rõ họ tên)
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực học tập, rèn luyện của bản
thân, tôi đã nhận được giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể. Qua đây tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn chân thành nhất đến:
Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nha Trang
Ban chủ nhiệm Khoa Công Nghệ Thực Phẩm
Cô TS.Nguyễn Thị Mỹ Hương người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo những
kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài.
Quý thầy cô quản lý phòng thí nghiệm công nghệ chế biến, hóa sinh - vi sinh,
công nghệ thực phẩm, công nghệ lạnh và công nghệ sinh học đã tạo điều kiện cho
tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên,
khích lệ và giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn
thành đồ án tốt nghiệp này.
Sinh viên
TRƯƠNG THẠCH
ii
iii
2.1.1. Nguyên liệu cá cơm 19
2.1.2 Enzyme Protamex 20
2.1.3 Enzyme Flavourzyme 20
2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định các thông số cho quá trình thủy phân 20
2.2.1 Xác định thành phần hóa học của cá cơm. 20
2.2.2 Sơ đồ quy trình dự kiến sản xuất sản phẩm thủy phân từ cá cơm. 22
2.2.3 Bố trí thí nghiệm xác định các thông số thích hợp cho quá trình thủy 23
2.2.3.1. Bố trí thí nghiệm xác đinh tỉ lệ enzyme protamex thích hợp cho quá
trình thủy phân. 23
2.2.3.2 Bố trí thí nghiệm xác định nhiệt độ thủy phân thích hợp cho enzyme
Protamex trong quá trình thủy phân 25
2.2.3.3 Bố trí thí nghiệm xác định nhiệt độ thủy phân thích hợp cho enzyme
protamex trong quá trình thủy phân. 27
2.2.3.4. Sơ đố bố trí thí nghiệm xác đinh tỉ lệ enzyme Flavourzyme thích hợp
cho quá trình thủy phân 29
2.2.3.5 Bố trí thí nghiệm xác định nhiệt độ thủy phân thích hợp đối với
enzyme Flavourzyme cho quá trình thủy phân. 31
2.2.3.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định thời gian thủy phân thích hợp đối
với enzyme Flavourzyme cho quá trình thủy phân. 33
2.3 Phương pháp nguyên cứu 35
2.3.1 Phương pháp phân tích: 35
2.3.2 Phương pháp xử lí số liệu 36
CHƯƠNG 3: 37
KẾT QUẢ NGUYÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Kết quả xác định thành phần hóa học nguyên liệu cá cơm 37
3.2 Kết quả xác định các thông số kỹ thuật tối ưu cho quá tình thủy phân cá cơm.
37
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮC
NL : Nguyên liệu
N
NH3
: Đạm amoniac
N
TS
: Đạm tổng số
Na.a : Đạm acid amin
N
F
:
Đam fomol
g : gam
gN : gam nitơ
g/l : Gam trên lit
H
2
O
2
: Oxy già
% : Phần trăm
ml : mililit
l : lit
V/P : vòng trên phút
43
Hình 3.8 Ảnh hưởng của thời gian thủy phân enzyme Protamex đến hàm lượng Nito acid
amin 44
vii
Hình 3.9 Ảnh hưởng của thời gian thủy phân enzyme Protamex đến hàm lượng Nito
amoniac 45
Hình 3.10 Ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme Flavourzyme đến hiệu suất thu hồi nito. 46
Hình 3.11 Ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme Flavourzyme đến hàm lượng nito acid amin 47
Hình 3.12 Ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme Flavourzyme đến hàm lượng nito ammoniac trong
dịch thủy phân 48
Hình 3.13 Ảnh hưởng của nhiệt độ thủy phân enzyme Flavourzyme đến hiệu suất thu hồi
nito 49
Hình 3.14 Ảnh hưởng của nhiệt độ thủy phân enzyme Flavourzyme đến hàm lượng nito
acid amin 50
Hình 3.15 Ảnh hưởng của nhiệt độ thủy phân enzyme Flavourzyme đến hàm lượng nito
amoniac 51
Hình 3.16 Ảnh hưởng của thời gian thủy phân enzyme đến hiệu suất thu hồi nito 52
Hình 3.17 Ảnh hưởng của thời gian thủy phân enzyme Flavourzyme đến hàm lượng nito
acid amin 53
Hình 3.18 Ảnh hưởng của thời gian thủy phân enzyme Flavourzyme đến hàm lượng nito
amoniac 54
Hình 3.19 Sơ đồ quy trình sản xuất các sản phẩm thủy phân từ cá cơm 56
Hình 3.20 Khối lượng các sản phẩm thu thủy phân thu được từ 1(kg) NL 58
Hình 3.21 Dịch đạm thủy phân protein từ cá cơm 59
Hình 3.22 Bột đạm không hòa tan 61
Hình 3.23 Bột khoáng 61
liệu, hơn nữa hiện nay quá trình sản xuất nước mắm ở nước ta chủ yếu là sản xuất
theo phương pháp thủ công cho nên thời gian sản xuất dài dẫn tới hiệu quả kinh tế
mà cá cơm mang lại chưa thật sự cao, trong thời gian gần đây một số cơ sở sản xuất
nước mắm đã dần chuyển sang sản xuất nước mắm công nghiệp cho nên việc sản
xuất ra sản phẩm dịch đạm thủy phân proteinvà bột đạm thủy phân có hàm lượng
acid amin cao phục vụ cho quá trình sản xuất nước chấm và các mục đích khác là
hết sức cần thiết, từ đó nâng cao được giá trị kinh tế cho cá cơm. Chính vì vậy mà
tôi đã thực hiện đề tài: Nghiên cứu chế độ thủy phân cá cơm bằng sự kết hợp
enzyme Protamex và Flavourzyme
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về nguyên liệu
1.1.1 Giới thiệu chung về nguyên liệu cá cơm
Cá cơm có tên khoa học là stolephorus thuộc dòng họ cá trống
Engraulidae, bao gồm 16 giống và 130 loài khác nhau, ở Việt Nam có các loài
cá cơm theo tiếng địa phương gồm: cá cơm than, cá cơm đỏ, cá cơm sọc tiêu, cá
3
- Sản lượng cá cơm có năm lên tới hàng trăm nghìn tấn, chủ yếu là dùng
làm nguyên liệu làm nước mắm và cá khô.
1.1.2 Tình hình khai thác và sản lượng cá cơm
Theo báo cáo của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 5 tháng đầu năm
tổng sản lượng xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 2.067,2 ngàn tấn, tăng 3,9%
so với cùng kì năm ngoái. Về khai thác thủy sản, sản lượng thuỷ sản khai thác 5
tháng đầu năm ước tính đạt 1.051 ngàn tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm 2011;
riêng khai thác biển 5 tháng ước đạt 986 ngàn tấn, tăng 3,2 % so với năm 2011.
Trong đó, sản lượng cá cơm và cá nục chiếm khoảng 60% tổng sản lượng khai
thác (591,6 ngàn tấn).
1.1.3 Một số loại cá Cơm:
* Cá Cơm Ấn Độ:
Tên khoa học: Stolephorus indicus
Tên tiếng việt: Cá Cơm Ấn Độ
Tên tiếng Anh: Indian anchovy Hình 1.1 Cá cơm ấn độ
Phân bố: Đông Phi, Ấn Độ, Malaixia, Iđônêxia, Trung Qốc, Việt Nam
Đặc điểm hình thái: Thân dài hình trụ, hơi dẹp bên. Đầu tương đối dài. Mõm tù.
Chiều dài thân gấp 4,9 - 5,3 lần chiều cao thân và 4,0 - 4,9 lần chiều dài đầu.
Mắt tương đối to, không có màng mỡ mắt, khoảng cách hai mắt rộng, hơi gồ lên.
Phía sau cùng của xương hàm trên dài đến khe mang. Trên hàm, xương lá mía,
xương khẩu cái đều có răng nhỏ. Khe mang rộng, lược mang nhiều, mang giả
phát triển. Vẩy tròn, dễ rụng. Có một vây lưng tương đối to, khởi điểm nằm
ngang bằng với điểm giữa của khoảng cách từ vây bụng đến vây hậu môn. Vây
ngực to. Vây bụng nhỏ. Thân màu trắng, bên thân có một sọc dài màu trắng bạc,
trên đầu có một chấm màu xanh lục. Vây lưng và vây đuôi màu xanh lục, các
vây màu trắng.
Tên khoa học: Stolephorus chinensis
Tên tiếng việt: Cá Cơm Trung Hoa
Tên tiếng Anh: Chinese anchovy Hình 1.4 Cá cơm trung hoa
Phân bố: Trung Quốc, vịnh Bắc Bộ của Việt Nam
Đặc điểm hình thái: Thân dài, hình trụ, hơi dẹp bên. Đầu tương đối nhỏ. Mõm
ngắn, hơi nhọn. Mắt rất to, không có màng. Khoảng cách hai mắt rộng, hơi gồ
5
lên. Lỗ mũi rộng ở giữa viền trước mắt với mút mõm. Miệng rộng, ở phía dưới,
xiên. Trên 2 hàm đều có răng. Khe mang rất rộng. Xương nắp mang mỏng và
trơn liền. Màng nắp mang hơi dính liền nhau. Lược mang dài và tương đối
nhiều. Có mang giả.
1.1.4. Thành phần hóa học của cá Cơm thường:
Bảng 1.1: Thành phần hóa học của cá cơm thường[30] :
Các loại axitamin của cá cơm bình thường:
Bảng 1.2 Bảng thành phần các loại acid amin của cá cơm thường[30]
STT Thành phần Cá tươi
1 Độ ẩm(%) 74,22
1.2. Tổng quan về enzyme Proteaza và sự thủy phân của enzyme proteaza
1.2.1 Protease và cơ chế phản ứng thủy phân:
Proteaza là enzyme xúc tác sự thuỷ phân các liên kết peptit (- CO – NH-)
trong phân tử Protein và các cơ chất tương tự.
H
2
N- CH – CO – NH – CH – CO - … - NH – CH - COOH H
2
N- CH – COOH + H
2
N– CH – CO … NH – CH - COOH Cơ chế:
Endopeptidase
HO H HO H
H
2
N-CH-CO-NH-CH….NH-CH-CO-NH-CH-CO-NH-CH-CO-NH-CH-COOH
R
1
R
2
R
3
R
R
1
R
2 R
X
7
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thủy phân protein bằng
enzyme protease
Ảnh hưởng của nồng độ enzyme: Khi nồng độ enzyme thấp, lượng cơ chất
lớn, vận tốc thuỷ phân phụ thuộc tuyến tính vào nồng độ enzyme. Khi nồng độ
enzyme tăng, tốc độ phản ứng thuỷ phân tăng đến một giá trị giới hạn v = v
max
thì nếu nồng độ enzyme tiếp tục tăng, tốc độ phản ứng thuỷ phân bởi enzyme
tăng không đáng kể, thậm chí không tăng.
Ảnh hưởng của nồng độ cơ chất: Nồng độ cơ chất có ảnh hưởng lớn tới tốc
độ phản ứng thuỷ phân, khi càng tăng nồng độ cơ chất, tốc độ phản ứng thủy
phân càng tăng, nhưng khi tốc độ phản ứng thuỷ phân đạt đến giới hạn v = v
max
,
nếu tiếp tục tăng nồng độ cơ chất, vận tốc phản ứng thuỷ phân hầu như không tăng.
8
Người ta đã xác định được hệ số Q
10
của các loại enzyme trong cơ thể cá
trong khoảng từ 2 – 3, cá biệt có thể lên đến 7 như phản ứng Hemoglobin trong
máu cá.
Vùng nhiệt độ tạo cho enzym có hoạt độ cao nhất gọi là vùng nhiệt độ thích
hợp của enzyme, trong đó có một giá trị nhiệt độ mà ở đó, tốc độ enzyme đạt
cực đại gọi là nhiệt độ tối thích. Với đa số enzyme, vùng nhiệt độ thích hợp
trong khoảng 40 - 50
0
C. Nhiệt độ làm cho enzyme mất hoàn toàn hoạt tính gọi là
nhiệt độ tới hạn, đa số enzyme có nhiệt độ tới hạn khoảng 70
0
C; với các enzyme
bền nhiệt (bromelin, papin…), nhiệt độ tới hạn có thể cao hơn. Nhiệt độ thích
hợp đối với một enzyme có sự thay đổ khi có sự thay đổi về pH, nồng độ cơ
chất…
Ảnh huởng của pH: pH có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt tính của enzyme
vì pH ảnh hưởng đến mức độ ion hoá cơ chất, ion hoá enzyme và đến độ bền của
protein enzyme. Đa số enzyme có khoảng pH thích hợp từ 5 – 9. Với nhiều
proteaza, pH thích hợp ở vùng trung tính nhưng cũng có một số proteaza có pH
thích hợp trong vùng acid (pepxin, proteaza-acid của vi sinh vật…) hoặc nằm
trong vùng kiềm (tripsin, subtilin,…). Với từng enzyme, giá trị pH thích hợp có
có thể thay đổi khi nhiệt độ, loại cơ chất… thay đổi.
Ảnh hưởng của thời gian thủy phân: Thời gian thủy phân cần thích hợp để
enzyme phân cắt các liên kết trong cơ chất, tạo thành các sản phẩm cần thiết của
quá trình thuỷ phân nhằm đảm bảo hiệu suất thuỷ phân cao, chất lượng sản
Hoạt động thích hợp trong khoản pH = 5,7-7,0
Nhiệt độ: 50-57
0
C
Bromelain:
Bromelain là một Cystein protease, bromelain có trong toàn bộ cây dứa,
nhưng nhiều nhất là trong quả dứa. Bromelain thuộc nhóm endoprotease có khả
năng phân cắt các liên kết peptid nội phân tử protein để chuyển phân tử protein
thành các peptid. Bromelain ở dạng tinh khiết thì nhạy với nhiệt độ: ở 5
0
C, pH =
4-10, bromelain có hoạt tính tối đa trên Casein sửa trong 24 giờ; ở 55
0
C, pH = 6
trong 20 phút hoạt tính giảm 20%
Biên độ pH cho sự hoạt động của bromelain là khá rộng, từ 3-10, nhưng pH
tối ưu thường nằm trong khoản 5-8 tùy vào cơ chất.
Ficin:
Ficin là một protese được tìm thấy trong dịch nhựa của những cây thuộc
giống Ficus. Các cây thuộc giống Ficus có tên gọi thông thường là Sung, Vải, họ
Moraceae, bộ Urticales. Nhiệt độ để Ficin có hoạt tính 30 – 80
0
C. Nhiệt độ tối
thích 50 - 65
0
C. Ficin không tan trong hầu hết các dung môi hữu cơ, nhưng tan
một phần trong nước hoặc glycerin.
bằng enzyme proteaza
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về sự thủy phân protein bằng
enzyme
- Chae (1998), sử dụng kết hợp 3 enzyme Neutrase, Alcalase và
Flavourzyme để thủy phân protein sẽ cho độ thủy phân cao hơn khi sử dụng kết
hợp hai enzymeAlcalase và Flavourzyme. Theo tác giả này, độ thủy phân đạt cao
nhất khi sử dụngkết hợp 3 enzyme là 51% trong khi đó giá trị DH chỉ đạt 47 %
khi sử dụng hai enzyme [12].
11
- Guerard và cộng sự (2001) đã nghiên cứu về thủy phân bao tử cá ngừ
bằngenzyme Alcalase với các thông số sau: nhiệt độ 50
0
C, pH = 8, thời gian 5,5
giờ. Kết quả nghiên cứu cho thấy sản phẩm này dùng làm chất bổ sung nitơ cho
môi trường nuôi cấy vi sinh vật có kết quả tốt như những pepton công nghiệp
dùng nuôi cấy vi sinh vật [13].
- Liaset và cộng sự (2002) đã nghiên cứu thu hồi nitơ từ xương cá hồi
Atlantic từ quá trình thủy phân bằng enzyme Protamex. Xương cá hồi được xay
nhỏ và thủy phân với điều kiện tỷ lệ nguyên liệu/nước là 1,16 : 1, tỷ lệ
enzyme/cơ chất là 90 AU Kg -1, pH là 6,5 và nhiệt độ nghiên cứu từ 35
0
C đến
70
0
C. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi thủy phân ở chế độ đó thì hiệu suất thu
hồi nitơ tăng theo nhiệt độ, đạt cao nhất tại 50
0
dinh dưỡng của sản phẩm thủy phân đầu cá hồi đỏ. [24].
- Sathivel và cộng tác viên (2005) khi thủy phân đầu cá hồi bằng enzyme
Alcalase (0,5%) ở nhiệt độ 50
0
C, trong thời gian 75 phút thì thu được bột protein
thuỷ phân có rất nhiều các thành phần axít amin trong đó hàm lượng
Isoleucine(3,71g/100g protein), Phenylalanine (4,07g/100g protein), hàm lượng
Leucine(6,69g/100g protein),và Lysine (7,39g/100g protein). Tổng số axít amin
là 98,74g/100g protein[25].
- Slizyté và cộng sự (2005) khi nghiên cứu quá trình thủy phân nội tạng cá
Tuyết bằng enzyme Neutrase với tỷ lệ 0,3%, thời gian thủy phân 1h, ở nhiệt độ
50
0
C thì thu được bột protein thủy phân có hàm lượng ẩm 3,9%; protein thô
83,5%; lipid 3,0%; tro 12,4%Lian và cộng sự (2005) nghiên cứu tối ưu hóa quá
trình thủy phân phế liệu mực bằng enzyme Flavourzyme và Protamex. Kết quả
nghiên cứu cho thấy với nhiệt độ 50
0
C, thời gian thủy phân 6 giờ thì hàm lượng
axít amin tự do của sản phẩm thủy phân đạt cao nhất 24,8% so với mẫu đối
chứng 8,2% [24].
- Sylla và các cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ nước đến quá
trình thủy phân phế liệu cá bơn. Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của 4 tỷ lệ
nước khác nhau (10%, 25%, 50% và 100% so với nguyên liệu) đến quá trình
thủy phân bằng enzyme Protamex được so sánh. Quá trình thủy phân được thực
hiện ở pH = 6, nhiệt độ 400C, thời gian thủy phân là 6h
- Ovissipour và cộng sự (2009) đã nghiên cứu: “Tối ưu hóa sự thủy phân
phế liệu cá tầm Beluga Huso bằng enzyme Alcalase”. Kết quả nghiên cứu đã
xác định được các điều kiện tối ưu là: 50°C, 120 phút. Chế độ thủy phân này cho
sản phẩm thủy phân có hàm lượng protein tương đối cao (66,43%) và lipid thấp
kg protein, pH tự nhiên của bản thân nguyên liệu, nhiệt độ 50°C, và thời gian 60
phút. Với các thông số thich hợp này thì sản phẩm thuỷ phân thu được có độ
thủy phân (DH) 35%, sản phẩm thủy phân có hàm lượng protein cao 74,56% và
hàm lượng lipid thấp 1,86% và được sử dụng làm thức ăn trong nuôi trồng thủy
sản [19].
- Nguyên và cộng sự (2011) đã nghiên cứu sự thủy phân phế liệu cá ngừ
bằng enzyme Protamex và đặc tính sinh hóa của sản phẩm thủy phân”. Sự thủy
14
phân đầu, nội tạng, đuôi cá ngừ được thực hiện ở nhiệt độ 45
0
C, tỷ lệ
nước/nguyên liệu = 1/1, tỉ lệ enzyme 0,1%, pH tự nhiên, thời gian 12h. Kết quả
nghiên cứu đã cho thấy độ thủy phân của đầu, nội tạng và đuôi lần lượt là 32,3%,
16,8% và 22,2%. Hiệu suất thu hồi nitơ trong sản phẩm thủy phân từ đầu, nội tạng
và đuôi lần lượt là 73,6%, 82,7%, 85,8% [21].
- Herpandi và công sự (2012) đã nghiên cứu sự thuỷ phân cá ngừ vằn
bằng các proteaza: Alcalase, Protamex, Neutrase và Flavourzyme với tỷ lệ
enzyme là 0,5, 1, 1,5 và 2% so với khối lượng của nguyên liệu trong thời gian
cho 60, 120, 180 và 240 phút. Kết quả cho thấy thời gian dài với tỷ lệ enzyme
cao đã làm tăng độ thủy phân. Alcalase cho độ thủy phân cao nhất trong số tất cả
các proteaza, tiếp theo là Protamex, Flavourzyme và Neutrase [15]
- Vanessa và cộng sự (2012) đã nghiên cứu về tối ưu hóa sự thủy phân thịt
vẹm bằng enzyme. Thịt vẹm đã được thủy phân bằng cách sử dụng Protamex.
Các điều kiện tối ưu cho sự thủy phân thịt vẹm là pH = 6,85, nhiệt độ 510C, và
tỷ lệ enzyme so với nguyên liệu là 4,5%. Dưới những điều kiện này độ thủy
phân là 26,5% và hiệu suất thu hồi protein 65% [26].
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về sự thủy phân protein bằng
vực thực phẩm, đặc biệt dùng làm chất bổ sung canxi cho thực phẩm con người,
cần có nhiều nghiên cứu sâu hơn về quy trình tinh chế và sản xuất bột xương,
đồng thời giá trị sinh học canxi của bột xương cũng cần được nghiên cứu nhằm
xác định rõ giá trị, chất lượng của sản phẩm, từ đó xác định giới hạn khả năng
ứng dụng của sản phẩm thu được. [8].
- Vũ Ngọc Bội (2004) đã phân lập tuyển chọn, tối ưu hóa môi trường nuôi
cấy và thu nhận chế phẩm proteaza từ chủng B.Subtilis S
5
. Chế phẩm proteaza
thu được từ chủng này, hoạt động tối thích ở nhiệt độ 55
0
C; pH = 6 – 6,5. Khi
nghiên cứu thử nghiệm thủy phân protein thịt các cơm bằng enzyme proteaza từ
chủng này trong chế biến nước mắm với tỷ lệ chế phẩm 0,2% so với cá, sau 6
giờ thủy phân mới cho muối lần đầu là 5% so với cá, phơi nắng đánh đảo và cứ
6 giờ lại cho thêm 5% muối cho đến khi đủ 25% muối. Kết quả thí nghiệm và so
sánh cho thấy mẫu thí nghiệm có thời gian thủy phân ngắn hơn,, hàm lượng,
thành phần các axit amin cao hơn và lượng nước cốt rút ra được cao gấp 1,18 lần
so với mẫu đối chứng được sản xuất theo phương pháp truyền thống. Đặc biệt,
có thể sử dụng chế phẩm proteaza từ chủng này để rút ngắn thời gian thủy phân
thịt cá tốt hơn so với một số proteaza đã được thử nghiệm khác. [1].