0
Lời cảm ơn
ời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm khoa
Nuôi Trồng Thuỷ Sản và quý thầy cô đã dạy dỗ tôi trong suốt thời gian
tôi học ở trường .
Xin cảm ơn thầy giáo Tiến Só Nguyễn Đình Mão và Kó Sư Đoàn Văn Tùng
(GĐ công ty TNHH Thuỷ Sản Hoàn Vũ ), là những người trực tiếp hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài này .
Xin cảm ơn tất cả các bạn bè và anh chò em công nhân của công ty TNHH
Hoàn Vũ. Đã động viên và luôn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
này.
Chính nhờ sự giúp đỡ này mà tôi đã hoàn thành đợt thực tập của mình một
cách thành công tốt đẹp. Tôi xin chân thành ghi nhận tất cả sự giúp đỡ nhiệt tình
trên và qua đây tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất .
Nha Trang, Ngày10 Tháng11 Năm 2005
Sinh viên thực hiện.
TRỊNH VĂN DỰ
L
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
1
- Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài “ Ảnh hưởng của thức ăn Cyclop-
eeze và Ez-larva giàu HUFA lên tỷ lệ sống và sự sinh trưởng của ấu trùng
cua Xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn Zoea trong sản xuất giống tại
Ninh Thuận” được chúng tôi đề xuất thực hiện, với các nội dung chính sau:
Thử nghiệm thay thế thức ăn cho ấu trùng cua xanh giai đoan Zoea hiện
sử dụng bằng các loại thức ăn giàu HUFA khác nhau:
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn giàu HUFA là Cyclop – eeze đông
khô(Freeze – Dried grade # 0) lên tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng Zoea,
khi thay thế một phần hoặc hoàn toàn một trong những loại thức ăn tươi sống và
chế biến hiện đang sử dụng.
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn (Ez – Larva) dạng lỏng giàu HUFA
lên tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng Zoea, khi thay thế một phần hoặc hoàn
toàn một trong những loại thức ăn tươi sống và chế biến hiện đang sử dụng.
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn giàu HUFA là Cyclop – Eeze đông
khô (Freeze – Dried Grade # 0) và ( Ez – Larva) dạng lỏng giàu HUFA lên tỷ lệ
sống và sinh trưởng của ấu trùng Zoea, khi thay thế một phần hoặc hoàn toàn
một trong những loại thức ăn tươi sống và chế biến hiện đang sử dụng.
+ So sánh tỷ lệ sống và thời gian biến thái sinh học của ấu trùng khi sử dụng
các loại thức ăn khác nhau.
+ Kết luận và đề suất ý kiến.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
3
PHẦN I– TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN
CỨU CUA XANH (SCYLLA PARAMAMOSAIN)
TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC.
Cua Xanh (Scylla paramamosain) là loài có kích thước lớn, được coi là loài
Hình 1: Đặc điểm hình thái ngoài của một số loài cua
Ở Việt Nam, cua Xanh phân bố rất rộng, tuỳ theo từng đòa phương người ta
gọi tên khác nhau như: Cua Xanh, cua Biển, cua Bùn, cua Chuối, cua Lửa, cua
Sú… Hệ thống phân loại cuả đối tượng như sau:
Ngành: Arthropoda.
Lớp: Crustacea.
Lớp phụ: Malacostraca.
Bộ: Decapoda.
Họ: Portanidea.
Giống: Scylla.
Loài: Scylla paramamosain.
XS.
S. paramamosainS. tranquebarica
Mô tả về hoạt động giao vó và đẻ trứng: Sự bắt cặp giao vó xảy ra vài giờ
trước khi con cái lột xác để giao vó, sự giao vó thực sự xảy ra khi con cái vừa mới
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
6
lột xác xong. Sau khi giao vó tinh trùng được lưu giữ lại trong túi chứa tinh của
con cái để thụ tinh sau này( Ông K.S 1964 – 1966). Hoạt động giao vó và đẻ
trứng xảy ra quanh năm nhưng diễn ra mạnh nhất vào mùa xuân trừ những tháng
có nhiệt độ dưới 22
o
C (M.P Heasman, D.R . Fielder, R.K. Shepherd, 1985). Sử
dụng màu sắc và kích thước của tuyến sinh dục làm chỉ tiêu đánh giá mức độ
thành thục tinh dục, giá trò chỉ số thành thục được tính theo công thức sau:
GSI = (Trọng lượng buồng trứng/ Trọng lượng toàn thân) x 100%.
Khi có trên 50% số cá thể có trong mẫu được kiểm tra có tuyến sinh dục
thành thục thì kích thước tương ứng được xem như là kích thước thành thục của
loài ( Norman J. Quin, Barnara L. Kojis 1978).
Xác đònh khả năng chòu đựng về độ mặn và nhiệt độ của ấu trùng cua Xanh
giai đoạn Zoea, một số công trình nghiên cứu cho rằng: Ở nhiệt độ trên 25
0
C và
độ muối dưới 17‰ là nguyên nhân chính gây ra sự chết hàng loạt của ấu trùng
cua Xanh. Vì vậy, ấu trùng Zoea không thích hợp sống ở điều kiện vùng cửa
sông. Kết qủa nghiên cứu của Hill 1974 cho thấy: Ở nhiệt độ dưới 10
0
C, ấu trùng
không hoạt động, vì vậy 10
0
C có thể được coi là giới hạn nhiệt độ thấp nhất. Dựa
trên các kết quả nghiên cứu. Chen H.C… Jeng K.H… 1980, Thạch 1998 nhận đònh:
Hình 2: Vòng đời của cua Xanh Scylla paramamosain.
Bảng 1: Các chỉ tiêu hình thái bên ngoài để phân biệt các giai đoạn Zoea.
Cua c
á
i th
à
nh
thucth
ụ
c
Cua con
trứng
Zoea1
Zoea1
Zoea1
Cua 1
Zoea5
Megalope
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Hình thành mầm chân bụng, cuống mắt đã phân đôi.
Kết thúc giai đoạn Z4 từ 3-4 ngày Chân bụng phát triển chẻ đôi thành hai, mép ngoài
chân bụng có lông tơ . kết thúc giai đoạn Z5 từ 3-4
ngày
1,25
1,53
1,93 2,75 3,67 · Giai đoạn Megalope: Thời gian kết thúc giai đoạn Megalope là từ 7-12
ngày.
Đặc điểm hình thái của giai đoạn Megalope: Bơi lội rất nhanh nhẹn, đôi
chân bò biến thành đôi càng to khoẻ và có khả năng chủ động tấn công con mồi.
Ba đôi chân bò kế tiếp có hình thành móng vuốt, đôi chân bò thứ 5 hình thành
mái chèo nhưng chưa hoàn chỉnh, phần bụng có xu hướng thoái hoá dần và gập
lại mặt bụng của phần giáp đầu ngực. Megalope có thể bò trên nền đáy hoặc
bám vào các vật thể trong nước. Megalope bắt mồi tích cực, ăn ấu trùng Artemia,
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
30 ngày, tỷ lệ sống của các giai đoạn Zoea đạt từ 1-4% (Heasman, M.P và
Fielder, D.R 1983).
- Tuy những kết quả nghiên cứu của các tác giả nói trên đã miêu tả các đặc
điểm sinh học sinh sản, kỹ thuật cho đẻ, ương nuôi các giai đoạn ấu trùng, thức
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
10
ăn, nhiệt độ nước, độ muối, chất lượng nước, ảnh hưởng của thuốc kháng sinh…
đến đối tượng nghiên cứu. Những sự miêu tả đó có tính chất khái quát để áp
dụng vào sản xuất đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể chi tiết phù hợp với
từng điều kiện sinh thái của từng vùng đòa lý và từng thuỷ vực.
4. Môi trường sống:
- Cua Xanh sống thích nghi ở môi trường rừng đước ngập mặn. Vùng cửa
sông, đầm phá, các nơi đó có chất đáy là bùn cát, bùn pha đất sét thích hợp cho
việc đào hang, sống vùi mình trong bùn vì thế người ta gọi cua Xanh là cua bùn.
Một số loài trong giống cua Xanh thích nghi sống dọc bờ biển. Nơi có mức thuỷ
triều lên xuống nhưng ở độ muối cao và ổn đònh như loài S. Serrata (Clive P.
Keenan, 1999). Các loài còn lại sống ở những vùng cửa sông, rừng ngập mặn,
nơi có độ muối thay đổi (Clive P. Keenan, 1999).
5. Phân bố:
- Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Clive P. Keenan, Peter J.F,
Davie, David L. Mann(1998) cua Xanh phân bố ở vùng biển Ấn Độ-Tây Thái
Bình Dương, biển Ấn Độ Dương, biển Đỏ, Vònh Rchard, Nam Phi, Đông và Tây
Úc, biển Arafura, Darwin, Timor, Indonesia, New Caledonia, Philippin, Japan,
Đài Loan, biển Nam Trung Hoa, Singapore, Malaysia, Cambodia, Việt Nam…
II. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam:
1. Tình hình nghiên cứu chung trong nước:
- Việt Nam có nguồn cua biển phong phú, những năm gần đây do nhu cầu
tiêu thụ ở trong nước và xuất khẩu tăng lên, nên cùng với việc khai thác, nghề
nuôi cua đã phát triển ở nhiều đòa phương. Tuy nhiên sản lượng cua thương phẩm
12
- Lý do làm cho tỷ lệ sống của ấu trùng cua Xanh trong sản xuất giống nhân
tạo còn thấp là vì khi biến thái từ Z2 sang Z3, ấu trùng thường chết hơn 80% (
Nguyễn Cơ Thạch và CTV, 2000). Có thể ta chưa xác đònh đúng và cung cấp đủ
nhu cầu dinh dưỡng tối ưu của chúng, nhất là chưa sử dụng đúng loại thức ăn để
đáp ứng đòi hỏi về kích cỡ mồi, tốc độ vận động ( thức ăn tươi sống ), khả năng
trôi nổi và chìm lắng ( thức ăn tổng hợp và chế biến ), mật độ các loại thức ăn
đủ để tần số bắt gặp giữa ấu trùng và thức ăn là cao nhất, nhưng không gây
nhiễm bẩn môi trường nuôi, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống và sự
phát triển của ấu trùng giai đoạn Zoea.
Đối với ấu trùng Megalope, tỷ lệ sống đến cua 1 có cao hơn giai đoạn
Zoea(>50%), nhưng vấn đề thành phần dinh dưỡng và kích cỡ mồi, tốc độ vận
động ( thức ăn tươi sống ), khả năng trôi nổi và chìm lắng ( thức ăn tổng hợp và
chế biến ), cũng tác động không nhỏ đến tỷ lệ sống và sự sinh trưởng của chúng
(Nguyễn Cơ Thạch và CTV, 2000).
- Gần đây, năm 2004, Trương Trọng Nghóa (Trường Đại học Cần Thơ) đã
nghiên cứu sâu hơn về vấn đề dinh dưỡng của ấu trùng cua biển trong sản xuất
giống, đồng thời đưa ra nhận đònh các HUFA (EPA, DHA và ARA) với một tỷ lệ
cân bằng sẽ làm tăng tỷ lệ sống, cải thiện sự sinh trưởng và phát triển của ấu
trùng. Nhưng tác giả cũng vẫn chưa đưa ra được chủng loại, tỷ lệ phối kết hợp
các loại thức ăn để có chế độ cho ăn một cách hợp lý nhất, nhằm nâng cao tỷ lệ
sống và sự sinh trưởng của ấu trùng cua biển giai đoạn Zoea và Megalope.
Rõ ràng cũng giống như giai đoạn Zoea của ấu trùng tôm sú ở thập niên 80
thế kỷ XX, việc tìm ra tảo khuê và sau đó sản xuất thức ăn tổng hợp để thay thế
nó và ổn đònh sản xuất đến ngày nay, để giải quyết vấn đề nan giải về tỷ lệ sống
của Zoea tôm sú thời bấy giờ. Vì vậy, vấn đề dinh dưỡng cho ấu trùng cua Xanh
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
13
( tổng số )
Năng suất
( con/m
3
)
Tỷ lệ sống
từ Z1-cua1
(%)
1
2
3
4
5
6
200.000
200.000
200.000
200.000
200.000
200.000
28.100
22.900
19.500
12.800
5.250
3.850
6.080
4020
2800
2060
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
15
PHẦN II –PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
I. Phương pháp nghiên cứu:
1. Đòa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu:
v Đòa điểm: Tại Công ty TNHH Thuỷ Sản Hoàn Vũ (Phan Rang – Ninh
Thuận).
v Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 8/9 – 10/11/2005.
v Đối tượng nghiên cứu: Ấu trùng cua Xanh ( Scylla paramamosain ) giai
đoạn Zoea.
2. Phương pháp nghiên cứu:
2.1. Sơ đồ khối bố trí thí nghiệm:
Cua mẹ
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
16
2.2. Dụng cụ thí nghiệm và nguyên tắc thực hiện:
2.2.1. Dụng cụ thí nghiệm:
- Các thí nghiệm được thực hiện trong xô nhựa (V = 40l/xô).
- Máy sục khí.
- Các thiết bò để đo các yếu tố môi trường: Sali kế, PH, Kiềm, test NH
3
,
nhiệt kế.
- Cân điện tử.
- Kính hiển vi quang học.
- Các hồ nuôi thức ăn tươi sống V=1m
3
.
2.2.2. Nguyên tắc thí nghiệm:
- Thực hiện theo nguyên tắc cô lập nhiều yếu tố và chỉ biến thiên 1 yếu tố.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, tất cả các yếu tố khác: Thể tích ương
nuôi, chất lượng nước ban đầu, chế độ thuỷ lý hoá, mật độ … đều bố trí giống
nhau.
- Ấu trùng Zoea thí nghiệm, cùng một mẹ. Mật độ ban đầu là như nhau
100con/l. Vậy mỗi xô là 4000 con/ xô.
- Bố trí thí nghiệm ngẫu nhiên hoàn toàn, có đối chứng và lặp lại 3 lần trong
cùng một không gian và thời gian.
2.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm:
2.3.1. Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống của ấu trùng Zoea: Thí nghiệm
được bố trí qua bảng sau: PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
18
Mật độ thức ăn giai đoạn Zoea ấu trùng cua Xanh nghiệm thức 1.
Mật độ các loại thức ăn
Tên tác giả
Brachionus Artemia
Phytoplankton
Nguyễn Cơ Thạch
20-25con/ml 5-20con/ml 5000-10000 Tb/ml* Nghiệm thức 2: Thay thế Brachionus bằng thức ăn Cyclop-eeze đông khô.
Thức ăn được cho ăn theo giản đồ II.
Loại thức ăn cho ăn
Giai đoạn phát triển của ấu trùng
Z1 Z2 Z3 Z4 Z5 M
Freeze-Dried Grade#0
Nauplius của Artemia
Artemia
Tảo biển đơn bào * Nghiệm thức 3: Thay thế Brachionus bằng Ez – Larva dạng lỏng giàu HUFA.
Thức ăn được cho ăn theo giản đồ III.
Loại thức ăn cho ăn
+ Đối với thức ăn tươi sống: Đối với Brachionus và tảo thì phải lấy giống
thuần từ các phòng thí nghiệm (các cơ sở có uy tín). Sau đó nhân sinh khối phải
Bố trí TN theo từng nhóm
thức ăn
TG biến thái(ngày)
Lô TN
Các giai đoạn phát triển của ấu trùng
Z1 Z2 Z3 Z4 Z5
Lô 1
Lô 2
Lô 3
Lô 4
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
20
đảm bảo sao cho đầy đủ số lượng và chất lượng. Đối với Artemia, ta phải kiểm
tra chất lượng Artemia và xác đònh thời gian từ khi ấp đến khi trứng nở, nên dùng
loại Artemia tốt nhất để làm thức ăn cho ấu trùng cua (Artemia Cần Thơ).
+ Đối với thức ăn công nghiệp: Ta phải xác đònh rõ về khối lượng và kích
cỡ của thức ăn để phù hợp với kích thước mồi của ấu trùng và thức ăn phải được
bảo quản nơi khô ráo để tránh nấm mốc.
- Phương pháp cho ăn:
+ Mật độ và khối lượng thức ăn:
· Đối với thức ăn tươi sống: Branchionus 20-25 con/ml.
Artemia 5-20 con/ml.
Phytoplankton 5000 -10000 TB/ml.
· Đối với thức ăn công nghiệp: Cyclop-eeze 4g/triệu Z/ngày.
Ez-Larva 4ml/triệu Z/ngày.
+ Thời gian cho ăn :
Phương pháp tiến hành đònh lượng:
+ Trước khi đònh lượng khoảng 15 phút ta tắt đèn, che kín bạt và mở mạnh
sục khí để cho ấu trùng phân bố đồng đều trong bể.
+ Ta dùng ca V = 100ml thu mẫu ở 3 tầng nước ( tầng mặt, giữa và gần
đáy). Thu ở nhiều điểm khác nhau trong bể composite. Sau đó ấu trùng được cho
vào bô ca V= 1lít và đưa đi đếm. Ta lấy ra 10ml và đếm số lượng ấu trùng Zoea
có được sau đó tính ra số lượng ấu trùng Zoea trong 1ml, tiến hành thu mẫu và
đếm 3 lần sau đó lấy giá trò TB. Từ đó ta xác đònh được số (ml) nước mẫu cần thu
để đưa vào 1 xô. Nếu ta gọi a là số ấu trùng có trong 1ml nước mẫu và X là số
(ml) nước cần đưa vào trong xô vậy:
X=
4000
a
(ml)
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
22
4. Phương pháp xử lý số liệu:
Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê sinh học. Dựa vào phần mềm Excel
để tính giá trò trung bình và độ lệch chuẩn và vẽ đồ thò.
+ Tính giá trò trung bình: X
=
å
X
: Giá trò TB
Xi: Giá trò lần kiểm thứ i
n: Số mẫu kiểm tra
+ Tỷ lệ sống:
TLS = 100´
N
n
Trong đó:
TLS: Tỷ lệ sống
n: Số lượng ấu trùng ban đầu
N: Số lượng ấu trùng đầu mỗi giai đoạn
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
23
PHẦN III - KẾ T QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
I. Các yếu tố môi trường trong điều kiện thí nghiệm:
Trong quá trình thí nghiệm thì các yếu tố môi trường như: PH, S‰, NH
3
,
Kiềm. Ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái sinh học của ấu
trùng cua giai đoạn Zoea. Vì vậy, trong quá trình thí nghiệm ta phải thường
xuyên theo dõi và kiểm tra các yếu tố môi trường. Có những tác động nhất đònh
II :(6/10-29/10)
25.5¸28.5 7.8¸8.2 30¸31 140¸150 0.05¸0.07
III:(7/10-29/10)
25.5¸28.5 7.8¸8.2 30¸31 140¸150 0.05¸0.07
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
24
nằm trong khoảng thích hợp cho ấu trùng phát triển. Theo Hamasaki thì cua có
khả năng chòu đựng được khoảng nhiệt độ là từ 4-40
0
C và giải nhiệt từ 23-30
0
C
là giải nhiệt thích hợp nhất cho ấu trùng cua phát triển. Có được các điều kiện
môi trường thuận lợi như trên là do các lô thí nghiệm được bố trí trong phòng thí
nghiệm của Công ty.
II. Kết quả nghiên cứu của việc thử nghiệm thay thế thức ăn cho ấu trùng
cua xanh giai đoạn Zoea hiện sử dụng, bằng các loại thức ăn giàu HUFA
khác nhau (Cyclop-eeze và Ez- Larva):
- Qua kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy rằng: Lý do chủ yếu
làm cho tỷ lệ sống của ấu trùng cua Xanh giai đoạn Zoea trong sản xuất giống
nhân tạo còn thấp, là do chúng ta chưa xác đònh đúng và cung cấp đủ nhu cầu
dinh dưỡng tối ưu nhất là các acid béo không no thiết yếu HUFA (EPA, DHA,
ARA). Theo qui trình của Viện nghiên cứu NTTS III thì thức ăn chủ yếu của Z1,
Z2 là Brachionus và thức ăn từ Z3-Z5 là Artemia Cần Thơ. Nhưng đối với qui mô
sản xuất lớn thì công tác chuẩn bò Brachionus là rất khó khăn, nhất là vào các
tháng mùa mưa và nó đòi hỏi một lượng nhân công lớn. Ngoài ra việc cho ăn
Artemia liên tục, nếu ấu trùng không sử dụng hết nó sẽ làm ảnh hưởng xấu đến