Phẫu thuật can thiệp tối thiểu trong gãy phức tạp ổ cối potx - Pdf 20


1
PHẪU THUẬT CAN THIỆP TỐI THIỂU
TRONG GÃY PHỨC TẠP Ổ CỐI
Nhân hai trường hợp

Lương Đình Lâm
(1)
và cộng sự
(2)TÓM TẮT
Bằng một đường mổ ngắn ở ngay trên mấu chuyển lớn, bộc lộ đục rời mấu chuyển
lớn, bóc tách và lật khối cơ mông lên phía trên, bóc tách bao khớp phía trên, làm trật chỏm
xương ra khỏi ổ khớp cả hai trường hơpï cho thấy không còn dây chằng vòng nên việc làm trật
quá dễ dàng. Lúc này ổ khớp đã lộ quá rõ nên việc nắn chỉnh cũng không khó và đặc biệt là
không lo lắng chuyện cấp kênh mặt khớp. Việc cố đònh ổ gãy cũng không quá khó vì chỉ cần
hai vít xốp là có thể gắn chặt hai trụ trước và sau.

SUMMARY
Mini-invasive operation on complicated fracture of acetabulum:
two cases report
Luong Dinh Lam

Using a short incision just superior to the great trochanter we exposured the hip joint
after cutting the great trochanter, pulling up the mass of gluteal muscles, incisioning the
superior capsule and dislocating the femoral head. Due to serious damage of annular
ligament the femoral head was dislocated easily. At that time the acetabular surface joint was
exposured clearly and then reduction was not a big problem. With two cancellous screws we
could fix firmly both anterior and posterior columns.

+ Đánh giá thực chất tổn thương trên hai bệnh nhân cụ thể.

KÊT QUẢ
TRÌNH BÀY BỆNH ÁN
Bệnh nhân thứ nhất: Nguyễn thành T. sinh năm 1976
Vào viện ngày 12/03/04 ra vòên 22/03/04 số nhập viện 156537.
Bệnh sử: cách nhập vòện 1 ngày (16 giờ 02/04/04) bệnh nhân đi xe máy bò xe ô tô
ngược chiều đụng phải bò ngã văng ra khỏi xe, ngã không rõ cơ chế, sau ngã bệnh nhân được
chuyển vào bệnh viện Đồng nai, sau khi truyềân dòch, tiêm thuốc giảm đau, nẹp chân trái từ
nách đến cổ chân, bệnh nhân được chuyển bệnh viện Chợ Rẫy.
Khám: bệnh tỉnh táo, tiếp xúc tốt, M = 80 lần/phút HA = 100/60 mmHg.
Tại chỗ: bụng mềm hơi chướng nhẹ vùng hạ vò khám không thấy có điểm đau ngọai
khoa, ấn trên dưới cung bẹn T bệnh nhân đau nhiều, chân T hơi ngắn xoay trong nhẹ, đau
nhiều khi cử động chân trái, đặc biệt khi cử động khớp háng. XQ cho thấy gãy ổ cối, đừơng
gãy ngang qua hai trụ và có một mảnh phía sau thuộc lọai gãy B2 của AO. Bệnh nhân được
xuyên đinh kéo tạ qua lồi củ trước xương chầy và cho nhập viện. Ngày 17/3 bệnh nhân được
phẫu thụật. Đường mổ phía bên ngay trên mấu chuyển lớn. Sau khi nắn, ổ gãy được cố đònh
hai trụ bằng hai vít xốp, đặït một ống dẫn lưu, ống này được rút sau một ngày. Sau 3 ngày sau
mổ bệnh nhân được chụp kiểm tra và cho thấy ổ cối đã được cố đònh vững chắc mỗi trụ với
một vit xốp và đặc biệt không có di lệch mặt khớp. Bệnh nhân ra viện sau 5 ngày.
Bệnh nhân thứ hai: Nguyễn huy Kh. sinh 1978.
Vào viện ngày 4/4/04 ra vòên 14 /4 /04 số nhập viện 20433.
Bệnh sử: cách nhập vòện 1 ngày (8 giờ 3/4/04) bệnh nhân đốn cây gòn bò một nhánh
lớn cây gòn đập vào mông, sau ngã bệnh nhân đươc chuyển vào bệnh viện đa khoa Trà Vinh,
sau khi truyềân dòch, tiêm thuốc giảm đau, nẹp chân trái từ nách đến cổ chân, sau đó chuyển
bệnh viện Chợ Rẫy.
Khám: bệnh tỉnh táo, tiếp xúc tốt, M = 76 lần/phút HA = 110/60 mmHg.
Tại chỗ: bụng mềm hơi chướng nhẹ, ấn đau vùng hạ vò, không thấy cầu bàng quang,
không thấy có điểm đau ngọai khoa, ấn trên dưới cung bẹn T bệnh nhân đau nhiều, chân T
hơi ngắn xoay trong nhẹ, đau nhiều khi cử động chân trái, đặc biệt khi cử động khớp háng.

Một tổn thương năng lượng cao gây mất vững khớp [các type sau] nhất là những người
trẻ, cần nắn hoàn hảo [thường mổ], để có kết quả tốt lâu dài.
Larson và nhóm của Carnesal và Pennal cho kết quả tương tự. Trong nghiên cứu 103
ca của Pennal trong số 66 bệnh nhân còn di lệch, 72% số này có thoái hoá khớp trên X
quang. Trong 37 ca di lệch ít, 30% có thoái hoá.
Senegas và cs (1997) khuyên nắn kín các gãy ổ cối di lệch dưới gây mê. 42/71 ca
không có được tương hợp khớp. Trong 28 ca mổ qua đường xuyên mấu chuyển, 85% tốt và
15% không tốt.
Ruggieri và cs (năm 1992) với 188 ca mổ trong số 356 ca gãy ổ cối. Nhận xét nắn tốt
thì cho kết qủa tốt lâu dài tránh được biến chứng. Theo dõi 5 năm là 58 bệnh nhân. Tỷ lệ
viêm khớp trên xquang là 12%, 9% biểu hiện lâm sàng. Sau 10 năm, thêm 32 bệnh nhân có
viêm khớp trên xquang [16%] với 12.5% biểu hiện trên lâm sàng.
1986, Matta hồi cứu X quang 204 ca gãy ổ cối. 64 ca di lệch trong nhóm này khám
được lâm sàng, 43 ca có mổ. Theo dõi trung bình 3,7 năm. Trong 24 ca di lệch kéo tạ trong 7
tuần, chỉ 5[24%] kết quả tốt, 16 [76%] trung bình hay kém. Trong 43 ca mổ, đều dùng đường
sau, 3 ca thêm đường trước chậu mu, 17/43 tốt và rất tốt [40%], 26 [60%] trung bình hay kém.
Kết luận là bảo tồn chỉ tốt cho các gãy với phần chòu lực còn nguyên. Nắn tốt giải phẫu, cho
tiên lượng tốt. Mổ nên thực hiện bởi các phẫu thuật viên chuyên khoa có kinh nghiệm, được
đào tạo kỹ.
Goulet và Bray năm 1989 báo cáo mổ các gãy phức tạp [ type phối hợp]. 31/117 ca
nằm trong typ này, 13 ca gãy 2 trụ, 7 ca gãy kiểu T, và 11 ca khác, theo dõi trung bình 21
tháng. Tuổi trung bình 30, chỉ số chấn thương ISS =15, thời gian từ khi tai nạn đến khi mổ
tương đối dài, trung bình 13.5 ngày. Tác giả khuyên nên dùng 2 đường hơn là 1 đường mở
rộng, đường trước là chậu bẹn, sau là L-K. không dùng bàn kéo xương, nên dùng kéo xương
AO. Cho thấy kết quả lâm sàng gắn chặt với nắn giải phẫu: 24 ca kết quả tốt và rất tốt, 7 ca
trung bình và kém, 1 ca nhiễm trùng sâu, 1 ca hoại tử vô mạch, 1 ca cốt hoá lạc chỗ cần phải
mổ lấy bỏ. Theo dõi tương đối ngắn nhưng cũng thấy liên quan giữa lâm sàng va nắn giải

4
phẫu, nếu không có biến chứng trong mổ. Dùng hai đường mổ riêng biệt cho tỷ lệ biến chứng


1. Carole, Copeland: Complex Fractures of the Acetabulum, orth. Know Update 1998,
pp 263 – 272.
2. LETOURNEL, E., and JUDET, R.: Fractures of the Acetabulum, berlin, springer,
Verlág, 1993.
3. MATTA, J., M.: Acetabulum Fractures: Results of combinet operative and
nonoperative protocol.presented Fifty-eghth AAOS Annual Meeting Anaheim, CA;
1991.
4. TILE, M.: Fractures of the Pelvis and Acetabulum, pp 249 – 467; 1995.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status