Báo cáo khoa học: "PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM THEO HƯỚNG “ĐẠI TRÀ” VÀ “PHÂN TẦNG”" - Pdf 20


PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
THEO HƯỚNG “ĐẠI TRÀ” VÀ “PHÂN TẦNG”

ThS. ĐẶNG XUÂN NGỌC
Bộ môn Những nguyên lý cơ bản của CNMLN
Khoa Lý luận chính trị
Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với một vấn đề
lớn là làm sao có thể đáp ứng được một cách nhiều nhất và tốt nhất nhu cầu học tập của
người dân. Giáo dục đại học phát triển theo hướng nào đang là câu hỏi được đặt ra đối với
các nhà quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục đại học. Bài báo này xin được đề cập tới một
hướng đi mới trong sự phát triển của giáo dục đại học Việt Nam là “đại trà” và “phân tầng”
trong giáo dục đại học.
Summary: Today the sytem of Viet Nam greduate education is dealling with a big
problem. It is how to apply study need of people. Which way should university education
follow is the question to education manager and universities. This article mentions a new way
in the development of univerity education, which is “đại trà” or “phân tầng’

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam hiện
nay đang phải đối mặt với một vấn đề lớn là
làm sao có thể đáp ứng được một cách nhiều
nhất và tốt nhất nhu cầu học tập của người
dân. Giáo dục đại học phát triển theo hướng
nào đang là câu hỏi được đặt ra đối với các
nhà quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục đại
học. Bài báo này xin được đề cập tới một
hướng đi mới trong sự phát triển của giáo dục
đại học Việt Nam là “đại trà” và “phân tầng”

1990 là 14,8% ở Hàn Quốc, 13,8% ở Malaysia và 12% ở Singapore. Ở Trung Quốc
trong mấy năm qua có năm tốc độ tăng sinh
viên đến 50%. Nhìn chung tốc độ tăng tỷ lệ
sinh viên thường cao hơn tốc độ tăng GDP
{1; 75}.
Tuy nhiên, khi chuyển từ nền giáo dục
đại học “tinh hoa” sang nền giáo dục đại học
“đại trà” thì vấn đề chất lượng của giáo dục
đại học đang là vấn đề được quan tâm nhiều
nhất. Hiện nay trên thế giới đang tồn tại hai xu
hướng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa
quy mô và chất lượng. Xu hướng thứ nhất
xem trường đại học phải là tinh hoa (như
nhau) và sứ mệnh của nó vẫn phải là: kết hợp
đào tạo trình độ/chất lượng cao với nghiên
cứu khoa học (kiểu đại học truyền thống).
Thực tế cho thấy không một nước nào trên thế
giới có thể xây dựng được một hệ thống giáo
dục đại học như vậy trong bối cảnh ngày nay
khi mà yêu cầu của đào tạo đại trà đang đòi
hỏi. Bời vì từ cả lý do chi phí quá cao và từ áp
lực của người học, xã hội đòi hỏi phải bình
thường hoá giáo dục Đại học cũng như phải
đa dạng hoá các loại hình đào tạo để đáp ứng
nhu cầu của người học. Điển hình cho xu
hướng này là hệ thống giáo dục Đại học ở
Pháp, Đức. Trong khi đó, xu hướng thứ hai lại

đại học ở bang California được chia thành 3
tầng. Ở đỉnh là 9 trường đại học chọn lọc
khoảng 12% số sinh viên và bên dưới là hệ
thống trường đại học “multi – campus” thu
nhận khoảng 26% sinh viên và dưới cùng là
khoảng 100 trường đại học cộng đồng đào tạo
trên một triệu sinh viên của bang. Nhờ cơ cấu
này mà họ mở rộng được hệ thống giáo dục
đại học đáp ứng được nhu cầu người học, mặt
khác họ lại tạo ra được các trường đại học
chất lượng cao hàng đầu thế giới như Berkely,
California Institute of Technology, Standford
{1; 18}.
MLN-
VTKT
Có một thực tế rõ ràng là, khi chuyển
giáo dục đại học từ tinh hoa sang giáo dục đại
học đại trà thì chất lượng bình quân của cả
nền giáo dục đại học có giảm xuống cũng là
một điều đương nhiên. Bởi vì, với số đông: tài
năng, tư chất, chất lượng đào tạo ở trung học
phổ thông sẽ không còn giống như trước. Ví
dụ như ở Anh khi giáo dục đại học chỉ chọn
0,5% trong số người từ 18 tuổi trở lên thì chỉ
số thông minh IQs trung bình của nhóm sinh
viên này là 150, nhưng khi giáo dục đại học
chọn đến 30% trong số người từ 18 tuổi trở lên thì chỉ số IQs trung bình đã giảm xuống

trái ngược nhau xung quanh vấn đề có nên mở
rộng quy mô khi mà chất lượng không được
đảm bảo. Bộ Giáo dục và Đào tạo khẳng định:
chất lượng giáo dục đại học đang được nâng
dần trên một số mặt; có những cải tiến bước
đầu. Trong khi đó Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu
lại cho rằng: sự tụt hậu của hệ thống giáo dục
đại học so với chúng ta trong những thập kỷ
trước. Tuy nhiên, khi nói về chất lượng giáo
dục đại học người ta cũng chưa có một định
nghĩa rõ ràng Chính từ đó đã gây ra những
nghi ngờ của xã hội đối với chất lượng của hệ
thống giáo dục đại học nước ta, thậm chí có
người còn đòi hỏi phải thực hiện cuộc đại giải
phẫu để chữa trị những “ung nhọt”, rồi “thay
máu” cho giáo dục đại học.
Việc mở rộng quy mô trong giáo dục đại
học ở nước ta đấy là một điều tất yếu. Bởi vì
quy mô và đi cùng với nó là nhu cầu, khi nhu
cầu của người học còn nhiều (mà đây là những
nhu cầu chính đáng) thì việc hạn chế quy mô
cũng đồng nghĩa với nó là việc hạn chế cơ hội
được hưởng thụ giáo dục đại học của người
học, đặc biệt khi tấm bằng đại học được coi là
tấm giấy thông hành để giúp giới trẻ bước vào
cuộc sống. Vì vậy, quan điểm cho rằng phải
hạn chế việc mở rộng quy mô để củng cố chất
lượng là không phù hợp với mục tiêu phát triển
con người, cũng như áp lực của nhu cầu đào
tạo đại trà hiện nay. Khi chúng ta mở rộng quy

học là phải có sự phân tầng trong hệ thống các
trường đại học. Không thể đồng nhất và coi
các trường đại học là như nhau như những
quan điểm truyền thống mà phải có sự thay
đổi trong việc đánh giá chất lượng các trường
đại học với những tiêu chí cụ thể, rõ ràng.
Phải có sự thay đổi mục đích trong các
chương trình của giáo dục đại học, chất lượng
và số lượng phải gắn liền với mục đích của
từng chương trình, đối tượng học.
Theo suy nghĩ trên, hệ thống giáo dục đại
học ở nước ta có thể phân chia thành 3 tầng
như sau:
Tầng 1: Gồm một số ít các trường đại
học mà chương trình đào tạo theo hướng “tinh
hoa” và thiên về nghiên cứu. Số sinh viên
trong tầng này chiếm khoảng 10 – 15% tổng
số sinh viên. Ở nước ta hệ thống các trường
này có thể tập trung vào một số các trường đại
học trọng điểm như: Đại học quốc gia Hà Nội,
Đại học quốc gia TP. HCM, Đại học Bách
khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa TP. HCM,
Đại học Sư phạm…
MLN-
VTKT
Tầng 2: Gồm các trường đại học “đại
trà”, chương trình đào tạo tập trung vào thực
hành, kỹ năng áp dụng kiến thức vào thực tế,
tức là thiên về kỹ thuật và nghề nghiệp, nhằm
phục vụ trực tiếp các hoạt động kinh tế xã hội.

tìm ra hướng phát triển phù hợp khi nhu cầu
mở rộng quy mô ngày càng rộng và sự đòi hỏi
về chất lượng ngày càng cao.
Ti liệu tham khảo
[1]. Phạm Phụ(2005). Về khuôn mặt mới của giáo dục
đại học Việt Nam, NXB. Đại học Quốc gia TP.HCM.
[2]. Lâm Quang Thiệp, D.Bruce Jonhstone, Phillip G.
Altbach(2006). Giáo dục đại học Hoa Kỳ, NXB. Giáo dục.
[3]. James L.Bess: Nền tảng giáo dục đại học Mỹ,
NXB. Simon& Schuster Custom.
[4]. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Đề án đổi mới giáo
dục đại học Việt Nam.
[5]. Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP
về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học
Việt Nam, giai đoạn 2006- 2020♦


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status