Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về nhà hàng, khách sạn tỉnh Quảng Trị - Pdf 20

MỞ ĐẦU
Hiện nay trên thế giới với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ
đă được ứng dụng vào phát triển kinh tế - xă hội hết sức hiệu quả. GIS là một hệ
thống phần mềm được ứng dụng rất rộng răi và hết sức thiết thực trong lĩnh vực
quản lý tài nguyên và môi trường, phục vụ cho phát triển kinh tế - xă hội nói chung
và ngành du lịch nói riêng. Trong thời gian qua, việc ứng dụng GIS vào công tác
quản lý và phát triển du lịch ở Việt Nam đang trong giai đoạn đầu nhưng đă thể hiện
nhiều tính năng ưu việt. Với những khả năng mạnh về lưu trữ, phân tích và xử lý
các dữ liệu không gian, GIS đáp ứng được hầu hết các yêu cầu đặt ra trong quá trình
khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch, giúp ngành du lịch Việt Nam phát triển có
hiệu quả hơn. Riêng ở tỉnh Quảng Trị, công tác quản lý tài nguyên du lịch nói chung
và quản lý hệ thống nhà hàng, khách sạn nói riêng nếu có sử dụng hệ thống phần
mềm này th́ì sẽ đem lại nhiều lợi ích thiết thực như: có thể hệ thống hoá, số hoá
hiện trạng nhà hàng, khách sạn của địa phương cần quản lý. Từ đó việc đánh giá và
kết hợp chúng nhằm quản lý nhà hàng và khách sạn mang đầy đủ các thông tin kèm
theo về các chỉ tiêu, đặc trưng của từng nhà hàng và khách sạn sẽ giúp cho các nhà
quản lý có những biện pháp thích hợp đồng thời giúp du khách được thuận tiện hơn
trong việc lựa chọn cơ sở lưu trú khi tham quan du lịch.
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tỉnh Quảng Trị nằm ở vùng du lịch Trung Bộ, trên con đường di sản miền
Trung có điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển một ngành du lịch đặc thù có
sức hấp dẫn riêng đối với du khách. Đặc biệt, Quảng Trị nằm trên con đường
“Trường Sơn huyền thoại”, nhờ nằm trên con đường này mà Quảng Trị được đưa
vào 1 trong 21 trọng điểm du lịch Quốc gia. Bên cạnh đó, Quảng Trị nằm trên tuyến
hành lang kinh tế Đông - Tây, là cửa ngỏ đầu tiên vào Việt Nam trên tuyến hành
lang, hàng năm đã thu hút một lượng lớn khách du lịch quốc tế từ các nước Đông
Dương và các nước khác đi qua tuyến đường này. Quảng Trị có khoảng trên 500
điểm di tích lịch sử, văn hóa, tôn giáo, danh lam thắng cảnh,… có thể khai thác và
phát triển du lịch.
1
Theo kết quả thống kê, năm 2007 lượng du khách đến tỉnh Quảng Trị là

2
tin cần thiết cho du khách. Đây sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng được tích hợp vào
bản đồ du lịch nhằm quảng bá, thu hút và lưu giữ du khách góp phần thúc đẩy phát
triển ngành du lịch của tỉnh Quảng Trị.
3. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài này tiến hành điều tra khảo sát, thu thập thông tin và xây dựng hệ
thống cơ sở dữ liệu của tất cả các nhà hàng, khách sạn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Nhưng do thời gian, kinh phí có hạn cũng như tình hình phát triển du lịch của tỉnh
nên chúng tôi đã tập trung vào nghiên cứu ở thành phố Đông Hà và thị xã Quãng
Trị một cách chi tiết hơn các huyện còn lại.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đă sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp phân tích hệ thống:
Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng trong hầu hết các đề tài về du lịch.
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào phân tích và xử lư số liệu, tài liệu đă được
điều tra thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau từ Sở Văn hoá, Thể thao và Du
lịch tỉnh Quảng Trị, các cơ quan liên quan, từ tài liệu trên mạng và kế thừa các
thông tin có được từ các đề tài nghiên cứu đi trước.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa:
Đây là một phương pháp truyền thống được sử dụng để đi khảo sát, điều tra
nghiên cứu thực tế nhằm thu thập được những số liệu chính xác về hệ thống nhà
hàng, khách sạn ở địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê du lịch:
Thống kê du lịch nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ chặt chẽ với mặt chất của
các hiện tượng và quá tŕnh kinh tế - xă hội trong ngành du lịch, nghiên cứu biểu
hiện về lượng của các quy luật trong lĩnh vực, đặc biệt là:
+ Thống kê số lượng các điểm nhà hàng, khách sạn có trên địa bàn Tỉnh, tập
trung chủ yếu ở Đông Hà và Quảng Trị.
3

1.1.2. Địa chất – địa hình
a. Địa chất:
Trong phạm vi tỉnh Quảng Trị phân bố các thành tạo địa chất có tuổi từ
Proterozi đến Đệ tứ, gồm các đá magma xâm nhập, phun trào, các thành tạo trầm
tích và biến chất. Hoạt động kiến tạo xảy ra mạnh mẽ, đặc biệt là hoạt động tân kiến
tạo, tổ hợp với quá trình ngoại sinh đã tạo nên sự đa dạng của cảnh quan với các tài
nguyên thiên nhiên độc đáo, trở thành các điểm du lịch hấp dẫn.
Sự phong phú và đa dạng của các thành tạo địa chất là cơ sở tạo nên tính đa
dạng của cảnh quan - một trong nững yếu tố tạo nên sức hấp dẫn cho du lịch. Các
thành tạo và quá trình địa chất cũng có thể trực tiếp tạo nên các tài nguyên du lịch
như hang động Karst, các khối đá có hình thái đẹp được thiên nhiên chạm khắc, các
vách núi trên đá chắc tạo cảm giác mạnh cho du lịch mạo hiểm; các bãi biển với
tính đa dạng cảnh quan do phân bố thành phần vật chất khác nhau. Các quá trình địa
chất còn tạo điều kiện cho sự hình thành và xuất lộ các nguồn nước nóng khoáng -
một dạng tài nguyên du lịch có giá trị. Mỗi thành tạo địa chất có vai rò khác nhau
5
trong việc tạo nên giá trị tài nguyên du lịch, chúng cần được đánh giá một cách
đúng đắn cho quy hoạch phát triển du lịch.
b. Địa hình:
Cũng như nhiều tỉnh khác ở Trung Bộ , Quảng Trị là tỉnh có sự đa dạng về địa
hình, bao gồm cả địa hình núi cao trung bình, núi thấp, đồi, đồng bằng ven biển,
biển và đảo ven bờ.
Cấu trúc dạng tuyến theo phương Tây Bắc – Đông Nam là đặc trưng cho địa
hình QuảngTrị. Tại đây đường chia nước - đường sống núi của dãy Trường Sơn
không ở biên giới mà nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam, song vẫn giữ phương kéo
dài chung là Tây Bắc – Đông Nam. Địa hình dãy Trường Sơn có tính bất đối xứng
khá rõ, từ 1500 – 1700m hoặc 1000 – 1400m ở đỉnh đến 1000 – 1300m, 600 –
900m, 200 – 500m, 100 – 200m và < 100m ở phần sườn phía nam. Hoạt động xâm
thực bào mòn của sông suối đã phá vỡ tính liên tục của các tầng độ cao trên, hình
thành các dãy núi trung bình, núi thấp và đồi, phân bố kế tiếp nhau từ chiều Tây

Trường Sơn được thể hiện rõ mùa du lịch nghỉ dưỡng ven biển và nghỉ dưỡng ven
núi.
Hai vùng khí hậu phân biệt nhau theo sự phân hóa mưa - ẩm, nhưng trong
mỗi vùng còn tồn tại sự phân hóa tương đối rõ nét trong chế độ nhiệt - ẩm theo độ
cao địa hình. Lãnh thổ Quảng Trị gồm 3 vùng: vùng đồng bằng ven biển, vùng
trung du và núi thấp và vùng núi cao. Như vậy, ở vùng khí hậu đông Trường Sơn
có 3 loại địa hình vừa nêu và ở vùng khí hậu tây Trường Sơn chỉ có 2 loại địa hình:
vùng núi thấp và vùng núi cao.
Theo quan điểm điều kiện địa hình chi phối điều kiện khí hậu, ta có thể phân
chia vùng khí hậu Đông Trường Sơn thành 3 tiểu vùng khí hậu: Tiểu vùng khí hậu
đồng bằng ven biển; Tiểu vùng khí hậu trung du và núi thấp và Tiểu vùng khí hậu
núi cao. Tây Trường Sơn có 2 tiểu vùng: Tiểu vùng núi thấp tây Trường Sơn; Tiểu
vùng núi cao tây Trường Sơn.
Trong các tiểu vùng khí hậu trên, đáng chú ý là Tiểu vùng khí hậu đồng bằng
ven biển đông Trường Sơn với nền nhiệt cao, chịu tác động của gió Lào. Nơi đây lại
tập trung nhiều trung tâm các huyện lỵ, tỉnh lỵ với lượng dân cư đông. Do đó, cần
7
tìm kiếm các khu vực có điều kiện để tránh những ngày thời tiết khắc nghiệp nơi
đây.
Tiểu vùng khí hậu núi cao Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn có độ cao
đại hình xấp xỉ 1000m trở lên, tương ứng với mức giảm nhiệt độ trung bình trên 5ºC
và lượng mưa trung bình đạt trên 2800mm/năm. Ở vùng núi cao, nhiệt độ trung
bình năm có thể đạt 16 – 20ºC, nhiệt độ tối thấp có thể đạt giá trị thấp đáng kể,
nhưng nhiệt độ tối cao chắc chắn đạt giá trị không cao. Không gian ở đây thoáng
rộng , nhưng gió mạnh đạt mức độ không cao, vì bão sau khi đổ bộ vào đất liền bị
tan đi nhanh chóng. Đó là các khu vực rất thích hợp với việc xây dựng các trung
tâm nghỉ mát.
b. Thủy văn:
Quảng Trị có 12 con sông lớn tập trung thành 3 hệ thống chính là: Sông Bến
Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu với trên 60 phụ lưu khác có chiều dài trên 10

- Kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng á nhiệt đới núi trung bình: Phân bố
chủ yếu ở độ cao từ 700 – 1.500 m, như ở dãy núi trung bình động Voi Mẹp, trên
khối núi thuộc động A Pông ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông.
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp: Kiểu quần xã thực
vật này ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông thường ít bị tác động, về căn bản vẫn
giữ được tính nguyên sinh.
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh nhiệt đới phục hồi sau
khai thác: Rừng ở đây bị tác động mạnh qua việc khai thác gỗ xây dựng và thưong
mại.
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín tường xanh mưa ẩm nhiệt đới phụ hồi
sau nương rẫy: Kiểu rừng này có nguồn gốc từ rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt
đới, nhưng do các hoạt động khai phá nương làm rẫy và nạ cháy rừng đã làm mất đi
lớp thảm rừng nguyên sinh, sau đó được bỏ hoang nhiều năm và rừng non đã xuất
hiện.
9
- Rừng hỗn giao tre - nứa - gỗ phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt: Kiểu
này cũng có nguồn gốc gián tiếp từ kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới.
- Trảng co cây bụi thứ sinh nhân tác: Đây cũng là hậu quả trực tiếp của quá
trình canh tác nương rẫy lâu dài và của chiến tranh.
* Các kiểu thảm thực vật trên đất phi địa đới:
- Rừng trên các đụn cát: Rừng còn trên các đụn cát tương đối ổn định.
- Trảng cây bụi thứ sinh trên các đụn cát: Đây là trạng thái thảm thực vật cây
bụi thứ sinh hình thành sau khi rừng trên các đụn cát bị khai thác làm đất canh tác
và cả sau khi khai thác gỗ.
- Trảng cỏ thứ sinh: Trên các đụn cát ở Quảng Trị thường có các trảng cỏ cao
0,1 – 0,2 m phân bố thành các mảng, thay thế vào trảng cây bụi và rừng bị mất đi
trong quá trình khai thác.
* Các kiểu thảm thực vật trên đất nội địa đới:
- Trảng cỏ chụi ngập thứ sinh và các quần xã thủy sinh ở đầm, ao, hồ:Phân
bố trên các địa hình bằng phẳng và trũng thấp ở đồng bằng hay các thung lũng núi

khu công nghiệp tập trung, quá trình hình thành các khu công nghiệp, khu vực kinh
tế trọng điểm mới bắt đầu nên hiện tượng di dân chưa xảy ra. Các khu dân cư tập
trung trong tỉnh chủ yếu là ở thành phố, thị xã, thị trấn.
b. Lao động:
Tổng số lao động hiện có trong toàn tỉnh là 302.650 người, trong đó lao động
không có trình độ chuyên môn kỹ thuật lên đến 74%, lao động có trình độ cao đẳng
đại học trở lên chiếm 6,8%. Số lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và
lâm nghiệp là 167.795 người chiếm 55,44% tổng số lao động.
Lực lượng lao động giữa các vùng có sự chênh lệch về quy mô và chất lượng
lao động, vùng đồng bằng là vùng có lực lượng lao động tập trung đông nhất và số
lao động có trình độ thâm canh sản xuất chiếm tỷ lệ lớn , đặc biệt là sản xuất nông
sản theo hướng hàng hóa.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng lao động nhìn chung đã có
sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong cơ cấu và chất lượng lao động còn bộc lộ
11
rõ sự mất cân đối giữa các nghành như lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao,
phần lớn là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động được đào tạo còn thấp, tỷ lệ lao động
thiếu việc làm ở khu vực thành thị còn chiếm 4,65% (2009) tổng số lao động trong
độ tuổi. Cần có những chính sách hợp lý để tạo việc làm cho lao động thất nghiệp,
đặc biệt là đưa lao động vào hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, phục vụ du lịch.
1.2.2. Cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kỹ thuật
Hệ thống giao thông thuận lợi, bao gồm cả đường bộ, đường sắt và đường thủy:
Quốc lộ 1A, Đường Hồ Chí Minh, đường sắt chạy xuyên qua tỉnh theo hướng Bắc –
Nam, Quốc lộ 9 gắn với Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo chạy theo hướng Đông – Tây;
cảng Cửa Việt đang được đầu tư nâng cấp để đón tàu có trọng tải 5.000 đến 6.500
DWT. Cảng biển Mỹ Thủy có khả năng đón tàu có trọng tải 50.000 DWT ra vào
thuận lợi đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch và đang được tỉnh đẩy mạnh xúc
tiến đầu tư xây dựng. Bưu chính viễn thông phát triển, có mạng cáp quang trang bị
đến 100% huyện và thị xã. Hệ thống cấp điện, nước dùng cho sinh hoạt và sản xuất
được đảm bảo; Các dịch vụ vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục...đang phát

cáo cấp ngành đạt chất lượng cao, có tính khả thi trong ứng dụng thực tế.
1.2.4. Văn hoá – xã hội và các lễ hội
Hoạt động văn hóa, thông tin, TDTT có nhiều tiến bộ, thiết thực phục vụ
nhiện vụ chính trị của địa phương. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa cơ sở” có nhiều chuyển biến tích cực. Các lễ hội văn hóa được quan
tâm, chú trọng bảo tồn văn hóa các dân tộc, xây dựng mô hình hoạt động văn hóa
thông tin phù hợp từng vùng, từng khu vực…
Đời sống dân cư ở thành thị và nông thôn đều được cải thiện rõ rệt. Kết quả
các cuộc điểu tra khảo sát mức sống đân cư, điều tra giàu nghèo và điều tra hộ gia
đình cho thấy: Thu nhập bình quân mỗi người 1 tháng của các hộ đã tăng từ 227,3
nghìn đồng năm 2002; 304,7 nghìn đồng năm 2004; 436,4 nghìn đồng năm 2006 và
722,9 nghìn đồng năm 2008.
Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những thành tự nổi bật, đã xóa hộ
đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm. Các đối tượng chính sách, người có công,
13
gia đình thương binh, liệt sỹ thường xuyên được chăm lo. Phong trào “đền ơn đáp
nghĩa” triển khai sâu rộng, đạt hiệu quả thiết thực…
Bên cạnh các thành quả trên đời sống văn hóa, xã hội của tỉnh vẫn còn nhiều
bất cập, đặc biệt là tệ nan xã hội, nhất là tệ nạn ma túy đang có chiều hướng gia tăng
tạo bộ mặt không tốt, ảnh hưỏng rất lớn đến việc phát triển du lịch.
1.2.5. Đường lối, chính sách
Du lịch được xác định là một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, những năm
qua, tỉnh Quảng Trị đã có sự đầu tư nâng cấp và xây dựng các trung tâm cụm du
lịch. Nhiều di tích lịch sử cách mạng được trùng tu, tôn tạo khôi phục và giữ gìn để
khai thác tốt thế mạnh về du lịch theo tour DMZ: Nhà lưu iệm Cố Tổng Bí Thư Lê
Duẩn, Bãi tắm Cửa Việt, Cửa Tùng, Mỹ Thủy, Di tích đôi bờ Hiền Lương… mở
thêm nhiều tour, tuyến mới như tổ chức nhiều tuyến du lịch trọn gói đi trong và
ngoài nước.
Với những chính sách ưu đãi của tỉnh thì hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở kinh
doanh phát triển nhanh với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Đặc biệt là

* Đảo Cồn Cỏ
Đảo Cồn Cỏ là một nơi rất có tiềm năng để phát triển du lịch trên đảo và các vùng
biển lân cận gồm: Du lịch nghỉ dưỡng, ở đây có điều kiện khí hậu tốt, không khí
15
trong lành nên rất thích hợp cho loại hình du lịch này. Các bãi tắm của đảo không
rộng, song cảnh quan bờ biển rộng và độc đáo, đa dạng, có thể trở thành các điểm
tham quan, ngắm cảnh. Thảm thực vật trên đảo dù không được bảo tồn tốt, song có
thể tự phục hồi nếu quản lý tốt, một số loài thực vật trên vùng đất khô hạn ven bò
biển có thể trở thành đối tượng tham quan của du khách, với mục tiêu tăng cường ý
thức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
* Các dạng cảnh quan sinh thái độc đáo của tỉnh
- Động Voi Mẹp: Đặc trưng của động này sự độc đáo của cảnh quan sinh thái phân
dị theo đai cao với sự khác biệt giữa cảnh quan Đông Trường Sơn và Tây Trường
Sơn. Thảm thực vật ở đây rất phong phú và đa dạng, bao gồm rừng kín cây lá rộng
thường xanh nhiệt đới ẩm núi thấp, rừng kín cây lá rộng á nhiệt đới ẩm, rừng cây lá
kim, quần xã đặc biệt ở đỉnh núi.
- Động Ba Lê: Các bề mặt san bằng địa hình phân thủy cao 1000 – 2000m tại núi
Ba Lê đã tạo nên ở đây hình thành một khu nghỉ dưỡng có giá trị. Các mặt bằng ở
đây đủ diện tích để xây dựng các khu nghỉ dưỡng, các công trình công cộng khác
trong một khu du lịch.
- Khe Sanh: Là khu vực có độ cao tuyệt đối thấp nhất của đỉnh Trường Sơn , Khe
Sanh có đầy đủ các điều kiện để trở thành một khu du lịch sinh thái đầy tiềm năng.
Nằm trong một quần thể các tài nguyên du lịch tự nhiên và đặc biệt là tài nguyên du
lịch nhân văn như các di tích lịch sử cách mạng phản ánh một vùng đất kiên cường
hy sinh chiến đấu vì sự nghiệp thống nhất đất nước đã khẳng định Khe Sanh là một
trung tâm du lịch của tỉnh Quảng Trị.
* Hệ sinh thái rừng nhiệt đới
- Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông: ở đây có thảm thực vật tự nhiên vành đai
thực vật nhiệt đới (<800m) và thảm thực vật vành đai á nhiệt đới (>800m) và nhiều
đặc điểm độc đáo khác để có thể phát triển du lịch sinh thái.


+ Hồ Trúc Kinh: Thuộc huyện Gio Linh, là hồ chứa lớn nhất tỉnh. Với lợi thế
diện tích mặt nước rộng mênh mông, có bãi đất nổi tự nhiên, cảnh quan thơ mộng,
kỳ vỹ. Hồ Trúc Kinh là điểm thích hợp để tổ chức các hoạt động lễ hội như: các giải
đua thuyền thuyền thống, các giải bơi…
17
* Các điểm nước nóng và nước khoáng
Quảng Trị có 4 nguồn nước nóng – khoáng có giá trị cho du lịch và nghỉ
dưỡng: Nguồn Tân Lâm, nguồn Làng Eo, nguồn Làng Rượu, Nguồn Dakrong (Ra
Lân). Đây đều là những vùng có tiềm năng phát triển du lịch nghỉ dưỡng.
b. Tài nguyên nhân văn
Quảng Trị là tỉnh có hệ thống di tích lịch sử dày đặc, “tài sản” chỉ riêng mảnh
đất này mới có để phát triển loại hình du lịch lịch sử chiến tranh: Vùng phi quân sự,
di tích Hiền Lương – Bến Hải, Thành Cổ, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh…đan xen
với hàng loạt các thắng cảnh như Cửa Tùng, Rú Lịnh, ĐakRong, Trằm Mỹ Thủy…
Trên chặng hành trình “Con đường di sản Miền Trung” từ Nghệ An vào đến Quảng
Nam thì Quảng Trị là điểm nối. Trên trục đường xuyên Á, Quảng Trị là điểm đầu
nhìn từ Việt Nam.
* Các di tích lịch sử cách mạng
Quảng Trị có tới 389 di tích đã được nhà nước đánh giá, xếp hạng, trong đó
có 29 di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia. Đây là những di sản vô cùng quý
giá có giá trị tham quan và nghiên cứu về lịch sử, nghệ thuật kiến trúc cổ nổi bật
như: thành cổ Quảng Trị, đường Hồ Chí Minh huyền thoại, hàng rào điện tử
McNamara, nhà thờ La Vang, làng Địa đạo Vĩnh Mốc, Căn cứ Khe Sanh, làng Vây,
sân bay Tà Cơn, Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, nghĩa trang liệt sĩ Đường 9, nhà tù
Lao Bảo… Những địa danh này làm chúng ta tự hào, giúp chúng ta có nghị lực giữ
Tổ, giữ Tông, giữ sông, giữ núi cho mãi mãi muôn đời.
Một số di tích điển hình
- Thành cổ Quảng Trị
Nằm ngay trung tâm thị xã Quảng Trị, cách quốc lộ 1A hơn 1 km về phía

- Nhà tù Lao Bảo: nằm ở phía tây nam quốc lộ 9, trên địa bàn thôn Duy Tân,
thị trấn Lao Bảo, nguyên là một vùng rừng núi hiểm trở, xa dân cư, gần biên giới
Lào – Việt. Do hội đủ các điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, biệt lập nên dưới thời
phong kiến, triều Nguyễn đã cho xây dựng tại đây một đồn tránh thủ vùng biên giới
gọi là Bảo Trấn lao (Lao Bảo), nơi ở của binh lính thuộc người dân tộc thiểu số và
cũng là nơi lưu đày tù nhân.
- Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn: nằm trên khu đồi Bến Tắt, cạnh đường
quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh, là nơi tưởng niệm và
suy tôn những người con thân yêu của đất nước đã anh dũng hy sinh xương máu của
mình trên trên các nẻo đường Trường Sơn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
19
- Nghĩa trang đường 9: nằm bên cạnh quốc lộ 9, trên vùng đồi thuộc địa bàn
phường 4, TP Đông Hà. Đây là nơi yên nghĩ của hơn một vạn các anh hùng liệt sỹ
của đầy đủ 3 thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và
thanh niên xung phong.
- Cửa Tùng: là điểm du lịch kỳ thú, một vùng đất có nền văn hóa lâu đời, một
cửa biển quan trọng, có bề dày lịch sử của vùng đất Quảng Trị. Cửa Tùng cũng là
tâm điểm của đường chia giới tuyến quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, là
nơi chứng kiến những tội ác dã man của kẻ thù và ghi dấu các chiến công hiển hách
của quân và dân ta.
2.1.2. Thực trạng khai thác và phát triển du lịch
Công tác quảng bá, giới thiệu hình ảnh, tiềm năng du lịch của địa phương
được chú trọng. Tỉnh đã có những cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phần
kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh du lịch và tăng cường đầu tư cho ngành du
lịch. Chỉ tính trong năm 2007, tỉnh đã đầu tư hơn 98,7 tỷ đồng phát triển cơ sở hạ
tầng, nâng tổng vốn đầu tư cho du lịch lên hơn 200 tỷ đồng. Nhiều doanh nghiệp
mạnh dạn bỏ vốn đầu tư xây dựng thêm các loạt cơ sở lưu trú. Đến nay, nhiều khách
sạn đã hoàn thành, đưa vào khai thác như khách sạn Hoàng Long, Melody, Phú Sỹ
Long... nâng tổng số cơ sở lưu trú từ 61 lên 69 khách sạn. Công tác đào tạo đội ngũ
cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ trong ngành du lịch cũng được chú trọng. Đặc

và cơ sở hạ tầng khu vực cửa khẩu quốc tế Lao Bảo. Ngành chức năng của Quảng
Trị cũng cần chỉ đạo các doanh nghiệp mở thêm nhiều tour, tuyến du lịch có thế
mạnh, nhất là tour Caravan đưa khách Thái Lan và xe tay lái nghịch qua hành lang
kinh tế Đông - Tây; Đặc biệt, chú trọng hơn công tác đào tạo, từng bước chuyên
nghiệp hoá hoạt động kinh doanh du lịch. Tỉnh sẽ nghiên cứu một số cơ chế, chính
sách để sớm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương.
2.1.3. Hiệu quả của hoạt động kinh doanh du lịch
Ðể khai thác có hiệu quả tiềm năng, tạo động lực cho thương mại và du lịch
phát triển, tỉnh Quảng Trị đã quan tâm việc quảng bá kết hợp xúc tiến thương mại
thông qua hội thảo, hội chợ quốc tế; thông qua các đối tác theo chuyên ngành có
tiềm lực, vị thế trên thương trường để kêu gọi đầu tư từ bên ngoài vào lĩnh vực
thương mại và du lịch...
21
Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Trị, thời gian qua, ngành du
lịch đã khai thác có hiệu quả tiềm năng nên hoạt động kinh doanh du lịch đã thu
được những kết quả làm tăng ngân sách nhà nước trên địa bàn. Tổng lượng khách
chín tháng đầu năm 2008 đạt 253.500 lượt, trong đó có 202 nghìn lượt khách nội
địa và 51 nghìn lượt khách quốc tế. Tổng doanh thu kinh doanh du lịch đạt 430 tỷ
đồng. Về hoạt động lữ hành, tổng lượt khách chín tháng là 14.665 lượt. Một số
trung tâm lữ hành được tổ chức tốt nên đã thu hút đông khách tham quan, du lịch
như: Trung tâm lữ hành Công ty CP Du lịch Quảng Trị, Trung tâm lữ hành Công ty
CP Mê Công, Trung tâm lữ hành Sê Pôn...
2.2. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN
2.2.1. Vai trò của hệ thống nhà hàng, khách sạn đối với hoạt động kinh doanh
và phát triển du lịch
Hệ thống cơ sở hạ tầng nói chung và nhà hàng, khách sạn nói riêng là một
trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển của ngành du lịch.
Những dịch vụ đi kèm với việc tham quan du lịch là ăn uống, nghỉ ngơi, mua sắm…
Việc đảm bảo tốt những nhu cầu đó sẽ góp phần thu hút một lượng khách đến và
lưu giữ khách với thời gian lâu hơn.

Hiện nay, các cơ sở nhà hàng, khách sạn lớn và có sự đầu từ mạnh mẽ đều
tập trung chủ yếu ở các trung tâm lớn như Thành Phố Đông Hà, Thị xã Quảng Trị,
Khu kinh tế Lao Bảo… ở đây có nhiều điều kiện tốt để phát triển, còn một số ít tập
trung ở các huyện lân cận, đa phần là các nhà nghỉ qua đêm. Với tình hình trên, cần
có sự thiết kế các tuyến, tour du lịch sao cho khai thác hết đươc tất cả các nhà hàng,
khách sạn nhằm tạo tiền đề để phát triển hài hòa trong toàn tỉnh.
2.2.3. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống nhà hàng, khách sạn
Trong cơ cấu doanh thu du lịch, doanh thu từ lưu trú chiếm phần lớn, từ 55-
60%, ăn uống 30-35%, còn các dịch vụ khác chiếm phần còn lại. Có thể thấy doanh
thu từ các nhà hàng, khách sạn là rất quan trọng. Do đó, việc đầu tư vào lĩnh vực
này là rất cần thiết trong sự phát triển của tỉnh.
Nắm bắt xu thế trên các doanh nghiệp tư nhân đã chuyển sang lĩnh vực này
tạo nên sức hút mạnh mẽ cho sự phát triển đi lên của du lịch tỉnh.Nhờ thế mà đã
23
đóng góp vào ngân sách nhà nước một lượng lớn, tạo nên nguồn kinh phí để thúc
đẩy ngành du lịch ngày một phát triển.
Trong những năm gần đây lượng khách đến với Quảng Trị ngày một tăng lên
dẫn theo là doanh thu của các cơ sở ăn uống lưu trú cũng tăng theo thúc đẩy sự phát
triển du lịch của tỉnh tiến lên.
Trong năm 2008 số khách do các cơ sở trên phục vụ là 230000 lượt khách,
trong đó khách quốc tế là 20000 lượt tăng so với các năm trước. Với thời gian lưu
trú là 1,45ngày/người tăng hơn so với các năm trước, nhưng lại thấp so với mặt
bằng chung của cả nước. Lượng khách nội địa trong những năm gần đây bắt đầu gia
tăng mạnh mẽ. Bên cạnh lý do mức sống người dân ngày càng cao, nhu cầu du lịch
trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống sau những ngày làm việc và học hành
căng thẳng, thì một nguyên nhân rất quan trọng khác là sự phát triển mạnh mẽ của
các vùng lân cận như Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng cộng thêm đó là đưa vào hoạt
động các con đương huyết mạch như hành lang Đông Tây, đường mòn Hồ Chí
Minh, con đường di sản miền trung làm cho Quảng Trị ngày càng hấp dẫn với du
khách hơn, lượng khách quốc tế cũng có dấu hiệu khả quan nhung nhìn chung vẫn

thong tin đòi hỏi con người và công việc cần phải giải quyết nhanh và hiệu quả. Do
đó việc áp dụng công nghệ mới là rất cần thiết.
Sự phức tạp của việc làm thủ công và chồng xếp các năm lại làm cho ta khó
mà quản lý, chỉ nhìn được cái lượng bên ngoài chưa nắm rõ được tình hình cốt lõi
như thế nào? Nên làm cho ta có cái nhìn phiến diện một chiều thiếu đi các cơ sở để
đầu tư phát triển đúng hướng. Công nghệ thông tin làm giảm các công việc không
có gì thay đổi so với năm trước cũng như xử lý các thông tin nhanh gọn hơn. Sự
phân tích nhanh và chính xác mà không phải tôt nhiều công sức công với quá nhiều
thong tin. Đặc biệt là việc quản lý hệ thống nhà hàng phát triển hợp lý lại cần có các
công cụ phù hợp mới đảm bảo cho quá trình phát triển của tỉnh được tốt hơn.
Bên cạnh đó là đào tạo chuyên sâu về cách quản lý. Chính sách ngoại giao
cũng là vấn đề quan trọng góp phần thúc đẩy du lịch tỉnh đi lên. Có chính sách thu
hút nguồn lực từ bên ngoài nhằm tạo điều kiện học hỏi, tiếp thu chon lọc các kinh
nghiệp của họ áp dụng vào tỉnh để phát triển thế mạnh của mình.
25

Trích đoạn KHẢ NĂNG KHAI THÁC THÔNG TIN VÀ CẬP NHẬT DỮ LIỆU 1 Khả năng khai thác thông tin của hệ thống cơ sở dữ liệu KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status