BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Tìm hiểu và đánh giá hiệu quả về hoạt
động kinh doanh của VNPT
MỤC LỤC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP 1
Đề tài 1
Tìm hiểu và đánh giá hiệu quả về hoạt động kinh doanh của VNPT 1
MỤC LỤC 2
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường, với các chính sách kinh tế mô
và chiến lược tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển kinh tế thị trường đã, đang và sẽ
đặt nền kinh tế nước ta nói chung và các doanh nghiệp nói riêng đối diện với những thách
thức, khó khăn trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt mang tính quốc tế nhằm giành giật
khách hàng và mở rộng thị trường ngay trong nước cũng như thế giới. Trong nền kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp trong nước phải tự điều hành quản lý các hoạt động sản xuất kinh
doanh một cách có hiệu quả để có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển.
Doanh nghiệp muốn làm được như vậy cần phải đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh
doanh của mình, khi đó doanh nghiệp mới tồn tại trên thị trường và ngày càng phát triển.
Đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, việc kinh doanh có hiệu quả không những tạo
đà cho nền kinh tế phát triển, mà còn góp phần giữ vững định hướng nền kinh tế nước nhà.
Phải luôn giữ vai trò tiên phong trong việc hội nhập kinh tế, hợp tác, kinh doanh có hiệu quả
hơn.
Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam(VNPT) là doanh nghiệp nhà nước, hoạt
động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế
quốc gia. Công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông càng phát triển sẻ thúc đẩy được
nền kinh tế phát triển theo. VNPT cung cấp rất nhiều dịch vụ ra thị trường để đáp ứng
nhu cầu của người tiêu dùng, việc tạo ra dịch vụ đã khó nhưng để đưa chúng vào hoạt
động kinh doanh lại còn khó hơn, khi mà trên thị trường ngày càng có nhiều đối thủ cạnh
tranh xuất hiện. Để cạnh tranh trong một thị trường cạnh tranh cao như vậy, hoạt động
Để đạt được các mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện chuyên đề tôi đã sử dụng
các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp duy vật biện chứng
Thu thập số liệu thứ cấp
Để tìm hiểu tình hình kinh doanh của VNPT tôi tham khảo số liệu từ các nguồn
khác nhau như internet, báo cáo của VNPT TT-HUẾ qua các năm 2007-2009. Ngoài ra,
chuyên đề, luận văn cũng đã được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo và kế thừa một
cách hợp lý trong quá trình thực hiên chuyên đề.
Phân tích thống kê
Trên cơ sở tài liệu đã được tổng hợp, vận dụng các phương pháp phân tích thống
kê như số tương đối, số tuyệt đối, phương pháp so sánh, để phân tích kết quả và hiệu quả
sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm.
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CUA VẤN ĐỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1.1 Cơ sơ lý luận:
1.1.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh:
1.1.1.1 Khái niệm:
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp
chính là hiệu quả kinh doanh vì nó là điều kiện để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát
triển, đạt được lợi nhuận tối đa. Vì vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất
kinh doanh phải đề ra các phương án và các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, biểu hiện
tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác và sử dụng
các nguồn lực trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh của
doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất hay thu được lợi nhuận lớn nhất với chi phí
thấp nhất. Nó phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được so với chi phí đã bỏ ra để đạt
được kết quả đó trong từng thời kỳ.
1.1.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thực chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là nâng cao hiệu
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, chúng ta không chỉ quan tâm đến kết quả
SXKD mà còn quan tâm đến hiệu quả SXKD. Vì chỉ tiêu kết quả chưa nói lên được
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, ta phải biết để đạt được kết quả đó thì doanh nghiệp đã
phải bỏ ra bao nhiêu chi phí, hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất kinh doanh và tiết
kiệm được chi phí đầu vào như thế nào thì mới đánh giá được doanh nghiệp làm ăn có
hiệu quả. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đo chất lượng hoạt động sản xuất kinh
doanh, phản ánh trình độ tổ chức, quản lý sản xuất và là vấn đề sống còn đối với tất cả
các doanh nghiệp.
Hiệu quả SXKD không chỉ đánh giá trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu
vào trong phạm vi doanh nghiệp mà còn nói lên trình độ sử dụng từng nguồn lực trong
từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp, kết quả càng cao và chi phí bỏ ra càng thấp thì
hiệu quả kinh tế càng cao.
Giữa kết quả và hiệu quả có mối quan hệ mật thiết với nhau. Kết quả thu được
phải là kết quả tốt, có ích, nó có thể là một đại lượng vật chất được tạo ra do có chi phí
hay mức độ thoả mãn của nhu cầu và có phạm vi xác định. Hiệu quả SXKD trước hết là
một đại lượng so sánh giữa đầu ra và đầu vào, so sánh giữa chi phí kinh doanh với kết
quả thu được. Như vậy, kết quả và chi phí là hai giai đoạn của một quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí là tiền đề để thực hiện kết quả đặt ra.
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản suất kinh doanh
Trong thời kỳ đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển theo cơ chế thị trường
cùng với sự cạnh tranh gay gắt để tồn tại và phát triển được đòi hỏi các doanh nghiệp
phải tiến hành SXKD có hiệu quả. Để đạt được điều này, các doanh nghiệp phải xác định
được các phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ trong đầu tư, đề ra các giải pháp quản lý và
sử dụng các nguồn lực vốn có. Muốn vậy các doanh nghiệp phải tiến hành phân tích các
nhân tố ảnh hưởng cũng như mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả,
hiệu quả kinh doanh
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp gồm có: môi trường vĩ mô và môi
trường vi mô. Môi trường vĩ mô gồm những lực lượng trên bình diện xã hội rộng lớn có
ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp như các yếu tố kinh tế, xã
hội,chính trị, tự nhiên và kỹ thuật. Môi trường vi mô bao gồm những lực lượng có ảnh
chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa các sản phẩm
và dịch vụ có hàm lượng KHCN cao.
* Yếu tố môi trường tự nhiên
Yếu tố tự nhiên bao gồm nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường
sinh thái, vị trí địa lý của tổ chức kinh doanh…là một trong những yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động SXKD của tất cả các doanh nghiệp.
* Yếu tố xã hội
Các doanh nghiệp cần phân tích các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và
nguy cơ có thể xảy ra, từ đó giúp doanh nghiệp có thể xây dựng các chiến lược kinh
doanh phù hợp với đặc điểm văn hóa xã hội của từng khu vực. Các yếu tố xã hội như dân
số, văn hóa, thu nhập
1.1.2.2 Những yếu tố thuộc môi trường vi mô
* Khách hàng
Khách hàng là những người quyết định quy mô và cơ cấu nhu cầu trên thị trường
của doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng hàng đầu khi xây dựng chiến lược kinh doanh, là
những người quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Do vậy, tìm hiểu
kỹ lưỡng và đáp ứng đủ nhu cầu cùng sở thích thị hiếu của khách hàng mục tiêu sẽ là
điều kiện sống còn cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
* Đối thủ cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường thì sự cạnh tranh là một điều tất yếu, số lượng các đối
thủ cạnh tranh trong ngành càng nhiều thì mức độ cạnh tranh càng gay gắt. Các đối thủ
cạnh tranh và hoạt động của họ luôn được xem là một trong yếu tố ảnh hưởng quan trọng
đến việc ra quyết định kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên trên phương diện xã
hội thì cạnh tranh sẽ có lợi cho người tiêu dùng và thúc đẩy xã hội phát triển. Việc phân
tích các đối thủ cạnh tranh trong ngành nhằm nắm được các điểm mạnh, điểm yếu của
đối thủ để từ đó xác định chiến lược nhằm tạo được thế vững mạnh trên thị trường.
* Các nhà cung ứng
Các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp có
ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Nếu việc cung ứng NVL gặp khó khăn, giá NVL cao
sẽ đẩy giá thành sản xuất lên cao và làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì
Quốc trong quý 3 vừa qua. Đã có 221,8 triệu USD được đầu tư vào 34 công ty IT trong
qúy 3, tăng 85% về vốn đầu tư và 9 dự án so với cùng kì năm trước. Trong công nghiệp
IT thì lĩnh vực dịch vụ thông tin Internet tiếp tục phát triển năng động với 22 dự án và
136,2 triệu USD được đầu tư. Qua 3 quý đầu năm nay, đã có 1,18 tỉ USD đầu tư trực tiếp
vào 145 dự án, cho thấy rõ ràng 2006 sẽ vượt 2005 với tổng số 151 dự án và 1,2 tỉ USD
vốn. Điều này chứng tỏ sự trưởng thành của Trung Quốc trên thị trường vốn liên doanh
toàn cầu.
- Thái Lan: Theo báo The Nation, Uỷ ban Viễn thông Quốc gia ( NTC ) Thái Lan
đã mở cừa thị trường các dịch vụ gọi Internet phone-to-phone Sudharma Yoonaidharma,
thành viên NTC, cho biết các nhà khai thác đã có giấy phép cung cấp dịch vụ Internet từ
bây giờ có thể bắt đầu cung cấp dịch vụ gọi VoIP từ phone-to-phone. Trước đây, NTC đã
cho phép các nhà khai thác có giấy phép cung cấp dịch vụ Internet chỉ được kinh doanh
các cuộc gọi VoIP từ PC tới PC và từ PC tới ĐTDĐ hay tới điện thoại cố định. NTC đã
chỉ định đầu số "06" chủ yếu cho cung cấp dịch vụ VoIP từ phone-to-phone, bao gồm cả
các dịch vụ công nghệ viễn thông mới khác. Kế hoạch đánh số chính thức có thể sẽ được
giới thiệu vào tháng tới. Các nhà khai thác dịch vụ sẽ còn phi báo cáo cho NTC biết chế
độ trả phí kết nối, nó đòi hỏi tất cả các nhà khai thác viễn thông chia sẻ doanh thu thoại
và số liệu giữa các mạng liên quan trong các cuộc gọi trên cơ sở hợp tác. Trong số các
nhà cung cấp các dịch vụ VoIP hiện tại từ PC tới PC và từ PC tới phone gồm CAT
Telecom, True Internet và TT & T.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện có tốc độ phát triển về viễn thông rất
mạnh. Một nửa số quốc gia ở khu vực này có mật độ bao phủ mạng viễn thông cao, điển
hình như khu vực Bắc và Đông Nam Á, Hong Kong, Singapore và Australia. Hai thị
trường tăng trưởng rất mạnh mẽ là Ấn Độ và Việt Nam, bên cạnh Indonesia và Trung
Quốc. Bốn quốc gia này cũng chính là những thị trường quan trọng nhất được nhiều hãng
viễn thông lớn như Andrew đánh giá với tiềm năng cao nhất, chẳng hạn như Việt Nam
với việc xúc tiến triển khai công nghệ 3G.
1.2.2 Tình hình viễn thông Việt Nam.
1.2.2.1 Tình hình viễn thông Việt Nam từ năm 1980 đến năm 1995.
Trong thời gian này, ngành bưu điện là một trong những ngành đi đầu trong công
Năm 2003, ngành Bưu chính, Viễn thông thực sự chuyển từ độc quyền công ty
sang cạnh tranh tất cả các loại dịch vụ. Có tổng số 6 công ty hạ tầng mạng được thiết lập
mạng lưới và cung cấp dịch vụ: Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT),
Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel), Công ty Viễn thông Điện lực (VP Telecom),
Công ty cổ phần dịch vụ BCVT Sài Gòn (SPT), Công ty Cổ phần viễn thông Hà Nội
(Hanoi Telecom) và Công ty Thông tin điện tử Hàng Hải (Vishipel). Trong đó, VNPT,
Viettel và VP Telecom được thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông cố định quốc
tế. Có 5 công ty được thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ thông tin di động gồm: VMS,
Vinaphone, Viettel, SPT và Hanoi Telecom.
Cho đến nay, trên phương diện quản lý vĩ mô, Chính phủ Việt Nam đã cơ cấu lại
Bộ Bưu chính Viễn thông thành Bộ Thông Tin và Truyền thông. Theo đó mở rộng phạm
vi quản lý nhà nước theo xu hướng hội tụ viễn thông – công nghệ thông tin – phát thanh
truyền hình. Chức năng quản lý nhà nước sẽ đáp ứng cả quản lý, cấp cấp phép khai thác
mạng, dịch vụ viễn thông và các nội dung thông tin truyền tải trên mạng. Xu thế này nằm
trong động thái thực hiện cam kết trong WTO, theo đó Nhà nước không can thiệp quá sâu
vào thị trường và hoạt động của doanh nghiệp.
CHƯƠNG 2. KHÁI QUÁT VỀ TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
VIỆT NAM (VNPT)
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển.
Kế thừa 65 năm xây dựng, phát triển và gắn bó trên thị trường viễn thông Việt
Nam, VNPT vừa là nhà cung cấp dịch vụ đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của
ngành Bưu chính, Viễn thông Việt Nam, vừa là tập đoàn có vai trò chủ chốt trong việc
đưa Việt Nam trở thành 1 trong 10 quốc gia có tốc độ phát triển CNTT nhanh nhất toàn
cầu. Với những đóng góp và thành tựu đã đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
Xã hội và Bảo vệ Tổ quốc, VNPT đã vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu
Anh hùng lao động thời kỳ 1999 - 2009 vào ngày 22/12/2009.
Với hơn 90 nghìn cán bộ công nhân viên, hạ tầng công nghệ viễn thông tiên tiến,
mạng lưới dịch vụ phủ sóng toàn bộ 64 tỉnh thành trên cả nước, VNPT tự hào là nhà cung
cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông số 1 tại Việt Nam, phục vụ hơn 71 triệu thuê bao di
động, gần 12 triệu thuê bao điện thoại cố định và khoảng hàng chục triệu người sử dụng
2.4. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của VNPT.
Tích cực chung tay xây dựng cộng đồng.
Ngay từ những ngày đầu thành lập, VNPT đã xác định việc mở rộng và phát triển
mạng lưới bưu chính viễn thông sâu rộng đến khắp mọi miền không đơn thuần là phát
triển kinh doanh mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội lớn, khẳng định giá trị nhân văn của
những dịch vụ kết nối con người. Với sáng kiến xây dựng các điểm Bưu điện văn hóa xã
từ năm 1998, VNPT đã góp phần quan trọng trong việc mang đến cơ hội tiếp cận các dịch
vụ văn minh, các sinh hoạt văn hóa cho người dân ở các khu vực vùng sâu, vùng xa.
VNPT cũng được biết đến là nhà tài trợ chính cho các sự kiện lớn của quốc gia như
SeaGames 2002, hội nghị thượng đỉnh APEC 2006…Các sự kiện mang tầm quốc tế cũng
có dấu ấn của VNPT trong vai trò nhà tài trợ như diễn đàn kinh tế thế giới. Diễn đàn công
nghệ thông tin thế giới…
Với vai trò là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông chủ lực của quốc gia, từ nhiều năm
qua, VNPT luôn đồng hành với các hoạt động đạo tạo nhân lực, tìm kiếm nhân tài trong
lĩnh vực công nghệ thông tin – truyền thông nói riêng cũng như trong xã hội nói chung
bằng các hoạt động: tổ chức cuộc thi “Nhân tài đất Việt”; tài trợ các cuộc thi “Thần đồng
Cty cáp quang và
phụ kiện FOCAL
Công ty VDC
Công ty VASC
Cty TNHH
1TV 100%
vốn điều lệ
Học viện CN
BC-VT
Bệnh viện bưu
điện I,II,III
Bệnh viện điều
dưỡng và phục
hồi chức năng
sở hữu trên 50%
vốn điều lệ
60
viễn
thông
tỉnh/
TP
Các
cty
liên
doanh
về
viên
thông
Tổng
Cty Nhà
Nước
Đất Việt”, Olimpic Tin học của sinh viên, học sinh; trao học bổng “VNPT chắp cánh tài
năng” cho học sinh nghèo vượt khó học giỏi…
VNPT cũng là doanh nghiệp khởi xướng, thực hiện hàng loạt các hoạt động mang
ý nghĩa xã hội như “Hành trình nhân ái” mang lại Tết ấm cho người nghèo; “Tặng xe lăn
cho người khuyết tật”, “Xây nhà tình nghĩa cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, xây dựng
“Mái ấm công đoàn”… Không chỉ vậy, với những người dân gặp khó khăn hoạn nạn do
thiên tai, bão lũ, VNPT luôn sẻ chia với tinh thần tương thân tương ái…
Bắt đầu từ năm 2009, VNPT cũng đã khởi động một hành trình dài hơn 10 năm hỗ
trợ 2 huyện nghèo của tỉnh Lai Châu là Sìn Hồ và Mường Tè góp phần giúp người dân
giảm nghèo nhanh và bền vững trị giá gần 200 tỉ đồng… Cũng bắt đầu từ năm 2009,
VNPT và ngành y tế đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược với mục tiêu là góp phần chung
sức cùng ngành y tế mang đến cho người dân dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt
hơn.
BẢNG 2: THUÊ BAO DỊCH VỤ CỦA VNPT QUA 2 NĂM 2008-2009
Đvt: thuê bao
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009
So sánh
2009/2008
Thuê
bao
% Thuê bao % +/- +/-(%)
Tổng
171,913 100 203,691 100 31,788 18.48
Dịch vụ điện thoại cố định
126,754 73.73 130,940 64.28 4,186 3.31
Dịch vụ điện thoại Gphone
13,783 8.02 24,432 11.99 10,649 77.26
Dịch vụ di động Vinaphone
8,004 4.66 13,287 6.52 5,283 66.01
Dịch vụ Internet
23,372 13.59 35,032 17.2 11,660 49.89
( Nguồn: VNPT Thừa Thiên Huế)
Qua bảng 2 cho ta thấy số lượng thuê bao của doanh nghiệp không ngừng tăng lên
qua từng năm. Năm 2008 số lượng thuê bao là 171,913; đến năm 2009 tăng lên 203,691
thuê bao, tăng về tuyệt đối 31,788 thuê bao và tương ứng là 18.48%. Trong đó số lượng
thuê bao thay đổi cụ thể là: Điện thoại cố định tăng 4,186 tương ứng 3.31%, điện thoại
Gphone tăng 10,649 tương ứng 77.26%, Vinaphone tăng 5,283 tương ứng 66.01% và
Internet tăng 11,660 tương ứng 49.89%. Như vậy dịch vụ Gphone, Vinaphone, Internet
tăng mạnh qua 2 năm, với nền văn minh xã hội ngày càng tiên tiến tầm hiểu biết của
người dân cũng được nâng cao lên. Mọi người luôn cần những sản phẩm đáp ứng nhu của
họ, những phương tiện đó phải thuận tiện trong việc giao tiếp và sử dụng được mọi luc
mọi nơi. Mạng điện thoại di động ra đời đã đáp ứng được nhu cầu đó, và đã được mọi
đồng. Doanh thu của dịch vụ điện thoại Gphone, dịch vụ di động Vinaphone tăng lần lượt
là 74.07% và 40.23% so với năm trước, đồng thời 2 dịch vụ này làm tăng tổng doanh thu
lần lượt là 5,333 tỷ đồng và 6,116 tỷ đồng. Riêng doanh thu của điện thoại cố định giảm
17.65% so với năm trước, làm cho tổng doanh thu giảm 20,409 tỷ đồng. Doanh thu của
điện thoại cố định giảm là do doanh thu bình quân trên mỗi thuê bao cố định giảm, chỉ
còn 60,000đ/tháng, trước năm 2008 doanh thu bình quân trên mỗi thuê bao là 150,000
đ/tháng (trong bảng 1 ta thấy lượng thuê bao cố định tăng lên 4,186 thuê bao).
Bên cạnh đó, ta thấy có sự chuyển dịch cơ cấu doanh thu giữa các loại dịch vụ
trong tổng doanh thu, doanh thu của điện thoại cố định giảm năm 2008 là 68.27% nhưng
đến năm 2009 chỉ còn đóng góp 53.38%. Đồng thời doanh thu của các dịch vụ Gphone,
Vinaphone và Internet tăng lên, trong đó dịch vụ Internet tăng mạnh nhất năm 2008 là
18.51%, năm 2009 có đóng góp là 27.65% trong tổng doanh thu. Các dịch vụ còn lại có
sự chuyển dịch cơ cấu là, dịch vụ Gphone năm 2008 là 4.25%, năm 2009 là 7.02% trong
tổng doanh thu, dịch vụ Vinaphone năm 2008 có đóng góp là 8.97% và năm 2009 là
11.95% trong tổng doanh thu
Biểu đồ: Cơ cấu doanh thu 2008-2009
3.2 Tình hình sử dụng các dịch vụ bưu chính viễn thông qua 3 năm (2007-2009)
3.2.1 Số lượng sử dụng các dịch vụ bưu chính viễn thông
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 So sánh
Số
lượng
Số
lượng
Số
lượng
2008/2007 2009/2008
+/-
%
chuyển tiền rất phức tạp và thời gian nhận được tiền lâu cách 2 đến 3 ngày. Thư từ qua
đường bưu điện cũng giảm là vì công nghệ thông tin phát triển mạnh, mạng Internet đều
có mặt ở mọi nơi và mạng điện thoại di động ra đời, đã tạo điều kiện liên lạc và trò
chuyện với nhau dễ dàng hơn, trong khi đó viết thư lại mất thời gian hơn. Báo chí phát
hành tốc độ phát triển qua từng năm đều tăng lên, năm 2008 so với 2007 tăng 8.63% và
năm 2009 so với năm 2008 tăng 34.01%. Dịch vụ này tăng lên là do mức sống của người
dân tăng lên, sự gia tăng dân số và nhu cầu muốn tìm kiếm và nắm bắt thông tin. Điện
thoại đường dài tốc độ phát triển qua 3 năm có xu hướng giảm, năm 2008 so với 2007
tăng 9.11% và năm 2009 so với 2008 giảm manh 43.61%. Dịch vụ này giảm là do mạng
viễn thông di động phát triển, mọi người ít có nhu cầu đến các đại lý bưu điện để gọi điện
điện, nên làm cho dịch vụ gọi điện đường dài giảm xuống.
3.2.2 Doanh thu của bưu chính viễn thông
BẢNG 5: DOANH THU CỦA BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG QUA 3 NĂM
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm 2007 2008 2009
So sánh
2008/2007 2009/2008
+/- %(+/-) +/- %(+/-)
Doanh thu 46,638 55,500 78,000 8,862 19 22,500 40.54
( Nguồn: VNPT Thừa Thiên Huế)
Qua bảng 5, Doanh thu của dịch vụ bưu chính viễn thông đều tăng qua 3 năm,
năm 2008 so với 2007 tăng 19% tương ứng với 8,862 tỷ đồng , năm 2009 so với 2008
tăng 40.54% tương ứng với 22,500 tỷ đồng. Doanh thu tăng qua 3 năm là do nhu cầu sử
dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông của mọi người dân đều tăng lên. Do ảnh hưởng của
cơ cấu tiêu thụ dịch vụ bưu chính, viễn thông ở bảng 4.
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ BIỆN PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
4.1 Phướng hoạt động của công ty trong thởi gian tới.
4.1.1 Cơ sở xây dựng định hướng
Từ việc phân tích hoạt động kinh doanh (ở chương 3), để định hướng cho hoạt