KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Nằm tận cùng của dải đất miền Trung nhiều nắng gió, tiếp giáp với
Vũng Tàu - Đồng Nai – Thành phố Hồ Chí Minh đầy năng động, bên cạnh
Lâm Đồng sương mù thơ mộng; biển trời Bình Thuận thật hiền hòa, êm ả và
quyến rũ lòng du khách. Với 192 km bờ biển, hàng trăm ngàn ha rừng tự
nhiên, những đồi cát, những hòn đảo thơ giữa biển, những con thác, con
suối..., thiên nhiên đã ưu đãi cho Bình Thuận một tiềm năng du lịch thật
tuyệt vời. Nếu như đất Bình Thuận ngày xưa chỉ được biết đến với sự khô
hanh, toàn nắng và cát, thì ngày nay miền đất ấy đã thay đổi hoàn toàn. Nếu
những du khách đã từng đặt chân tới Bình Thuận nhận xét về nơi đây, họ sẽ
bảo rằng: “Mảnh đất và con người Bình Thuận thật hiền hòa như chính tên
gọi của nó”. Sức sống mãnh liệt của đất và người Bình Thuận đang trỗi dậy,
để biến nơi đây thực sự là “Điểm đến của thiên niên kỷ mới”.
Có thể thấy rõ ràng rằng du lịch chính là lợi thế phát triển của Bình
Thuận. Khi mà tiềm lực kinh tế của tỉnh còn nhiều yếu kém, thì việc phát
triển du lịch dựa vào tiềm năng tự nhiên trời phú là một hướng đi đầy triển
vọng cho nền kinh tế của tỉnh. Nhận thức được tiềm năng ấy, chính quyền
tỉnh Bình Thuận đã quyết định đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
của tỉnh. Du lịch là một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, và hơn thế
nữa, sự phát triển của ngành dịch vụ này sẽ kéo theo sự phát triển của rất
nhiều ngành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, công
nghiệp - xây dựng...
Mục tiêu là vậy, nhưng để thực hiện được mục tiêu đó đòi hỏi rất
nhiều nỗ lực phấn đấu. Không chỉ là sự nỗ lực của chính quyền và nhân dân
địa phương, mà còn nhờ đến sự chung tay góp sức của các nhà đầu tư trong
và ngoài nước. Vốn là một tỉnh nghèo, nội lực chưa đủ mạnh, Bình Thuận
vẫn rất cần đến các nhà đầu tư bên ngoài để tăng cường nguồn vốn đầu tư
phát triển.
Từ khi có chính sách mở cửa của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
2010” để nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp cử nhân Hành chính hệ chính quy.
Nội dung luận văn sẽ tìm hiểu xem tại sao nhà đầu tư lại lựa chọn
Bình Thuận để đầu tư du lịch; doanh nghiệp FDI sẽ cần gì ở địa phương khi
quyết định đầu tư một dự án, và Bình Thuận hiện đã đáp ứng được tới đâu
các nhu cầu đó của nhà đầu tư. Trên cơ sở phân tích thực trạng, tìm ra
nguyên nhân, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm tăng khả năng thu hút
nguồn vốn FDI vào phát triển du lịch - một ngành công nghiệp xanh cho tỉnh
Bình Thuận.
2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
♦ Mục đích của luận văn là nhằm nêu lên toàn diện thực trạng của
đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với lĩnh vực du lịch tại tỉnh Bình Thuận từ
năm 1988 đến nay, đánh giá những đóng góp của nó trong nền kinh tế xã hội
của tỉnh, cũng như những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó. Luận
văn cũng hệ thống lại các văn bản pháp lý của Trung ương và địa phương về
vấn đề này, nêu lên các nhân tố tác động, những cơ hội, thách thức trong thời
gian tới; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thiết thực đồng bộ trong quản
lý Nhà nước, góp phần đề xuất, gợi ý cho địa phương đẩy mạnh được thu hút
đầu tư nước ngoài trong việc phát triển ngành du lịch của tỉnh nhà.
♦ Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
- Nêu các khái niệm, đặc đểm của đầu tư nước ngoài và của ngành
du lịch.
- Nghiên cứu các nhân tố tác động đến quy mô dòng vốn đổ vào địa
phương, thực trạng và xu hướng của dòng vốn FDI trong bối cảnh
hiện nay
- Nghiên cứu thực trạng đầu tư nước ngoài đối với lĩnh vực du lịch
trên địa bàn tỉnh Bình Thuận.
- Phân tích hệ thống chính sách của Trung ương và địa phương trong
1.1.1. Khái niệm, các hình thức và vai trò của đầu tư nước ngoài:
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài:
Khái niệm:
Trong cuộc sống, đầu tư là một hoạt động rất phong phú, đa dạng, do
đó cũng có khá nhiều cách hiểu về khái niệm này.
Xét theo nghĩa gốc, «đầu tư» (Investment) là chỉ sự chi phí, hi sinh các
nguồn lực ở hiện tại (thời gian, sức lực, tiền bạc...) vào hoạt động nào đó của
con người nhằm thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai. (Trích Tài liệu
tham khảo số [23])
Người Pháp có sự phân biệt rõ ràng giữa 2 khái niệm «Đầu tư»
(investissement) và «dùng tiền sinh lãi» (Placement). Placement tức là dùng
tiền để mua thứ gì đó cho thuê chẳng hạn, vậy nó sinh lời cho người đó
nhưng thực ra tổng đầu tư xã hội không tăng. Còn investissement là xây nhà
máy, xây dựng cơ sở vật chất, trồng cây nông lâm nghiệp...,hoạt động này
làm tăng tổng đầu tư xã hội. [16]
Người Mỹ lại không phân biệt những khái niệm này. Họ gọi chung
đầu tư và dùng tiền sinh lãi là «investment». [16]
Theo Luật đầu tư năm 2005, Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng
các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định của Pháp luật. [2]
Như vậy, để phân biệt một hoạt động có phải là đầu tư hay không, ta
có thể dựa vào 2 đặc trưng sau của đầu tư :
- Tính sinh lãi: mục đích của việc đầu tư là sinh lãi. Chẳng hạn nếu
như ta bỏ tiền ra chỉ để mua một thứ hàng hóa cho tiêu dùng thì
không gọi là đầu tư vì nó không vì mục đích sinh lãi.
- Tính rủi ro: Mục đích của đầu tư là sinh lãi, nhưng không phải hoạt
động đầu tư nào trên thực tế cũng có lãi, mà có khi bị lỗ. Đó là do
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
4
chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản
lý... nhằm tối đa hóa lợi ích của mình.
Nguyên nhân cơ bản của sự di chuyển vốn đầu tư dưới hình thức này là
do có sự chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận xuất phát từ lợi thế so sánh khác nhau
giữa các quốc gia. Xu thế tự do hóa thương mại, đầu tư và tài chính ngày càng
tăng trên thế giới hiện nay chính là điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển vốn
đầu tư trên thế giới.
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài biểu hiện sự gặp nhau giữa cung và cầu, đó
là giữa lợi ích của nhà đầu tư và nhu cầu của nước tiếp nhận đầu tư. Khi việc
đầu tư ở trong nước không còn mang lại nhiều lợi nhuận, các nhà đầu tư có sự
chuyển hướng đưa vốn đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng được chi phí sản
xuất rẻ hơn. Còn đối với nước nhận đầu tư, FDI sẽ là một nguồn vốn bổ sung
quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước, đổi mới công nghệ,
điều chỉnh cơ cấu kinh tế...
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu tuỳ theo
quy định trong luật đầu tư của nước chủ nhà. Chẳng hạn như ở Việt Nam, luật
Đầu tư nước ngoài quy định số vốn góp tối thiểu của phía nước ngoài phải
bằng 30% vốn pháp định của dự án.
Quyền quản lý công ty phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng góp
100% vốn thì công ty hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành.
Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Lời và lỗ được phân chia theo tỷ lệ vốn
góp trong vốn pháp định sau khi đã nộp thuế lợi tức cho Nhà nước.
Tại các nước đang phát triển, FDI khác với các nguồn vốn đầu tư khác
ở chỗ: FDI có khuynh hướng bổ sung vào đầu tư tư nhân và khu vực mậu dịch
và làm gia tăng đầu tư trong khu vực tư nhân. Trong khi đó viện trợ hoặc các
khoản vay từ ngân hàng nước ngoài có khuynh hướng bổ sung vào khu vực
hơn. Theo Luật đầu tư 2005, đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm các hình thức
đầu tư như sau :
1. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài.
2. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài.
3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng
BTO, hợp đồng BT.
4. Đầu tư phát triển kinh doanh.
5. Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
6. Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
7. Các hình thức đầu tư trực tiếp khác. [1]
Các hình thức đầu tư trên có thể gom lại thành 4 nhóm chính như sau:
Nhóm 1: Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế:
Tổ chức kinh tế có thể gồm 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc
liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Tổ chức kinh tề có thể là:
a) Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
b) Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư
và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật;
c) Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ
sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;
d) Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Nhóm 2: Đầu tư theo hợp đồng
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
7
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
Có nhiều hình thức đầu tư theo hợp đồng, trong đó điển hình có các
hình thức: BCC, BOT, BTO, BT.
Hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC:
Hợp đồng BCC là tên gọi tắt của Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án
khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo
thoả thuận trong hợp đồng BT. [1]
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
8
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở
rộng, hiện đại hóa và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao
thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các
lĩnh vực khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Chính phủ quy định lĩnh vực đầu tư, điều kiện, trình tự, thủ tục và
phương thức thực hiện dự án đầu tư; quyền và nghĩa vụ của các bên thực
hiện dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp
đồng BT.
Nhóm 3: Đầu tư phát triển kinh doanh
Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức
sau đây:
1. Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh;
2. Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm
môi trường.
Nhóm 4: Góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại
Hình thức này bao gồm cả việc mua cổ phần, góp vốn để tham gia quản
lý hoạt động đầu tư hoặc đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh
nghiệp.
Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số
lĩnh vực, ngành, nghề và điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo
quy định của Pháp luật.
1.1.1.2. Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt
Nam trong công cuộc CNH – HĐH:
nhập kinh tế quốc tế, phát triển quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương
hóa, đa dạng hóa vì lợi ích chung, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường
quốc tế. Chỉ tính riêng trong 5 năm (2001 – 2005) tổng vốn FDI đăng ký đạt
18,1 tỷ USD, và thực hiện được 13,6 tỷ, chiếm gần 17% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội, giá trị xuất khẩu không kể dầu khí đạt 34,2 tỷ USD , chiếm trên
31% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nộp ngân sách Nhà nước
khoảng 3,4 tỷ USD. [18]
Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình tích tụ và
tăng trưởng các nguồn lực như vốn, kỹ năng lao động, công nghệ. Các
nước nghèo như nước ta thường bị vướng vào một vòng lẩn quẩn: thu
nhập thấp do đó tích lũy thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư, vốn đầu tư thấp
dẫn đến không phát triển được sản xuất kinh doanh, không nâng cao
được thu nhập của người lao động, thu nhập thấp lại dẫn đến tích lũy
thấp... Do đó, đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp sẽ là nguồn
vốn bổ sung rất quan trọng cho các nước nghèo trong quá trình phát triển
kinh tế.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì đầu tư nước ngoài
là một nguồn vốn rất quan trọng để phát triển kinh tế đất nước. Mặc dù tài
nguyên thiên nhiên của chúng ta dồi dào, nguồn nhân lực lớn, nhưng do tốc
độ phát triển kinh tế chậm chạp, tỷ lệ gia tăng dân số lại nhanh; do đó, Việt
Nam cũng như các nước đang phát triển khác luôn rơi vào tình trạng thiếu
vốn để đầu tư sản xuất và tự biến mình thành thị trường tiêu thụ hàng hóa
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
của các nước khác. Để đánh thức các tiềm năng, lợi thế của đất nước nhằm
phát triển kinh tế quốc gia, chúng ta rất cần vốn đầu tư. Do vậy, ngoài nguồn
vốn hạn hẹp trong nước, cần phải tăng cường thu hút nguồn đầu tư dồi dào ở
nước ngoài.
Trong công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước hiện
hội 5 năm 2006 – 2010 như sau:
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
11
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
Đơn vị: Nghìn tỷ đồng (theo giá hiện hành)
Ước thực hiện 2000-2005 Kế hoạch 2006 - 2010
Tổng số Cơ cấu (%) Tổng số Cơ cấu (%)
TỔNG SỐ 1191,2 100 2675 100
Vốn thuộc khu vực
Nhà nước
619,4 52 1203 45
Vốn đầu tư của dân
cư và tư nhân
345,3 29 911 34,1
Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài
193,5 16,2 460,5 17,2
Nguồn vốn khác 33,0 2,8 100,5 3,7
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư) [18]
1.1.2. Khái niệm, các hình thức và vai trò của ngành du lịch:
1.1.2.1. Khái niệm:
Tại Pháp, người ta gọi du lịch là “Le tourisme”. Chữ này có nguồn
gốc từ danh từ “le tour” tức là đi một vòng. “Le Tour” có nghĩa đen là sự lữ
hành được kết thúc bằng việc quay về điểm xuất phát ban đầu. Yếu tố căn
bản của du lịch là sự ra đi hay lữ hành. Tuy nhiên trong du lịch loại trừ
những trường hợp du canh du cư, tức là phải có định cư mới có du lịch. Nói
cách khác, du lịch chỉ được tính đối với người có nơi cư trú định cư thường
xuyên ở một nơ nào đó của một quốc gia. Sau chuyến lữ hành, du khách lại
trở về nơi sống thường xuyên của mình. [27]
Trước đây, người ta cho rằng thời gian ra đi của một du khách không
− Du lịch để giải trí, dưỡng bệnh, hồi phục sức khoẻ.
− Du lịch sinh thái, tìm hiểu môi trường thiên nhiên khác lạ, giao lưu với
các nền văn hóa, dân tộc khác nhau.
− Du lịch vì mục đích nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử, văn hóa, phong tục
tập quán...
− Du lịch kết hợp với thăm hỏi, đoàn tụ, lễ tết, nghỉ ngơi...
− Du lịch kết hợp với thể thao, hội hè, tôn giáo.
− Du lịch kết hợp với hội thảo, ngoại giao, văn hóa nghệ thuật, nghiên
cứu thị trường, triển lãm, buôn bán, giao dịch, hội chợ...
− Du lịch vì nhu cầu nếp sống hưởng thụ với chất lượng cao của tầng
lớp thượng lưu như chơi gofl, sống trên tàu du lịch...
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
13
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
1.1.2.2. Các hình thức du lịch ở nước ta và ở tỉnh Bình Thuận hiện
nay:
Các hình thức du lịch ở nước ta hiện nay khá đa dạng, phong phú. Tùy
thuộc vào đặc điểm tự nhiên của từng vùng mà có lợi thế phát triển cho một
số những loại hình du lịch khác nhau. Nhìn chung những hình thức du lịch
phổ biến nhất ở nước ta hiện nay là:
Hình thức du lịch nghỉ dưỡng:
Đây là một trong những hình thức du lịch phổ biến nhất ở nước ta hiện
nay. Du lịch nghỉ dưỡng là hình thức du lịch gắn với các hoạt động nghỉ
ngơi, thư giãn của khách du lịch, thường là ở các khách sạn nhà hàng, ở các
resort, khu du lịch nghỉ dưỡng...
Hình thức du lịch sinh thái:
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản
sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triền bền
vững.
Du lịch sinh thái thông thường gồm hai loại hình là du lịch sinh thái
để phát triển du lịch Spa. Bính Thận cũng là một tỉnh rất đông người Chăm
sinh sống, nhiều tôn giáo phát triển và nhiều loại hình văn hóa, lễ hội đặc
sắc, do đó dễ dàng thu hút khách du lịch vào hình thức du lịch văn hóa, tín
ngưỡng. Ở đây cũng có rất nhiều những làng nghề truyền thống như nghề cá,
nghề làm nước mắm... có thể phát triển du lịch làng nghề. Đặc biệt ở Bình
Thuận, các khu vực đô thị thường hay tổ chức hội họp lại nằm kề với những
nơi có nhiều phong cảnh đẹp (như Phan Thiết, ...), vì vậy loại hình du lịch
Mice rất có tiềm năng phát triển. [17]
1.1.2.3. Vai trò của ngành du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội:
Du lịch là một ngành quan trọng trong khối ngành dịch vụ - một khối
ngành chiến tỷ trọng ngày càng cao trong nền kinh tế hiện đại. Để tiến lên
Công nghệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, một trong những nhiệm vụ hàng
đầu của nước ta là phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trong đó giảm tỷ trọng
nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Muốn vậy, chúng ta phải
ra sức phát triển các ngành dịch vụ mũi nhọn. Nước ta là một nước có tiềm
năng lớn về du lịch với rất nhiều những cảnh quan đẹp, một nền văn hóa lâu
đời và vật giá khá rẻ, là những yếu tố hấp dẫn đối với khách du lịch. Vì vậy
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của ta đã xác định coi du lịch là một
trong những ngành kinh tế mũi nhọn.
Phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển trên nhiều lĩnh vực khác,
đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
− Sự mua hàng hóa trực tiếp của du khách đã tạo ra khả năng xuất khẩu
tại chỗ, kích thách các ngành sản xuất trong nước, nhất là các mặt
hàng truyền thống và hàng thủ công mỹ nghệ (như dệt thổ cẩm, thêu,
đan lát, gốm sứ, tranh ảnh...)
− Du lịch giúp tạo ra các lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch, các vườn quốc gia,
công viên du lịch..., đẩy mạnh việc bảo vệ môi sinh, môi trường.
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
15
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
tự nhiên là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến đầu tư. Một khí hậu
tốt, phong cảnh đẹp, đa dạng, vị trí địa lý thuận lợi sẽ là động lực thu hút các
dòng vốn đổ vào đầu tư du lịch.
Thứ hai: Qui mô thị trường của tỉnh
Quy mô thị trường là một chỉ tiêu quan trọng để đo lường hiệu quả các
hoạt động kinh tế của tỉnh. Quy mô thị trường càng lớn thì càng cung cấp
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
16
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư. Nói cách khác, quy mô thị trường tỷ lệ
thuận với lợi thế kinh tế đầu tư. Một trong các chỉ tiêu quan trọng của quy
mô thị trường là tổng sản phẩm nội địa GDP.
Thứ ba: Trình độ phát triển kinh tế của tỉnh
Trình độ phát triển kinh tế bao gồm các chỉ tiêu về kinh tế xã hội của
một tỉnh. Mức độ phát triển kinh tế ngày càng cao không chỉ thể hiện các
hoạt động kinh tế tốt và sức mua của thị trường ngày càng lớn mà còn bao
hàm cả năng suất lao động, chất lượng lao động, công nghệ hiện đại, cơ sở
vật chất hạ tầng tốt và môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện. Trình độ
phát triển kinh tế của tỉnh có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với dòng vốn đầu tư. Chỉ
tiêu đo lường chính của nhân tố này là GDP bình quân đầu người.
Thứ tư: Các chi phí lao động của tỉnh
Theo nhiều nhà đầu tư khi tiến hành việc khảo sát môi trường đầu tư
trước khi đầu tư, họ rất quan tâm đến vấn đề nguồn nhân lực tại chỗ và tính
toán rất kỹ chi phí đầu tư cho tuyển dụng và đào tạo. Một trong những chi
phí quan trọng nhất quyết định đến dòng vốn đầu tư là mức lương. Mức
lương có quan hệ tỷ lệ nghịch với dòng vốn đầu tư. Tuy nhiên, mức lương
còn tùy thuộc vào năng xuất lao động. Nếu năng suất lao động thấp thì mức
lương sẽ thấp. Do đó chi phí lao động được các nhà đầu tư tính toán ở đây
không phải là số tiền lương thực tế đơn thuần mà nhân công nhận được, mà
là số tiền lương tính theo hiệu quả công việc. Do đó, đối với địa phương, một
cho các nguồn lực truyền thống (cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực...) khó khăn
và cần thời gian dài; thì việc xem thể chế chính sách như một nguồn lực để
phát triển là một lợi thế cứu cánh. Vì thể chế chính sách là một nguồn lực dễ
tạo ra nhất, ít tốn kém nhất, cũng không đòi hỏi thời gian quá dài mới có
được., trong khi tác dụng ảnh hưởng của nó đến việc thu hút đầu tư lại rất
lớn.
1.2. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ
MỘT SỐ TỈNH THÀNH TRONG NƯỚC VỀ THU HÚT FDI VÀ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH :
1.2.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới:
1.2.1.1. Quản lý Nhà nước về các dự án FDI tại Hàn Quốc:
Hàn Quốc là một quốc gia vươn lên từ những món nợ nần khổng lồ.
Bắt đầu từ năm 1960, nợ nước ngoài của Hàn Quốc ngày càng tăng; cho tới
năm 1971 đã tăng lên chiếm 30% trong tổng thu nhập từ nhập khẩu. Cùng
với vấn đề quản lý nợ, Hàn Quốc còn phải đối đầu với sự suy yếu của kinh tế
đất nước như giảm tỷ lệ gia tăng GNP và xuất khẩu, tỷ lệ lạm phát ngày càng
tăng. Trước tình hình đó, Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách để cải cách
nền kinh tế, trong đó có việc chuyển từ chính sách hạn chế đầu tư trực tiếp
nước ngoài sang một chính sách có tính lưa chọn hơn.
Năm 1973, Đạo luật khuyến khích đầu tư của nước ngoài (the Foreign
Captail Inducement Act – FCIA) đã được thông qua nhằm khuyến khích
những đầu tư nước ngoài phù hợp với mục đích phát triển của Hàn Quốc, và
hạn chế sự tham gia của nước ngoài vào các xí nghiệp mới. Ngoài ra, Chính
phủ còn thiết lập một bộ máy hành chính khoa học, có hiệu quả để đáp ứng
hoạt động đầu tư nước ngoài.
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
18
Công ty
trong nước
Công ty
cơ quan
ngang bộ
FCIDC
FCDRVC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
- Sau khi được Bộ tài chính cấp giấy phép, nhà đầu tư nước ngoài phải
đệ trình danh mục về hàng hóa và số tư bản cụ thể cho Bộ tương quan
để xin phép loại hàng nhập khẩu.
- Giấy phép này phải được chuyển cho cơ quan hải quan.
Vào năm 1981, để nâng cao sức cạnh tranh của Hàn Quốc trên trường
quốc tế, Chính phủ đã thông qua một chính sách thúc đẩy đầu tư trực tiếp.
Theo đó đã loại bỏ hầu hết những điều khoản khắc nghiệt về đầu tư nước
ngoài. Tiếp sau đó là hàng loạt những chính sách khác nhằm ưu đãi cho nhà
đầu tư nước ngoài.
Điểm đáng lưu ý trong việc quản lý Đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc
là chính phủ đã có một nền tảng hành chính rộng lớn để kiểm soát đầu tư của
nước ngoài. Các nguyên tắc đã được áp dụng một cách linh hoạt nên chính
phủ đã có quyền quyết định theo ý mình nội dung các dự án. Ví dụ: nếu như
dụ án nào được coi là gắn liền với các vấn đề của quốc gia như: phát triển
kinh tế, phúc lợi xã hội hay tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế; Bộ Tài
chính có quyền thông qua các dự án này ngay cả khi dự án đó không được đề
cập trong hướng dẫn chung. Đồng thời, chính phủ Hàn Quốc cũng khuyến
khích đầu tư vào các liên doanh có tầm quan trọng đặc biệt. Ví dụ, nếu một
dự án nào đó được coi là nhằm chuyển giao kỹ thuật thì việc thông qua dự án
sẽ được áp dụng linh hoạt mà không tính đến tiền nộp tuỳ thuộc vào tài sản
của đối tác trong nước. Các công ty nước ngoài liên doanh với những công
ty cỡ vừa và nhỏ của Hàn Quốc có lợi từ những ưu tiên này. Nói chung, hệ
thống quản lý của Nhà nước Hàn Quốc khá cứng rắn và hiệu quả, luôn đảm
nhận một vai trò lớn hơn, áp đặt hơn và quyết đoán trong quan hệ với các
nhà đầu tư. Chính phủ chỉ chấp nhận những dự án có khả năng thắng lợi
điểm miền Trung, là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển nhiều
ngành nghề, trong đó có ngành du lịch. Tại đây phong cảnh hữu tình, lại có
nhiều di tích lịch sử, nhiều thành quách cổ xưa. Trong những năm qua, với
những cơ chế chính sách cởi mở của Chính phủ Trung ương và của tỉnh đã
thu hút nhiều nhà đầu tư đến với tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện nay tại đây có
nhiều dự án phát triển du lịch như: khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng quốc
tế Lăng Cô; Trung tâm giải trí hồ Thủy Tiên - Đồi Thiên An; khu du lịch
sinh thái Bạch Mã; khu du lịch Hồ Truồi - Nhị Hồ - Suối Voi; xây dựng làng
văn hóa dân tộc Pacô - Tà Ôi; khu du lịch suối nước nóng A Roàng - A
Lưới...
Chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế luôn sẵn sàng mở rộng cửa mời
gọi các doanh nhân Việt kiều và nước ngoài về cố đô Huế. Tỉnh chủ trương:
- Sẽ góp sức với các nhà đầu tư phát triển địa phương với sự ưu đãi
tối đa dựa trên chính sách đầu tư của nhà nước. Đồng thời, Sở Kế hoạch và
Đầu tư tỉnh luôn túc trực 24/24h để giải quyết tất cả những gì mà các nhà
đầu tư cần tới.
- Ngoài các chính sách ưu đãi chung đã được quy định, tỉnh Thừa
Thiên Huế có các chính sách ưu đãi cụ thể về thuế, tài chính; ưu đãi về tiền
thuê đất, giải phóng mặt bằng; ưu đãi về hỗ trợ tín dụng; chính sách hỗ trợ
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
21
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
đào tạo, cung ứng lao động. Theo đó, nhà đầu tư được tỉnh hỗ trợ 100%
thuế thu nhập doanh nghiệp thực nộp (phần ngân sách tỉnh được hưởng) kể
từ khi có thu nhập chịu thuế trong 4 - 8 năm tùy thuộc vào địa bàn, ngành
nghề đầu tư…; miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản, lắp đặt
thiết bị, chạy thử và tạm ngừng sản xuất, các dự án đầu tư vào khu du lịch
Bạch Mã, huyện Nam Đông và huyện A Lưới được miễn thuê đất trong
suốt thời gian thực hiện dự án. Đền bù, giải phóng mặt bằng giao cho nhà
đầu tư trong thời hạn tối đa 60 ngày kể từ ngày chủ đầu tư ký hợp đồng
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH
22
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỀ LĨNH VỰC DU LỊCH
TẠI TỈNH BÌNH THUẬN
2.1. TỔNG QUAN VỀ TỈNH BÌNH THUẬN:
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý:
Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ, được phân công vào
vùng kinh tế Đông Nam Bộ, có mối liên hệ chặt chẽ với vùng Đông Nam Bộ
và nằm trong khu vực ảnh hưởng của địa bàn Kinh tế Trọng điểm phía Nam;
gần Thành phố Hồ Chí Minh, là điểm trung tâm của 3 vùng kinh tế Tây
Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.
Địa bàn tỉnh có toạ độ địa lý như sau:
- Kinh độ: 107
0
24’E - 108
0
23’E
- Vĩ độ: 10
0
33’N - 11
0
33’N
Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc - Tây Bắc giáp tỉnh
Lâm Đồng, phía Đông - Đông Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, và phía Tây - Tây
Nam giáp tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng
tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Diện tích tự nhiên của tỉnh khá rộng: 7.992 km
2
. Đại bộ phận lãnh thổ là
đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp. Địa hình hẹp ngang, kéo dài theo
hướng Đông Bắc – Tây Nam, phân hóa thành 4 dạng địa hình sau:
- Đồi cát và cồn cát ven biển chiếm 18,22% diện tích tự nhiên phân bố
dọc ven biển từ Tuy Phong đến Hàm Tân; rộng lớn nhất là ở Bắc Bình: dài
khoảng 52 km, rộng 20 km. Địa hình chủ yếu là những đồi lượn sóng. Đây là
một trong những đặc điểm đặc thù thu hút du lịch của tỉnh.
- Đồng bằng phù sa chiếm 9,43% diện tích tự nhiên gồm: Đồng bằng
phù sa ven biển ở các lưu vực từ sông Lòng Sông đến sông Dinh, nhỏ hẹp,
độ cao từ 0 – 12m. Đồng bằng thung lũng sông La Ngà, độ cao từ 90– 120m.
- Vùng đồi gò chiếm 31,66% diện tích, độ cao 30 – 50m kéo dài theo
hướng Đông Bắc Tây Nam từ Tuy Phong đến Đức Linh.
- Vùng núi thấp chiếm 40,7% diện tích. Đây là những dãy núi của khối
Trường Sơn chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam từ phía bắc huyện Bắc
Bình đến đông bắc huyện Đức Linh.
Cũng như các tỉnh ven biển miền Trung, Bình Thuận có sự phân hóa
địa hình theo hướng vuông góc với bờ biển. Đặc trưng nổi bật nhất là tính
phân bậc của địa hình, giảm dần theo hướng biển. Đặc điểm địa hình cũng là
một trong những yếu tố quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư quan
tâm đến lĩnh vực đầu tư phát triển ngành du lịch. [15, 29]
2.1.2. Tình hình kinh tế xã hội:
Về tổ chức hành chính, tỉnh Bình Thuận có 1 thành phố thuộc tỉnh và 8
huyện bao gồm: Thành phố Phan Thiết, huyện Tuy Phong, huyện Bắc Bình,
huyện Hàm Thuận Bắc, huyện Hàm Thuận Nam, huyện Hàm Tân, huyện
Tánh Linh, huyện Đức Linh và huyện đảo Phú Quý. Thành phố Phan Thiết
là tỉnh lỵ, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh.
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH