Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư nước ngoài về lĩnh vực du lịch tại tỉnh bình thuận giai đoạn 2006 - 2010 - Pdf 10

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Nằm tận cùng của dải đất miền Trung nhiều nắng gió, tiếp giáp với
Vũng Tàu - Đồng Nai – Thành phố Hồ Chí Minh đầy năng động, bên cạnh
Lâm Đồng sương mù thơ mộng; biển trời Bình Thuận thật hiền hòa, êm ả và
quyến rũ lòng du khách. Với 192 km bờ biển, hàng trăm ngàn ha rừng tự
nhiên, những đồi cát, những hòn đảo thơ giữa biển, những con thác, con
suối..., thiên nhiên đã ưu đãi cho Bình Thuận một tiềm năng du lịch thật
tuyệt vời. Nếu như đất Bình Thuận ngày xưa chỉ được biết đến với sự khô
hanh, toàn nắng và cát, thì ngày nay miền đất ấy đã thay đổi hoàn toàn. Nếu
những du khách đã từng đặt chân tới Bình Thuận nhận xét về nơi đây, họ sẽ
bảo rằng: “Mảnh đất và con người Bình Thuận thật hiền hòa như chính tên
gọi của nó”. Sức sống mãnh liệt của đất và người Bình Thuận đang trỗi dậy,
để biến nơi đây thực sự là “Điểm đến của thiên niên kỷ mới”.
Có thể thấy rõ ràng rằng du lịch chính là lợi thế phát triển của Bình
Thuận. Khi mà tiềm lực kinh tế của tỉnh còn nhiều yếu kém, thì việc phát
triển du lịch dựa vào tiềm năng tự nhiên trời phú là một hướng đi đầy triển
vọng cho nền kinh tế của tỉnh. Nhận thức được tiềm năng ấy, chính quyền
tỉnh Bình Thuận đã quyết định đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
của tỉnh. Du lịch là một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, và hơn thế
nữa, sự phát triển của ngành dịch vụ này sẽ kéo theo sự phát triển của rất
nhiều ngành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, công
nghiệp - xây dựng...
Mục tiêu là vậy, nhưng để thực hiện được mục tiêu đó đòi hỏi rất
nhiều nỗ lực phấn đấu. Không chỉ là sự nỗ lực của chính quyền và nhân dân
địa phương, mà còn nhờ đến sự chung tay góp sức của các nhà đầu tư trong
và ngoài nước. Vốn là một tỉnh nghèo, nội lực chưa đủ mạnh, Bình Thuận
vẫn rất cần đến các nhà đầu tư bên ngoài để tăng cường nguồn vốn đầu tư
phát triển.
Từ khi có chính sách mở cửa của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI

Nội dung luận văn sẽ tìm hiểu xem tại sao nhà đầu tư lại lựa chọn
Bình Thuận để đầu tư du lịch; doanh nghiệp FDI sẽ cần gì ở địa phương khi
quyết định đầu tư một dự án, và Bình Thuận hiện đã đáp ứng được tới đâu
các nhu cầu đó của nhà đầu tư. Trên cơ sở phân tích thực trạng, tìm ra
nguyên nhân, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm tăng khả năng thu hút
nguồn vốn FDI vào phát triển du lịch - một ngành công nghiệp xanh cho tỉnh
Bình Thuận.
2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
♦ Mục đích của luận văn là nhằm nêu lên toàn diện thực trạng của
đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với lĩnh vực du lịch tại tỉnh Bình
Thuận từ năm 1988 đến nay, đánh giá những đóng góp của nó
trong nền kinh tế xã hội của tỉnh, cũng như những tồn tại và
nguyên nhân của những tồn tại đó. Luận văn cũng hệ thống lại
các văn bản pháp lý của Trung ương và địa phương về vấn đề
này, nêu lên các nhân tố tác động, những cơ hội, thách thức
trong thời gian tới; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thiết
thực đồng bộ trong quản lý Nhà nước, góp phần đề xuất, gợi ý
cho địa phương đẩy mạnh được thu hút đầu tư nước ngoài trong
việc phát triển ngành du lịch của tỉnh nhà.
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
♦ Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Nêu các khái niệm, đặc đểm của đầu tư nước ngoài và của ngành
du lịch.
- Nghiên cứu các nhân tố tác động đến quy mô dòng vốn đổ vào địa
phương, thực trạng và xu hướng của dòng vốn FDI trong bối cảnh
hiện nay
- Nghiên cứu thực trạng đầu tư nước ngoài đối với lĩnh vực du lịch
trên địa bàn tỉnh Bình Thuận.
- Phân tích hệ thống chính sách của Trung ương và địa phương trong

1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài:
 Khái niệm:
Trong cuộc sống, đầu tư là một hoạt động rất phong phú, đa dạng, do
đó cũng có khá nhiều cách hiểu về khái niệm này.
Xét theo nghĩa gốc, «đầu tư» (Investment) là chỉ sự chi phí, hi sinh các
nguồn lực ở hiện tại (thời gian, sức lực, tiền bạc...) vào hoạt động nào đó của
con người nhằm thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai. (Trích Tài liệu
tham khảo số [23])
Người Pháp có sự phân biệt rõ ràng giữa 2 khái niệm «Đầu tư»
(investissement) và «dùng tiền sinh lãi» (Placement). Placement tức là dùng
tiền để mua thứ gì đó cho thuê chẳng hạn, vậy nó sinh lời cho người đó
nhưng thực ra tổng đầu tư xã hội không tăng. Còn investissement là xây nhà
máy, xây dựng cơ sở vật chất, trồng cây nông lâm nghiệp...,hoạt động này
làm tăng tổng đầu tư xã hội. [16]
Người Mỹ lại không phân biệt những khái niệm này. Họ gọi chung
đầu tư và dùng tiền sinh lãi là «investment». [16]
Theo Luật đầu tư năm 2005, Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng
các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định của Pháp luật. [2]
Như vậy, để phân biệt một hoạt động có phải là đầu tư hay không, ta
có thể dựa vào 2 đặc trưng sau của đầu tư :
- Tính sinh lãi: mục đích của việc đầu tư là sinh lãi. Chẳng hạn nếu
như ta bỏ tiền ra chỉ để mua một thứ hàng hóa cho tiêu dùng thì
không gọi là đầu tư vì nó không vì mục đích sinh lãi.
- Tính rủi ro: Mục đích của đầu tư là sinh lãi, nhưng không phải hoạt
động đầu tư nào trên thực tế cũng có lãi, mà có khi bị lỗ. Đó là do
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
thuộc tính thứ hai này của đầu tư. Rủi ro cao hay thấp tuỳ thuộc

Nguyên nhân cơ bản của sự di chuyển vốn đầu tư dưới hình thức này là
do có sự chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận xuất phát từ lợi thế so sánh khác nhau
giữa các quốc gia. Xu thế tự do hóa thương mại, đầu tư và tài chính ngày càng
tăng trên thế giới hiện nay chính là điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển vốn
đầu tư trên thế giới.
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài biểu hiện sự gặp nhau giữa cung và cầu, đó
là giữa lợi ích của nhà đầu tư và nhu cầu của nước tiếp nhận đầu tư. Khi việc
đầu tư ở trong nước không còn mang lại nhiều lợi nhuận, các nhà đầu tư có sự
chuyển hướng đưa vốn đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng được chi phí sản
xuất rẻ hơn. Còn đối với nước nhận đầu tư, FDI sẽ là một nguồn vốn bổ sung
quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước, đổi mới công nghệ,
điều chỉnh cơ cấu kinh tế...
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu tuỳ theo
quy định trong luật đầu tư của nước chủ nhà. Chẳng hạn như ở Việt Nam, luật
Đầu tư nước ngoài quy định số vốn góp tối thiểu của phía nước ngoài phải
bằng 30% vốn pháp định của dự án.
Quyền quản lý công ty phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng góp
100% vốn thì công ty hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành.
Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Lời và lỗ được phân chia theo tỷ lệ vốn
góp trong vốn pháp định sau khi đã nộp thuế lợi tức cho Nhà nước.
Tại các nước đang phát triển, FDI khác với các nguồn vốn đầu tư khác
ở chỗ: FDI có khuynh hướng bổ sung vào đầu tư tư nhân và khu vực mậu dịch
và làm gia tăng đầu tư trong khu vực tư nhân. Trong khi đó viện trợ hoặc các
khoản vay từ ngân hàng nước ngoài có khuynh hướng bổ sung vào khu vực
công và sản xuất hàng hoá phi mậu dịch. Mà thực tế cho thấy, tác động của
đầu tư tư nhân lên tăng trưởng kinh tế mạnh hơn so với đầu tư của chính phủ,
do đó, FDI chứng tỏ tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế hơn là bất cứ

và nhà đầu tư nước ngoài.
3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng
BTO, hợp đồng BT.
4. Đầu tư phát triển kinh doanh.
5. Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
6. Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
7. Các hình thức đầu tư trực tiếp khác. [1]
 Các hình thức đầu tư trên có thể gom lại thành 4 nhóm chính như sau:
Nhóm 1: Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế:
Tổ chức kinh tế có thể gồm 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc
liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Tổ chức kinh tề có thể là:
a) Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
b) Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư
và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật;
c) Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ
sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;
d) Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Nhóm 2: Đầu tư theo hợp đồng
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 7
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
Có nhiều hình thức đầu tư theo hợp đồng, trong đó điển hình có các
hình thức: BCC, BOT, BTO, BT.
 Hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC:
Hợp đồng BCC là tên gọi tắt của Hợp đồng hợp tác kinh doanh
(Business Cooperation Contract)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các
nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản
phẩm mà không thành lập pháp nhân. [1]
Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ,

Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở
rộng, hiện đại hóa và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao
thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các
lĩnh vực khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Chính phủ quy định lĩnh vực đầu tư, điều kiện, trình tự, thủ tục và
phương thức thực hiện dự án đầu tư; quyền và nghĩa vụ của các bên thực
hiện dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp
đồng BT.
Nhóm 3: Đầu tư phát triển kinh doanh
Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức
sau đây:
1. Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh;
2. Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm
môi trường.
Nhóm 4: Góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại
Hình thức này bao gồm cả việc mua cổ phần, góp vốn để tham gia quản
lý hoạt động đầu tư hoặc đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh
nghiệp.
Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số
lĩnh vực, ngành, nghề và điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo
quy định của Pháp luật.
1.1.1.2. Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt
Nam trong công cuộc CNH – HĐH:
Kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đến nay, tư duy lý luận của
Đảng ta đã được đổi mới và có những tiến bộ đáng kể. Vận dụng một cách
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tuởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đưa ra
những đường lối chính sách đúng đắn có được những thành công to lớn, tạo
nên thế và lực cho đất nước. Với những chủ trương ấy, Đảng ta không những
đã nhận được sự đồng tình hưởng ứng tích cực của nhân dân, mà còn nâng

Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình tích tụ và
tăng trưởng các nguồn lực như vốn, kỹ năng lao động, công nghệ. Các
nước nghèo như nước ta thường bị vướng vào một vòng lẩn quẩn: thu
nhập thấp do đó tích lũy thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư, vốn đầu tư thấp
dẫn đến không phát triển được sản xuất kinh doanh, không nâng cao
được thu nhập của người lao động, thu nhập thấp lại dẫn đến tích lũy
thấp... Do đó, đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp sẽ là nguồn
vốn bổ sung rất quan trọng cho các nước nghèo trong quá trình phát triển
kinh tế.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì đầu tư nước ngoài
là một nguồn vốn rất quan trọng để phát triển kinh tế đất nước. Mặc dù tài
nguyên thiên nhiên của chúng ta dồi dào, nguồn nhân lực lớn, nhưng do tốc
độ phát triển kinh tế chậm chạp, tỷ lệ gia tăng dân số lại nhanh; do đó, Việt
Nam cũng như các nước đang phát triển khác luôn rơi vào tình trạng thiếu
vốn để đầu tư sản xuất và tự biến mình thành thị trường tiêu thụ hàng hóa
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
của các nước khác. Để đánh thức các tiềm năng, lợi thế của đất nước nhằm
phát triển kinh tế quốc gia, chúng ta rất cần vốn đầu tư. Do vậy, ngoài nguồn
vốn hạn hẹp trong nước, cần phải tăng cường thu hút nguồn đầu tư dồi dào ở
nước ngoài.
Trong công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước hiện
nay, đầu tư nước ngoài có những đóng góp nhất định cho nền kinh tế - xã
hội, cụ thể là:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp giải quyết về lao động.Trong 5
năm qua, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta đã thu hút được
khoảng 86 vạn lao động trực tiếp..
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao khả năng quản lý
kinh doanh. Do được tiếp xúc với trình độ quản lý kinh doanh tiên tiến
của các nước, công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia đã giúp các nhà quản

Nhà nước
619,4 52 1203 45
Vốn đầu tư của dân
cư và tư nhân
345,3 29 911 34,1
Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài
193,5 16,2 460,5 17,2
Nguồn vốn khác 33,0 2,8 100,5 3,7
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư) [18]
1.1.2. Khái niệm, các hình thức và vai trò của ngành du lịch:
1.1.2.1. Khái niệm:
Tại Pháp, người ta gọi du lịch là “Le tourisme”. Chữ này có nguồn
gốc từ danh từ “le tour” tức là đi một vòng. “Le Tour” có nghĩa đen là sự lữ
hành được kết thúc bằng việc quay về điểm xuất phát ban đầu. Yếu tố căn
bản của du lịch là sự ra đi hay lữ hành. Tuy nhiên trong du lịch loại trừ
những trường hợp du canh du cư, tức là phải có định cư mới có du lịch. Nói
cách khác, du lịch chỉ được tính đối với người có nơi cư trú định cư thường
xuyên ở một nơ nào đó của một quốc gia. Sau chuyến lữ hành, du khách lại
trở về nơi sống thường xuyên của mình. [27]
Trước đây, người ta cho rằng thời gian ra đi của một du khách không
được ít hơn 24 giờ và không nhiều quá 3 tháng. Nhưng ngày nay, người ta
cho rằng thời gian ra đi có thể ít hôn 24 giờ, nhưng đòi hỏi du khách phải
nghỉ đêm ở khách sạn hoặc mua các loại dịch vụ du lịch ở nơi đến. Du khách
cũng có thể đi du lịch với thời gian dài hơn 3 tháng, 6 tháng hoặc hơn nữa,
nhưng đòi hỏi đến lúc nào đó du khách phải trở về nơi thường xuyên sống
của mình. [27]
Trước đây, người ta không công nhận sự làm việc của du khách ở nơi
đến để nhận thu nhập. Người ta cho rằng du lịch chỉ thuần tuý là sự nghỉ
ngơi hoặc dưỡng bệnh, thăm hỏi... Ngày nay người ta cho phép du khách có

lớp thượng lưu như chơi gofl, sống trên tàu du lịch...
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 13
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
1.1.2.2. Các hình thức du lịch ở nước ta và ở tỉnh Bình Thuận hiện
nay:
Các hình thức du lịch ở nước ta hiện nay khá đa dạng, phong phú. Tùy
thuộc vào đặc điểm tự nhiên của từng vùng mà có lợi thế phát triển cho một
số những loại hình du lịch khác nhau. Nhìn chung những hình thức du lịch
phổ biến nhất ở nước ta hiện nay là:
 Hình thức du lịch nghỉ dưỡng:
Đây là một trong những hình thức du lịch phổ biến nhất ở nước ta hiện
nay. Du lịch nghỉ dưỡng là hình thức du lịch gắn với các hoạt động nghỉ
ngơi, thư giãn của khách du lịch, thường là ở các khách sạn nhà hàng, ở các
resort, khu du lịch nghỉ dưỡng...
 Hình thức du lịch sinh thái:
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản
sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triền bền
vững.
Du lịch sinh thái thông thường gồm hai loại hình là du lịch sinh thái
rừng và du lịch sinh thái biển.
 Du lịch dã ngoại:
Du lịch dã ngoại là hình thức du lịch gắn với những hoạt động vui
chơi sinh hoạt tập thể, cắm trại, gắn với thiên nhiên.
 Du lịch Spa:
Đây là một hình thức du lịch khá mới mẻ. Du lịch Spa là du lịch gắn
với phục hồi sức khỏe, chữa bệnh, làm đẹp.
 Du lịch Văn hóa, tín ngưỡng:
Du lịch Văn hóa, tín ngưỡng là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn
hóa dân tộc, tôn giáo với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Công nghệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, một trong những nhiệm vụ hàng
đầu của nước ta là phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trong đó giảm tỷ trọng
nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Muốn vậy, chúng ta phải
ra sức phát triển các ngành dịch vụ mũi nhọn. Nước ta là một nước có tiềm
năng lớn về du lịch với rất nhiều những cảnh quan đẹp, một nền văn hóa lâu
đời và vật giá khá rẻ, là những yếu tố hấp dẫn đối với khách du lịch. Vì vậy
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của ta đã xác định coi du lịch là một
trong những ngành kinh tế mũi nhọn.
Phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển trên nhiều lĩnh vực khác,
đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
− Sự mua hàng hóa trực tiếp của du khách đã tạo ra khả năng xuất khẩu
tại chỗ, kích thách các ngành sản xuất trong nước, nhất là các mặt
hàng truyền thống và hàng thủ công mỹ nghệ (như dệt thổ cẩm, thêu,
đan lát, gốm sứ, tranh ảnh...)
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 15
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
− Du lịch giúp tạo ra các lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch, các vườn quốc gia,
công viên du lịch..., đẩy mạnh việc bảo vệ môi sinh, môi trường.
− Du lịch là cơ sở giúp bảo tồn các nền văn hóa dân tộc truyền thống,
tôn tạo và giữ gìn các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, phục hồi
và bảo vệ các khu phố cổ, phục chế các di phẩm văn hóa.
− Du lịch giúp giải quyết việc làm cho khá nhiều lao động, kể cả những
lao động trực tiếp làm trong ngành du lịch lẫn lao động làm trong các
ngành nghề khác chẳng hạn như buôn bán hàng hóa cho du khách.
− Du lịch là chất xúc tác cho sự phát triển và đa dạng hóa các ngành
nghề kinh tế khác.
Ngành du lịch của nước ta trong thời gian qua đã có những bước phát
triển nhanh và trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, thu hút cả khách du lịch trong và ngoài nước. Năm 1990, khách du lịch
quốc tế đến Việt Nam chỉ có 250.000 lượt, khách du lịch nội địa 1 triệu lượt.

Trình độ phát triển kinh tế bao gồm các chỉ tiêu về kinh tế xã hội của
một tỉnh. Mức độ phát triển kinh tế ngày càng cao không chỉ thể hiện các
hoạt động kinh tế tốt và sức mua của thị trường ngày càng lớn mà còn bao
hàm cả năng suất lao động, chất lượng lao động, công nghệ hiện đại, cơ sở
vật chất hạ tầng tốt và môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện. Trình độ
phát triển kinh tế của tỉnh có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với dòng vốn đầu tư. Chỉ
tiêu đo lường chính của nhân tố này là GDP bình quân đầu người.
Thứ tư: Các chi phí lao động của tỉnh
Theo nhiều nhà đầu tư khi tiến hành việc khảo sát môi trường đầu tư
trước khi đầu tư, họ rất quan tâm đến vấn đề nguồn nhân lực tại chỗ và tính
toán rất kỹ chi phí đầu tư cho tuyển dụng và đào tạo. Một trong những chi
phí quan trọng nhất quyết định đến dòng vốn đầu tư là mức lương. Mức
lương có quan hệ tỷ lệ nghịch với dòng vốn đầu tư. Tuy nhiên, mức lương
còn tùy thuộc vào năng xuất lao động. Nếu năng suất lao động thấp thì mức
lương sẽ thấp. Do đó chi phí lao động được các nhà đầu tư tính toán ở đây
không phải là số tiền lương thực tế đơn thuần mà nhân công nhận được, mà
là số tiền lương tính theo hiệu quả công việc. Do đó, đối với địa phương, một
giá nhân công rẻ chưa đủ thu hút các nhà đầu tư mà còn kể đến trình độ năng
lực làm việc của lao động.
Thứ năm: Mức độ tích lũy đầu tư của tỉnh
Mức độ tích lũy đầu tư có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn địa điểm
đầu tư của nhà đầu tư. Mức độ tích lũy càng cao thể hiện môi trường đầu tư
của tỉnh tốt, và thế là dòng vốn đầu tư đổ vào tỉnh lại càng nhiều. Điều này
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tâm lý của các nhà đầu tư trong nước.
Vì thông thường, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn là những người khởi đầu
cho những địa điểm đầu tư mới lạ, và chính nhờ sự tích luỹ đầu tư ban đầu
đó thúc đẩy các nhà đầu tư trong nuớc mạnh dạn đổ vốn đầu tư.
Thứ sáu: Sự phát triển cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng bao gồm nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất đối với
các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư trong lĩnh vực du lịch, là hệ thống

với vấn đề quản lý nợ, Hàn Quốc còn phải đối đầu với sự suy yếu của kinh tế
đất nước như giảm tỷ lệ gia tăng GNP và xuất khẩu, tỷ lệ lạm phát ngày càng
tăng. Trước tình hình đó, Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách để cải cách
nền kinh tế, trong đó có việc chuyển từ chính sách hạn chế đầu tư trực tiếp
nước ngoài sang một chính sách có tính lưa chọn hơn.
Năm 1973, Đạo luật khuyến khích đầu tư của nước ngoài (the Foreign
Captail Inducement Act – FCIA) đã được thông qua nhằm khuyến khích
những đầu tư nước ngoài phù hợp với mục đích phát triển của Hàn Quốc, và
hạn chế sự tham gia của nước ngoài vào các xí nghiệp mới. Ngoài ra, Chính
phủ còn thiết lập một bộ máy hành chính khoa học, có hiệu quả để đáp ứng
hoạt động đầu tư nước ngoài.
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 18
Công ty
trong nước
Công ty
nước ngoài
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
MÔ HÌNH CƠ CẤU HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
DỰ ÁN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI HÀN QUỐC:
(liên doanh) (6)
(1) (4) (5)
(2)
(3)
(FCIDC: Ủy ban xem xét khuyến khích vốn của nước ngoài.
FCPRC: Ủy ban xem xét dự án vốn của nước ngoài.)
Theo sơ đồ này, quá trình đầu tư nước ngoài vào Hàn Quốc theo các
bước sau đây:
- Các nhà đầu tư nước ngoài phải đệ trình dự án lên Bộ Tài chính để xin
phép đầu tư.
- Bộ Tài chính có thể tham khảo các Bộ tương ứng về tình hình nghiên

nước ngoài. Các nguyên tắc đã được áp dụng một cách linh hoạt nên chính
phủ đã có quyền quyết định theo ý mình nội dung các dự án. Ví dụ: nếu như
dụ án nào được coi là gắn liền với các vấn đề của quốc gia như: phát triển
kinh tế, phúc lợi xã hội hay tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế; Bộ Tài
chính có quyền thông qua các dự án này ngay cả khi dự án đó không được đề
cập trong hướng dẫn chung. Đồng thời, chính phủ Hàn Quốc cũng khuyến
khích đầu tư vào các liên doanh có tầm quan trọng đặc biệt. Ví dụ, nếu một
dự án nào đó được coi là nhằm chuyển giao kỹ thuật thì việc thông qua dự án
sẽ được áp dụng linh hoạt mà không tính đến tiền nộp tuỳ thuộc vào tài sản
của đối tác trong nước. Các công ty nước ngoài liên doanh với những công
ty cỡ vừa và nhỏ của Hàn Quốc có lợi từ những ưu tiên này. Nói chung, hệ
thống quản lý của Nhà nước Hàn Quốc khá cứng rắn và hiệu quả, luôn đảm
nhận một vai trò lớn hơn, áp đặt hơn và quyết đoán trong quan hệ với các
nhà đầu tư. Chính phủ chỉ chấp nhận những dự án có khả năng thắng lợi
tương đối chắc chắn rõ ràng và kiểm soát, điều tiết các hoạt động của đầu tư
nước ngoài theo cách thức phù hợp với lợi ích quốc gia.
1.2.1.2. Những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư của Trung Quốc:
Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài của Trung Quốc ra đời ngày 01
tháng 7 năm 1979 đến nay FDI được coi là chìa khoá vàng cho tăng trưởng
kinh tế tại Trung Quốc. Có thể nói, Trung Quốc là một trong những quốc gia
đạt được những thành công lớn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, đồng
thời cũng đã tận dụng được FDI để thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước.
Để đạt được những thành công như vậy, đó là nhờ Chính phủ Trung
Quốc đã không ngừng nỗ lực để cải thiện môi trường đầu tư. Những nỗ lực
đó tập trung vào một số điểm chính sau đây:
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 20
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
- Nâng cao tính minh bạch của pháp luật, chính sách trước và sau khi
Trung Quốc gia nhập WTO.

- Ngoài các chính sách ưu đãi chung đã được quy định, tỉnh Thừa
Thiên Huế có các chính sách ưu đãi cụ thể về thuế, tài chính; ưu đãi
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 21
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ts. ĐÀO ĐĂNG KIÊN
về tiền thuê đất, giải phóng mặt bằng; ưu đãi về hỗ trợ tín dụng;
chính sách hỗ trợ đào tạo, cung ứng lao động. Theo đó, nhà đầu tư
được tỉnh hỗ trợ 100% thuế thu nhập doanh nghiệp thực nộp (phần
ngân sách tỉnh được hưởng) kể từ khi có thu nhập chịu thuế trong 4 -
8 năm tùy thuộc vào địa bàn, ngành nghề đầu tư…; miễn tiền thuê
đất trong thời gian xây dựng cơ bản, lắp đặt thiết bị, chạy thử và tạm
ngừng sản xuất, các dự án đầu tư vào khu du lịch Bạch Mã, huyện
Nam Đông và huyện A Lưới được miễn thuê đất trong suốt thời gian
thực hiện dự án. Đền bù, giải phóng mặt bằng giao cho nhà đầu tư
trong thời hạn tối đa 60 ngày kể từ ngày chủ đầu tư ký hợp đồng thuê
đất. Các dự án không thuộc đối tượng được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư
theo quy định của chính phủ về tín dụng phát triển của nhà nước,
nhưng được UBND tỉnh xếp vào diện ưu đãi đầu tư thì được hưởng
hỗ trợ lãi suất sau đầu tư.
1.2.2.2. Thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển du lịch tại tỉnh
Quảng Bình:
Quảng Bình trước đây vốn là một tỉnh khó khăn. Đất hẹp, khô cằn
nhưng lại có nhiều phong cảnh đẹp; do đó để phát triển kinh tế xã hội, du
lịch được xem là một thế mạnh của tỉnh. Hiện tỉnh đang cố gắng phát triển
mạnh ngành du lịch dịch vụ, bằng nhiều loại hình như du lịch sinh thái, du
lịch lữ hành, nghỉ dưỡng, tắm biển, tham quan các di tích lịch sử, danh
thắng; đầu tư các khu giải trí, các khách sạn, nhà hàng có chất lượng cao
để phục vụ khách du lịch; tập trung đầu tư, khai thác, phát huy có hiệu quả
khu du lịch trọng điểm của tỉnh; gắn du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng với con
đường Di sản khu vực Miền Trung.
Để phát triển, Quảng Bình rất cần sự giúp đỡ, hợp tác đầu tư của các

Địa bàn tỉnh có toạ độ địa lý như sau:
- Kinh độ: 107
0
24’E - 108
0
23’E
- Vĩ độ: 10
0
33’N - 11
0
33’N
Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc - Tây Bắc giáp tỉnh
Lâm Đồng, phía Đông - Đông Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, và phía Tây - Tây
Nam giáp tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng
không đều qua tỉnh. Đường bờ biển dài 192 km. Trung tâm tỉnh cách Thành
phố Hồ Chí Minh 200 km, cách Thành phố Nha Trang 250 km. Có Quốc lộ
1A với chiều dài 178 km đi qua 8/9 huyện, đường sắt Thống Nhất chạy qua
dài 180 km nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam, Quốc lộ 28
nối liền Thành phố Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên, quốc lộ 55 nối
liền với trung tâm dịch vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu. Ngoài khơi còn có
đảo Phú Quý cách Thành phố Phan Thiết 120 km.
Với vị trí địa lý như trên, bên cạnh mối quan hệ kinh tế truyền thống
với địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Thuận sẽ có điều kiện mở
rộng mối quan hệ giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên và cả
nước. Sức hút của các thành phố và trung tâm phát triển như Thành phố Hồ
Chí Minh, Vũng Tàu, Nha Trang tạo điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh sản xuất
hàng hóa, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật, và đặc biệt là tạo liên kết trong
lĩnh vực phát triển du lịch. [15, 29]
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 24

hướng Đông Bắc Tây Nam từ Tuy Phong đến Đức Linh.
- Vùng núi thấp chiếm 40,7% diện tích. Đây là những dãy núi của
khối Trường Sơn chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam từ phía bắc
huyện Bắc Bình đến đông bắc huyện Đức Linh.
Cũng như các tỉnh ven biển miền Trung, Bình Thuận có sự phân hóa
địa hình theo hướng vuông góc với bờ biển. Đặc trưng nổi bật nhất là tính
phân bậc của địa hình, giảm dần theo hướng biển. Đặc điểm địa hình cũng là
một trong những yếu tố quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư quan
tâm đến lĩnh vực đầu tư phát triển ngành du lịch. [15, 29]
2.1.2. Tình hình kinh tế xã hội:
Về tổ chức hành chính, tỉnh Bình Thuận có 1 thành phố thuộc tỉnh và 8
huyện bao gồm: Thành phố Phan Thiết, huyện Tuy Phong, huyện Bắc Bình,
huyện Hàm Thuận Bắc, huyện Hàm Thuận Nam, huyện Hàm Tân, huyện
SV: NGUYỄN THU HỮU HẠNH 25

Trích đoạn QUAN ĐIỂM THU HÚT FDI VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH BÌNH THUẬN: DANH MỤC DỰ ÁN GỌI VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGỒI TẠI TỈNH BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 2006 Cải thiện mơi trường đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh: Chỉ số PCI của tỉnh Bình Thuận:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status