Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần một
lý luận chung
I- Những đặc điểm cơ bản về nghiệp vụ tín dụng trong ngân hàng
thơng mại
1- Khái niệm tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng:
a, Tín dụng ngân hàng:
Nền kinh tế hàng hoá thay thế nền kinh tế tự cung tự cấp bắt đầu đợc hình
thành do nhu cầu trao đổi hàng hoá của con ngời. Sự phát triển của nền kinh tế
hàng hoá là sự hình thành và phát triển của nhiều yếu tố quan trọng trong đó
có một phần không nhỏ của hệ thống ngân hàng. Hệ thống ngân hàng đợc ví
nh là một chất nhờn bôi trơn bộ máy của một nền kinh tế. Điều này có đợc
xuất phát từ chính chức năng của chúng. Ngân hàng là tổ chức trung gian tài
chính, trung gian thanh toán, tạo phơng tiện thanh toán. Chính vì vậy, có thể
nói ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Hoạt
động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với
nội dung thờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng
và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Hệ thống ngân hàng của mỗi quốc gia đều
có cơ cấu tổ chức giống nhau bao gồm ngân hàng trung ơng và số lợng lớn các
ngân hàng thơng mại và các tổ chức tài chính tín dụng. Ngân hàng trung ơng
giữ vai trò điều tiết hoạt động của các ngân hàng thơng mại, còn ngân hàng th-
ơng mại thực hiện việc kinh doanh tiền tệ.
Ngay từ khi hình thành cho đến nay, một trong những hoạt động chủ yếu
của ngân hàng là hoạt động tín dụng. Có nhiều quan điểm về hoạt động tín
dụng tồn tại trên thế giới. Theo quan điểm của một số nớc Phơng Tây, hoạt
động tín dụng là hoạt động huy động vốn trong dân c và cho vay. Điều đó có
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghĩa rằng tín dụng phải bao gồm các nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn và
việc sử dụng tài sản của ngân hàng. Quan điểm này nêu bật đợc chức năng
trung gian của ngân hàng trong việc huy động và đa tiền vào nền kinh tế.
đổi ở tầm vĩ mô (thay đổi Chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rào thuế
quan ) v ợt quá tầm kiểm soát của cả ngời vay và ngời cho vay.
- Nguyên nhân thuộc về chủ quan ngời vay: trình độ yếu kém của ngời
vay trong dự đoán các vấn đề kinh tế, yếu kém trong quản lý kinh doanh,
chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, là nguyên nhân gây rủi ro tín dụng.
Rất nhiều ngời vay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu đợc lợi nhuận cao.
Để đạt đợc mục đích của mình, họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn ứng phó với
ngân hàng nh cung cấp thông tin sai, mua chuộc Nhiều ng ời vay đã
không tính toán kỹ lỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng
thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh. Trong trờng hợp còn
lại, ngời vay kinh doanh có lãi không chịu trả ngân hàng với mục đích quỵt
nợ hoặc sử dụng vốn càng lâu càng tốt.
- Nguyên nhân thuộc về ngân hàng: Chất lợng cán bộ kém, không đủ
trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giá không tốt, cố tình làm sai là
một trong những nguyên nhân của rủi ro tín dụng. Nh vậy, nếu ngân hàng
muốn hạn chế nguyên nhân này cần phải tăng cờng chất lợng trình độ của
cán bộ tín dụng và đạo đức của họ.
2- Đặc điểm của nghiệp vụ tín dụng
Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất cho các ngân
hàng thơng mại. Rủi ro này, có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn
thất, làm giảm thu nhập của ngân hàng. Có nhiều khoản tài trợ mà tổn thất có
thể chiếm phần lớn vốn của chủ, đẩy ngân hàng đến phá sản. Do vậy, các ngân
hàng phải cân nhăc kỹ lỡng, ớc lợng khả năng rủi ro và sinh lời khi quyết định
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tài trợ. Để làm đợc điều này ngân hàng phải thực hiện một quy trình phân tích
tín dụng chặt chẽ và hiệu quả, bao gồm quá trình thẩm tra trớc, trong và sau
khi cho vay, chiết khấu, cho thuê, bảo lãnh. Quan hệ tín dụng phần lớn đợc
xác lập thông qua hợp đồng tín dụng với trọng tâm là xác định khả năng và ý
muốn của ngời nhận tín dụng trong việc thực hiện hợp đồng. Do đó, mục tiêu
tích để đa ra đợc những đánh giá của mình.
Tình hình tài sản của khách hàng: cho thấy khả năng thu hồi nợ. Hay nói
cách khác tài sản của khách hàng đợc coi nh một vật bảo đảm cho khoản vay
khi khách hàng mất khả năng sinh lời.
Đánh giá các khoản nợ giúp ngân hàng thấy vị trí của mình trong các chủ
nợ của khách hàng. Qua đó ngân hàng thấy đợc khả năng thu hồi nợ từ khách
hàng nếu mình cho vay.
Đánh giá về luồng tiền của khách hàng: nhiều đơn vị khách hàng tạo ra đợc
nhiều lợi nhuận trong quá khứ cũng nh trong tơng lai. Tuy nhiên việc trả nợ lại
liên quan chặt chẽ đến ngân quỹ của ngời vay. Do vậy những đánh giá dự đoán
về luồng tiền của khách hàng là rất quan trọng.
Phân tích một số các tỷ lệ nh: nhóm tỷ lệ thanh khoản; nhóm tỷ lệ sinh lời;
nhóm tỷ lệ rủi ro. Qua các tỷ lệ này ngân hàng có thể có đợc nhìn nhận tổng
quan về tình hình khách hàng và có những dự đoán đánh giá đúng đắn hơn khi
đa ra quyết định có đồng ý với yêu cầu vay vốn hay không.
Bớc 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa ngời nhận tài trợ
và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng
một khoản tín dụng trong một khoản thời gian và lãi suất nhất định. Hợp đồng
tín dụng là văn bản mang tính pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ của hai
bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải tuân thủ các điều khoản của các
luật, các quy định. Do vậy, cả ngân hàng lẫn khách hàng đều cần cân nhắc kỹ
lỡng trớc khi ký kết hợp đồng tín dụng.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bớc 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng
Sau khi hợp đồng tín dụng đã đợc ký kết, ngân hàng phải có trách nhiệm
cấp tiền cho khách hàng nh thoả thuận. Kèm theo việc cấp tín dụng, ngân hàng
kiểm soát khách hàng trong việc sử dụng số tiền đợc vay có đúng tiến độ mục
đích hay không? Quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì,
trình phê duyệt tín dụng sẽ đợc thực hiện có hiệu quả và giảm thiểu rủi ro của
hệ thống ngân hàng nói chung và của hoạt động tín dụng nói riêng.
II- Kiểm toán nghiệp vụ tín dụng
1- Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính (kiểm toán tài chính) là quá trình xác minh và
bày tỏ ý kiến của những ngời có đủ năng lực chuyên môn về báo cáo tài chính
của khách thể kiểm toán. Kiểm toán tài chính có đặc trng riêng so với các loại
hình kiểm toán khác xuất phát từ đối tợng kiểm toán và quan hệ chủ thể -
khách thể kiểm toán
Đối tợng của kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính. Bộ phận quan
trọng nhất của Bảng khai tài chính là Báo cáo tài chính. Trên Báo cáo tài chính
thể hiện toàn bộ hoạt động kinh tế, tình hình tài chính của một doanh nghiệp
bởi một hệ thống các chỉ tiêu liên quan chặt chẽ đến nhau. Nói nh vậy đối tợng
trực tiếp của kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính, nhng để đa ra đợc ý
kiến xác minh và bày tỏ thì kiểm toán không thể tách rời các thông tin có đợc
từ các tài liệu kế toán và các thông tin phi tài chính quan trọng khác.
Cùng với các quan hệ nội tại, báo cáo tài chính còn chứa đựng nhiều mối
quan hệ về tài chính và về quản lý và từ đó về quan hệ chủ thể - khách thể
kiểm toán. Việc lập các Báo cáo tài chính đợc tiến hành theo một quy trình
chặt chẽ khép kín từ lập chứng từ tới lập báo cáo kế toán. Vì vậy, cần xác định
rõ khách thể kiểm toán nói chung và trong từng cuộc kiểm toán cụ thể. Chủ
thể của kiểm toán đối với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau cũng có
những phân loại khác nhau. Hiện nay có ba loại hình chủ thể kiểm toán là
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kiểm toán nội bộ, kiểm toán nhà nớc và kiểm toán độc lập. Kiểm toán nội bộ
là kiểm toán các đơn vị thành viên theo yêu cầu của ngời lãnh đạo cao nhất.
Kiểm toán nhà nớc là kiểm toán các đơn vị, cá nhân hoạt động trên cơ sở ngân
sách nhà nớc. Kiểm toán độc lập là kiểm toán các doanh nghiệp dân doanh có
quy mô lớn theo quy định bắt buộc hoặc kiểm toán theo th mời kiểm toán. Từ
toán nên bằng chứng thờng có chất lợng cao. Tuy nhiên, chi phí cho trắc
nghiệm trực tiếp số d thờng lớn nên kiểm toán viên phải cân đối với các trắc
nghiệm khác, và một trắc nghiệm không kém phần quan trọng đó là trắc
nghiệm phân tích. Trắc nghiệm phân tích là cách thức xem xét các mối quan
hệ kinh tế và xu hớng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việc kết
hợp giữa đối chiếu trực tiếp, đối chiếu lôgíc, cân đối, giữa các trị số của các
chỉ tiêu hoặc của các bộ phận cấu thành chỉ tiêu. Trắc nghiệm phân tích đợc sử
dụng trong toàn bộ quá trình kiểm toán. Đây là toàn bộ các trắc nghiệm đợc sử
dụng trong cuộc kiểm toán tài chính. Một cuộc kiểm toán tài chính là một hệ
thống đợc tổ chức chặt chẽ từ khâu chuẩn bị, thực hiện và kết thúc nhằm giúp
kiểm toán viên kiểm soát đợc cuộc kiểm toán theo đúng quy định và đạt đợc
hiệu quả cao nhất. Nói chung, một cuộc kiểm toán bao gồm ba giai đoạn cụ
thể đó là lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán và kết thúc
kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán: từ th mời kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành tìm
hiểu khách hàng để lập hợp đồng kiểm toán và thu thập các thông tin liên
quan. Từ các thông tin tài chính và phi tài chính có quan hệ với khách hàng,
kiểm toán viên tiến hành xây dựng kế hoạch và chơng trình kiểm toán cụ thể,
đồng thời chuẩn bị về mặt nhân sự cho việc thực hiện kế hoạch kiểm toán đã
đề ra.
Thực hiện kế hoạch kiểm toán: Đây là quá trình sử dụng các trắc nghiệm
vào việc xác minh các thông tin hình thành và phản ánh trên Bảng khai tài
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính. Trình tự kết hợp các loại trắc nghiệm tuỳ thuộc vào những đánh giá ở
giai đoạn trớc.
Kết thúc kiểm toán: Kết quả các trắc nghiệm đợc tổng hợp đánh giá về
tính hợp lý chung và kiểm nghiệm trong quan hệ với các sự việc bất thờng,
những nghiệp vụ phát sinh sau ngày lập Bảng khai tài chính. Chỉ trên cơ sở đó
mới đa ra đợc kết luận cuối cùng và lập báo cáo kiểm toán.
viên cũng cần phân tích những rủi ro liên quan đến hoạt động tín dụng để từ
đó phục vụ cho việc xác định đợc rủi ro kiểm toán liên quan. Rủi ro tín dụng
phát sinh trong trờng hợp ngân hàng không thu đợc đầy đủ cả gốc và lãi của
khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Rủi ro tín
dụng có thể phân tích theo nhóm đối tợng và theo sự thất thoát tài sản. Rủi ro
tín dụng phân theo nhóm đối tợng có thể bao gồm rủi ro thất thoát các khoản
cho vay do khả năng tài chính của khách hàng yếu kém, trong đó có những rủi
ro từ các giao dịch trong bảng cân đối và những rủi ro từ các giao dịch ngoài
bảng cân đối, và rủi ro do giá trị quyền sở hữu tài sản giảm do những biến
động của ngân hàng nh thay đổi Ban lãnh đạo dẫn đến chất lợng hoạt động yếu
kém, hoặc sự phát triển ngân hàng quá nhanh mà trình độ quản lý không theo
kịp. Rủi ro thất thoát giá trị tài sản chính là nguy cơ giảm giá trị tài sản mà
ngân hàng nắm giữ nh các tài sản thế chấp, các chứng khoán mà ngân hàng
nhận cầm cố Việc phân tích rủi ro sẽ giúp kiểm toán viên lập kế hoạch thích
hợp, không bỏ sót những điểm trọng yếu cần kiểm toán.
Hiểu biết về môi trờng kiểm soát của ngân hàng. Hệ thống thông tin quản
lý, hệ thống kiểm soát nội bộ, việc quản lý rủi ro và vai trò của kiểm toán nội
bộ thờng đợc chú trọng trong môi trờng kiểm soát của ngân hàng và chính
điều này cũng ảnh hởng đến việc thực hiện kiểm toán của kiểm toán viên độc
lập. Trong các ngân hàng thơng mại, hai nguyên tắc đợc tôn trọng khi thiết kế
hệ thống kiểm soát nội bộ. Thứ nhất, mọi lĩnh vực hoạt động đều phải đợc
kiểm soát. Điều này có nghĩa là cơ cấu tổ chức của ngân hàng bao gồm nhiều
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bộ phận khác nhau. Các bộ phận này đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Rủi ro xảy ra ở bộ phận này sẽ dẫn đến thiệt hại ở những bộ phận khác. Chính
vì vậy cần phải thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ cho toàn bộ mọi lĩnh vực
hoạt động, dù đó không phải là lĩnh vực chính của ngân hàng. Thứ hai, thực
hiện đợc nguyên tắc "bốn mắt". Để phòng ngừa rủi ro ngân hàng cần phải thiết
kế hệ thống kiểm soát sao cho mọi công việc đều đọc kiểm tra qua ít nhất hai
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chơng trình kiểm toán:
Do ngân hàng có khối lợng lớn về nghiệp vụ giao dịch, rất nhiều tài khoản,
báo cáo tài chính đợc nhiều đối tợng quan tâm, việc áp dụng hệ thống máy
tính trong việc xử lý các nghiệp vụ đã dẫn tới đòi hỏi cần phải có những thủ
tục của kiểm toán viên để đảm bảo rằng hệ thống này có hoạt động hiệu quả
hay không. Từ việc xác định này sẽ ảnh hởng tới việc đánh giá rủi ro và quyết
định số lợng mẫu cần chọn để kiểm tra. Nếu nh, những thủ tục kiểm soát của
kiểm toán viên cho thấy có thể tin tởng đợc vào hệ thống kiểm soát nội bộ của
đơn vị thì số lợng các thủ tục kiểm toán chi tiết sẽ giảm và ngợc lại. Nhng nếu
nh kiểm toán viên cho rằng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng quá
yếu, đồng nghĩa với việc rủi ro kiểm soát quá cao thì kiểm toán viên có thể từ
chối kiểm toán cho khách hàng này. Do vậy trong giai đoạn này kiểm toán
viên phải xây dựng đợc chơng trình kiểm toán cụ thể phù hợp nhằm kiểm soát
đợc rủi ro của cuộc kiểm toán.
Giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán:
Từ chơng trình kiểm toán đã đợc xây dựng, kiểm toán viên tiến hành thực
hiện theo một trình tự thống nhất. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nếu có
những vấn đề trọng yếu nảy sinh nếu cần thiết kiểm toán viên có thể điều
chỉnh lại kế hoạch kiểm toán. Thông thờng trong giai đoạn này, kiểm toán
viên thực hiện hai thủ tục đó là thủ tục kiểm soát và thủ tục cơ bản.
Thực hiện các thủ tục kiểm soát:
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên cần xem xét tổng
quát về tổ chức cơ cấu của bộ phận tín dụng và tổ chức quy trình làm việc của
bộ phận này, bởi vì sơ đồ tổ chức cho chúng ta nhận biết cách thức mà một
ngân hàng áp dụng để theo dõi hoạn động tín dụng cũng nh theo dõi diễn biến
rủi ro trong kinh doanh. Mỗi ngân hàng sẽ có một cách tổ chức cơ cấu bộ phận
tín dụng khác nhau và vì vậy sẽ có cách thức tổ chức kiểm soát nội bộ nghiệp
vụ tín dụng khác nhau. Cũng cần xem xét kết quả của kiểm toán nội bộ để từ
chung vào việc xem xét tính đầy đủ, hợp lý và độ tin cậy của các hồ sơ liên
quan đến khoản cho vay mà đã đợc ngân hàng xét duyệt, xem xét các dấu hiệu
kiểm soát thể hiện trên hồ sơ.
Xem xét quyết định cho vay, cam kết cho vay và giải ngân. Kiểm toán viên
tiến hành đánh giá cơ sở đa ra quyết định cho vay, mức cho vay hình thức giải
ngân có phù hợp với quy định của ngân hàng hoặc các cơ quan quản lý cấp
trên.
Xem xét dấu hiệu của việc giám sát tín dụng là đánh giá quá trình kiểm
tra việc sử dụng vốn vay, một hoạt động rất quan trọng đòi hỏi cán bộ tín dụng
thực hiện nghiêm túc, vì chỉ có kiểm tra mới có thể biết đợc rằng khách hàng
sử dụngvốn vay nh thế nào? có gì thay đổi làm tăng khả năng xảy ra rủi ro cho
ngân hàng không? Trong tr ờng hợp ngân hàng kinh doanh một sản phẩm
mới thì hoạt động giám sát lại càng trở nên quan trọng. Đối với vấn đề này,
kiểm toán viên chủ yếu đánh giá phạm vi và thời điểm của hoạt động giám sát
thờng xuyên đợc quy định và thực hiện nh thế nào? các yêu cầu trong hồ sơ
giám sát có đợc thực hiện đầy đủ không? Cán bộ tín dụng có cập nhật những
thay đổi các thông tin tài chính hoặc các thông tin có thể ảnh hởng đến quá
trình thu hồi các khoản cho vay của ngân hàng hay không?
Kiểm toán viên cần quan tâm đến trật tự sắp xếp hồ sơ tín dụng và cách bảo
quản hồ sơ tín dụng để đảm bảo rằng hồ sơ tín dụng luôn có sự an toàn. Kiểm
toán viên cũng cần dành sự chú ý của mình vào việc kiểm tra cách thức quản
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lý hồ sơ các tài sản thế chấp và bảo quản, khai thác các tài sản thế chấp, vì
ngân hàng phải chịu trách nhiệm về sự thất thoát các tài sản này mặc dù nó ch-
a thuộc quyền sở hữu của ngân hàng.
Kiểm toán tài sản đảm bảo để xác định khối lợng và giá trị tài sản thực tế
so với số liệu ghi chép trên sổ sách, trên hồ sơ vay cũng là công việc cần thiết
của kiểm toán viên. Để xác định đợc khối lợng tài sản đảm bảo tín dụng là có
thực và khi cần ngân hàng có quyền phát mại tài sản đó, kiểm toán viên cần
hợp riêng lẻ (thử nghiệm kiểm soát) kiểm toán viên cần so sánh việc thực hiện
các bớc trong quy trình cấp tín dụng, các tiêu chí phân loại khách hàng cách
thức cũng nh các bớc tiến hành phân loại khách hàng, cách thức cũng nh các
bớc tiến hành phân loại khách hàng quy trình kiểm tra, đánh giá tài sản thế
chấp đã đ ợc thực hiện trong thực tế với quy định sẵn có. Kiểm toán viên
cũng cần phân tích, đánh giá cả hai tình trạng: Các quy định đã đặt ra và việc
thực hiện các quy định đó để rút ra nhận xét về u nhợc điểm của từng cơ chế.
Sau khi kết thúc kiểm toán hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên cần
đa ra nhận xét về tính chính xác, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ áp
dụng tại ngân hàng và những đề nghị đối với các lĩnh vực cần đợc cải thiện.
Trong quá trình thực hiện các thủ tục kiểm soát, nếu phát hiện ra một số vấn
đề mà trong quá trình lập kế hoạch không đa ra đợc, kiểm toán viên tiến hành
bổ sung và điều chỉnh lại kế hoạch kiểm toán nếu cần thiết. Trong trờng hợp
kiểm toán viên nhận định rằng từ thủ tục kiểm soát cho thấy rủi ro kiểm soát là
rất lớn, kiểm toán viên có thể tham khảo ý kiến của các kiểm toán viên cấp cao
để từ đó quyết định thủ tục kiểm toán cơ bản có nên tiếp tục đợc tiến hành hay
không.
Thực hiện các thử nghiệm cơ bản
Sau khi kế hoạch kiểm toán đã đợc điều chỉnh, kiểm toán viên sẽ tiến hành
các thử nghiệm cơ bản để có đủ các bằng chứng kiểm toán làm cơ sở đa ra các
nhận xét, đánh giá về hoạt động tín dụng.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Về lý thuyết, các thử nghiệm cơ bản thực hiện để phát hiện các sai sót và
gian lận có thể có trong báo cáo tài chính và các thử nghiệm phải giúp kiểm
toán viên ớc lợng số tiền sai sót trên số d tài khoản.
Tuy nhiên do đặc thù của hoạt động tín dụng, số tiền sai sót trên tài khoản
không thể hiện đầy đủ sự thất thoát tài sản của ngân hàng vì sự thất thoát tài
sản đang còn tiềm ẩn và nó bắt đầu xuất hiện ngay từ giai đoạn cấp tín dụng và
kéo dài cho đến khi ngân hàng thu nợ xong. Do vậy, các thử nghiệm cơ bản
thì đó là những nguyên nhân mất khả năng thanh toán.
Tình hình tài khoản của khách hàng tại ngân hàng: doanh số trên tài
khoản có bị giảm hay không?
Đánh giá t cách cá nhân khách hàng vay, đặc biệt là ý thức thanh
toán: thanh toán có thờng chậm trễ, kéo dài, thay đổi hình thức thanh
toán.
Lu ý tới lĩnh vực hoạt động của khách hàng vay gắn với sự đánh giá
những biến động phát triển kinh tế.
Lu ý tới thông tin về khách hàng do Trung tâm thông tín tín dụng
cung cấp.
Khi thông tin về ngời đi vay không đầy đủ, kiểm toán viên nên tiếp cận
trực tiếp ngời đi vay cùng với sự hiện diện của ngân hàng để lấy thông tin bổ
sung. Nếu một khách hàng có nguy cơ phá sản, tình trạng tồn nợ cao, thờng
xin gia hạn thanh toán hối phiếu, liên tục thấu chi trên tài khoản, không có
luồng luân chuyển tín dụng trên tài khoản thì đó là những dấu hiệu cho thấy
chắc chắn có rủi ro thất thoát tín dụng. Đối với cho vay bất động sản các nhà
đầu t thờng xuất phát từ diễn biến tích cực của thị trờng, còn ngân hàng cũng
thờng đồng tình với dự đoán của khách hàng, đôi khi ngân hàng cũng tiếp
nhận các đánh giá từ bên ngoài không cẩn thận Do vậy, những đánh giá của
ngân hàng về khách hàng sẽ thiếu chính xác. Điều này đòi hỏi kiểm toán viên
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khi đánh giá tình hình kinh tế khách hàng vay tín dụng cần có cách dự đoán
của mình cho hợp lý.
Hồ sơ cho vay cần đợc phân loại theo các nhóm với các tiêu chuẩn cụ thể.
Các tiêu chuẩn có thể dựa vào chuẩn mực theo thông lệ chung của ngân hàng
trên thế giới, cũng có thể là chuẩn mực do ngân hàng của quốc gia quy định.
Hồ sơ vay tín dụng có thể phân loại thành bốn nhóm chính nh sau:
Đạt tiêu chuẩn: Chất lợng khoản vay đợc đánh giá tốt, không có dấu hiệu
yếu kém.
Trình bày đặc điểm cơ cấu tín dụng
Đánh giá nghiệp vụ tín dụng theo khía cạnh kinh tế: tốc độ tăng tr-
ởng chung, ảnh hởng đến doanh thu, chi phí của ngân hàng
Việc tuân thủ các quy định dành cho hoạt động tín dụng nói riêng,
các quy định dành cho hoạt động ngân hàng nói chung, các nguyên
tắc kế toán
Đánh giá các chế độ thông tin báo cáo.
Nói tóm lại, quy trình kiểm toán nghiệp vụ tín dụng cũng mang những đặc
điểm chung của quy trình kiểm toán tài chính. Kiểm toán nghiệp vụ tín dụng
cũng bao gồm ba bớc: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán,
và kết thúc kiểm toán. Trong mỗi giai đoạn cũng tiến hành theo các bớc và ph-
ơng pháp kỹ thuật của kiểm toán là phơng pháp chứng từ và phơng pháp ngoài
chứng từ. Tuy nhiên, do đặc điểm riêng của hoạt động tín dụng nói riêng và
của ngành ngân hàng nói chung mà trong quá trình thực hiện kiểm toán có
những khác biệt. Đó là việc kiểm toán viên không chỉ khẳng định số liệu trên
báo cáo tài chính là chính xác mà còn phải đánh giá đợc khả năng rủi ro của
các số liệu đó. Điều này có nghĩa, việc xác minh rằng số liệu trên báo cáo là
trung thực, hợp lý cha thể đáp ứng đợc nhu cầu của ngời sử dụng mà cần phải
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có ý kiến của kiểm toán viên về số liệu đó từ những phân tích của kiểm toán
viên thực hiện. Do vậy, khi tiến hành kiểm toán nghiệp vụ tín dụng, kiểm toán
viên không chỉ nắm vững nghiệp vụ về kiểm toán mà còn phải có trình độ
phân tích nhất định về hoạt động tín dụng một hoạt động có nhiều rủi ro nhất
của ngân hàng thơng mại. Nhìn chung, kiểm toán nghiệp vụ tín dụng cũng là
một bộ phận của kiểm toán tài chính nói chung, sản phẩm cuối cùng đều là
báo cáo kiểm toán với sự xác minh và ý kiến bày tỏ của kiểm toán viên về đối
tợng kiểm toán- số d tài khoản cho vay.
Phần hai
Với đội ngũ nhân viên đầy kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán kiểm toán
và t vấn, Công ty đã và đang cung cấp dịch vụ này với chất hàng đầu tại Việt
Nam. Chính vì vậy mà khách hàng của Công ty ngày càng tăng lên. Khách
hàng chủ yếu của Công ty bao gồm: Tổng Công ty Hàng không Dân dụng Việt
Nam; Tổng Công ty Điện lực Việt Nam; Tổng Công ty Than Việt Nam; Tổng
Công ty Dầu khí Việt Nam; Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam; Tông Công ty
Xi măng Việt Nam; Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam; Vietcombank; Khách
sạn Thống Nhất Metropole; Khách sạn Hà Nội; Khách sạn Omni Sài Gòn;
Procter & Gamble; KAO Việt Nam Lmt; VietNam Motor Corp.; và rất nhiều
doanh nghiệp trong và ngoài nớc khác với nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Đội ngũ nhân viên ngày càng tăng về số lợng và chất lợng, điều đó có thể đợc
thấy rõ qua con số biết nói sau:
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
45% số nhân viên đã đợc đào tạo, khảo sát về kế toán, kiểm toán ở nớc
ngoài
37% số nhân viên có trên 5 năm kinh nghiệm.
17 % số nhân viên trở lên có hai bằng đại học.
61% số nhân viên sử dụng thành thạo ngoại ngữ trong công việc
95% số nhân viên có trình độ đại học trở lên và sử dụng thành thạo máy
vi tính trong công việc.
Số lợng nhân viên mới hàng năm tăng 20%. Hiện nay số lợng nhân viên
đã lên tới 376 ngời. Điều đó chứng tỏ quy mô của Công ty ngày càng
tăng.
Qua những con số đó ta có thể tin tởng vào chất lợng dịch vụ mà Công ty
cung cấp với vai trò là khách hàng. Chính vì niềm tin của khách hàng mà
doanh thu của VACO đã tăng nhanh chóng. Tốc độ tăng năm 2002 so với năm
1996 là 6000% một con số đáng ngỡng mộ đối với một doanh nghiệp rất trẻ
12 tuổi này.
1.2 - Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Công ty Kiểm toán Việt Nam.
í
M
í
n
h
P
h
o
n
g
t
ư
v
ấ
n
v
à
g
i
ả
i
p
h
á
o
P
h
ò
n
g
N
g
h
i
ệ
p
v
ụ
I
P
h
o
n
g
n
g
h
i
ệ
p
n
g
h
i
ệ
p
v
ụ
I
V
P
h
ò
n
g
k
i
ể
m
t
o
á
n
X
Qua sơ đồ trên ta có thể hình dung đợc mô hình tổ chức của Công ty. Ban
giám đốc bao gồm năm (5) thành viên: 1 Giám đốc và 4 Phó giám đốc. Căn cứ
vào điều lệ Công ty, các chức danh Giám đốc và Phó giám đốc đợc bổ nhiệm,
bãi nhiệm theo quyết định của Bộ trởng Bộ Tài chính. Giám đốc giữ vai
trò điều hành chung. Phó Giám đốc chịu trách nhiệm hỗ trợ Giám đốc
hoàn thành nhiệm vụ. Đồng thời, theo sự phân chia trách nhiệm, Phó
Giám đốc phải chịu trách nhiệm quản lý đối với một số các phòng
nghiệp vụ, các chi nhánh.
Bên cạnh đó trong cơ cấu tổ chức bộ máy VACO còn bao gồm "Hội
đồng cố vấn DTT". Hội đồng này có chức năng giám sát, t vấn các vấn
đề có liên quan đến việc ứng dụng quy trình AS/2 vào các quá trình
kiểm toán của Công ty. Đồng thời còn chịu trách nhiệm đào tạo nâng
cao trình độ của kiểm toán viên.
Ngoài Ban Giám đốc và Kế toán trởng, Công ty Kiểm toán Việt Nam
còn có nhiều phòng ban, chi nhánh khác. Đó là các phòng sau: Bốn
phòng nghiệp vụ là Phòng Nghiệp vụ I, II, III, IV, Phòng Đào tạo,
Phòng Kiểm toán XDCB, Phòng Dịch vụ Quốc tế (ISD). Mỗi Phòng đều
đảm nhiệm chức năng kiểm toán hoặc thực hiện việc cung cấp dịch vụ
theo những loại hình doanh nghiệp phù hợp. Tuy nhiên, việc thực hiện
25