NGHIÊN cứu NHÂN GIỐNG cây TÙNG - Pdf 20

MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
DANH MỤC CÁC ẢNH vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 1
2.1. Mục tiêu khoa học 1
2.2. Mục tiêu thực tiễn 1
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.Tổng quan về cây lá kim 3
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 3
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước 7
1.2. Tổng quan về cây Tùng Yên Tử 12
1.2.1. Tên cây Tùng trên các tài liệu hiện có 12
1.2.2. Thực trạng Tùng Yên Tử 13
1.2.3. Đặc điểm phân bố và hình thái 15
1.3. Tổng quan vấn đề nhân giống vô tính 18
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom 19
1.4.1. Các nhân tố bên trong 19
1.4.2. Các nhân tố bên ngoài 22
1.5. Tổng quan khu vực nghiên cứu 26
1.5.1.Vị trí địa lý, địa hình, địa thế 26
1.5.2. Khí hậu, thủy văn 27
1.5.3. Đặc điểm đa dạng sinh học khu rừng Yên Tử 29
Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Nội dung nghiên cứu 30

NAA : Napthalen acetic acid
2,4-D : 2,4-dicholorophenoxy acetic acid
TB : Trung bình
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Các loài cây lá kim bản địa của Việt Nam so với thế giới 8
Biểu 01: Bảng theo dõi hom sống trong quá trình thí nghiệm 35
Bảng 2: Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng ra rễ của hom sau 60
ngày 35
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của thuốc KTST IBA đến tỷ lệ sống của hom 37
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của KTST IBA đến ra rễ của hom 38
Bảng 3.3: Tỷ lệ sống của cây hom khi sử dụng thuốc KTST ABT 41
Bảng 3.4 : Ảnh hưởng của ABT đến khả năng ra rễ của hom 42
Bảng 3.5 : Ảnh hưởng của KTST NAA đến tỷ lệ sống của hom 44
Bảng 3.6 : Ảnh hưởng của KTST NAA đến khả năng ra rễ của hom 45
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của KTST IBA, ABT, NAA đến ra rễ của hom Tùng Yên Tử 46
Bảng 3.8:Thời vụ giâm hom ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của hom 47
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra rễ của hom 49
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của giá thể giâm hom đến tỷ lệ sống của hom 52
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của giá thể giâm hom đến tỷ lệ ra rễ của hom Tùng Yên Tử 53
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của ánh sáng đến tỷ lệ sống của cây Tùng Yên Tử 55
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Tỷ lệ sống của hom Tùng Yên Tử khi sử dụng KTST IBA 37
Hình 3.2: Ảnh hưởng của KTST IBA đến số rễ của hom Tùng Yên Tử 39
Hình 3.3: Ảnh hưởng của KTST IBA đến chiều dài rễ hom Tùng Yên Tử 39
Hình 3.4: Tỷ lệ sống của hom khi sử dụng KTST ABT sau 60 ngày 41
Hình 3.5: Ảnh hưởng của KTST ABT đến khả năng ra rễ của hom 42
Hình 3.6: Ảnh hưởng của KTST NAA đến tỷ lệ sống 44
Hình 3.7: Ảnh hưởng của KTST NAA đến khả năng ra rễ của hom 46

Yên Tử, cho Thiền phái Trúc Lâm gắn với danh sơn này, một trong những
loài cây nổi bật nhất của danh sơn Yên Tử là cây Tùng (Dacrydium elatum
Wall. Ex Hook), những cây Tùng nơi đây đã có hàng trăm năm tuổi. Nói đến
Yên Tử không thể không nhắc đến đường Tùng. Những cây Tùng cổ kính góp
phần tạo nên vóc dáng danh sơn Yên Tử linh thiêng, hùng vĩ, có thể coi đây là
một loài cây đặc trưng của đất thiêng vùng Đông Bắc Việt Nam này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu khoa học
Xác định được một số cơ sở khoa học nhân giống bằng phương pháp
giâm hom, góp phần bảo tồn thành công loài Tùng quý hiếm này ở khu vực
Yên Tử và những nơi có điều kiện sinh thái tượng tự.
2.2. Mục tiêu thực tiễn
- Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom
Tùng Yên Tử được giâm.
- Tạo ra được một số lượng cây con nhất định để bảo tồn tại vùng Yên Tử
tỉnh Quảng Ninh.
1
- Đề xuất được một số biện pháp và nhân giống bằng phương pháp giâm
hom phục vụ bảo tồn và phát triển loài Tùng Yên Tử này.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Tùng là loài cây hạt trần cổ xưa nhất còn sót lại ở vùng danh sơn Yên
Tử. Theo dự đoán của các nhà khoa học, những cây Tùng ở đây có khoảng
700 năm tuổi, hầu hết đã già cỗi, khả năng sinh trưởng kém. Theo số liệu điều
tra, thống kê mới nhất của Ban quản lý di tích danh thắng Yên Tử về số lượng
cây Tùng tại đường Tùng Yên Tử hiện mỗi năm có từ 1-3 cây không còn khả
năng sinh trưởng, các cành và thân chính cây chết khô là do tác động của các
đối tượng sâu, bệnh gây hại cùng với sinh lý của cây ở giai đoạn cuối chu kỳ
sinh trưởng. Nếu theo diễn biến này thì loài cây này sẽ bị tuyệt chủng trong
tương lai gần. Những cây Tùng Yên tử mất đi sẽ gây ảnh hưởng làm giảm giá
trị văn hóa lịch sử cũng như giá trị nghiên cứu khoa học của khu di tích danh

chế phạm vi phát triển tự nhiên nhưng không kém phần đa dạng [23]. Theo
Eckenwalder, J.E.(2009), cho thấy trên thế giới có gần 500 loài cây lá kim,
nhiều loài cây trồng quen thuộc; đặc biệt các chi như Thông (Pinus), Linh
sam (Abies), Vân sam (Picea), Bách (Juniperus), Kim giao (Podocarpus) bao
gồm 300 loài, chiếm hơn một nửa các loài cây lá kim trên thế giới [17]. Gần
3
đây, nhà thực vật người Mỹ Williams, C.G. (2009) khi nghiên cứu về sinh học
sinh sản của cây lá kim đã cho thấy có 7 họ cây lá kim là Araucariaceae,
Cephalotaxaceae, Cuppressaceae, Pinaceae, Podocarpaceae Sciadopityaceae
và Taxaceae phân bố ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới từ vùng ôn đới đến
vùng nhiệt đới, từ Nam bán cầu đến Bắc bán cầu [43].
Một số tác giả còn nghiên cứu về cấu trúc gỗ của thực vật Hạt trần như
nghiên cứu của Stephen G. Pallardy (2008) cho thấy: các yếu tố theo chiều
dọc của xylem bao gồm quản bào, trục nhu mô và các tế bào biểu mô. Các
yếu tố theo chiều ngang bao gồm tia quản bào, tia tế bào nhu mô và biểu mô.
Rải rác cũng có các ống dẫn nhựa mà chúng là các khoảng gian bào cho sự
phát triển bề dày thượng tầng. Ống dẫn nhựa là đặc trưng thông thường của
loài Thông, Vân sam, Linh sam [41].
Từ các nghiên cứu trên cho thấy rằng, thực vật Hạt trần mà đặc biệt là
cây lá kim bao gồm những cây cao nhất, lớn nhất và cổ xưa nhất trên thế giới,
nhưng chiếm tỷ lệ rất hấp so với thực vật Hạt kín (trên 600 loài), trong khi đó
thực vật Hạt kín có khoảng 170.000 loài (Wilson, 1988). Mặc dầu số loài
không nhiều so với thực vật Hạt kín nhưng thực vật Hạt trần phân bố khá rộng
và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội ở nhiều nước trên thế giới.
Các công trình nghiên cứu về thực vật Hạt trần nhìn chung còn khá khiêm tốn
so với thực vật Hạt kín [39].
1.1.1.1. Nghiên cứu sinh sản của của cây lá kim
Khi nghiên cứu cơ chế thụ phấn, thụ tinh của cây lá kim Williams, C.G.
(2009) cho thấy, bộ phận sinh sản cái chỉ có thể tiếp nhận hạt phấn khi các
vảy nón tách rời nhau ra và sự tiếp nhận này thông qua giọt thụ phấn. Giọt thụ

cây lá kim. Năm 2008 sản xuất được 4,07 triệu cây lá kim bằng giâm hom,
chiếm 3% tổng số cây giốngđược sản xuất tại Quebee. Các nhóm giống được
5
ưu tiên nhân nhanh để trồng rừng là: nhóm phân bố rộng (Picea mariana,
Pinus Banksiana), nhóm sinh trưởng nhanh (Larix, Populus), nhóm năng suất
cao (Picea glauca, Picea abies) [23].
Đối với loài cây Vân sam đen (Picea mariana), Canada đã sản xuất
hàng năm trên 3 triệu cây hom, Vân sam (Picea sitchensis) được ba nước trên
(Australia, New Zeland và Canada) tạo ra gần 4 triệu cây hom mỗi năm. Đặc
biệt năm 1989, ở Nhật Bản sản xuất 31,4 triệu cây hom Liễu sam
(Cryptomeris japonica). Vân san Na Uy (Picea abies) là loài cây lá kim cũng
thu hút được thành công trong việc nhân giống bằng hom với số lượng lớn
phục vụ công tác trồng rừng dòng vô tính, nhất là ở châu Âu. Chỉ tính riêng
một số cơ sở giâm hom của một số nước mà hàng năm đã sản xuất gần 11
triệu cây hom. Qua 10 năm khảo nghiệm ở Mỹ, mới đưa vào sản xuất đại trà
cây thông Noel (P. attenuate x P. radiata) với các đặc tính tốt của cây trang
trí, sinh trưởng nhanh, chịu lạnh, chịu hạn [22].
Trường Cao đẳng Lâm nghiệp Tây Nam Trung Quốc (2004) đã nghiên
cứu giâm hom loài Thông Pinus kesiya. Thí nghiệm được tiến hành trong nhà
kính có sử dụng chất điều hòa sinh trưởng với loại hom bánh tẻ 1 năm tuổi. Thí
nghiệm cho thấy tỷ lệ ra rễ cao nhất 90% khi sử dụng chất nền là đá trân châu và
đất mùn. Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng có thể rút ngắn giai đoạn ra rễ, tăng
số lượng rễ và chiều dài của rễ mới. Trong các chất điều hòa sinh trưởng được
thí nghiệm thì chất IAA nồng độ 1.000ppm cho kết quả ra rễ tốt nhất, tiếp theo là
hỗn hợp giữa IAA nồng độ 1.000ppm và NAA nồng độ 2.000ppm [37].
Hội nghị Bắc Âu về “Nhân giống và gây trồng cây là kim” được tổ chức
tại Punkaharju, Phần Lan vào ngày 10-11 tháng 9 năm 2007. Mục đích của
hội nghị là chia sẻ ý kiến và kinh nghiệm giữa các nhà nghiên cứu, nhà sản
xuất về nhân giống và gây trồng cây lá kim [40].
Những thành tựu đạt được trong nhân giống bằng hom và trồng rừng vô

nóng nhất trên thế giới về bảo tồn cây là kim [19, 39].
7
Bảng 1: Các loài cây lá kim bản địa của Việt Nam so với thế giới
Họ
Số chi/loài
trên thế giới
Số chi
ở Việt
Nam
Số loài/loài đặc
hữu ở Việt Nam
Bách tán (Araucariaceae) 3/41 0 0/0
Đỉnh tùng (Cephlotaxaceae) 1/5-11 1 1/0
Hoàng đàn (Cupressaceae) 30/135 7 7/2
Phyllocladaceae 1/4 0 0/0
Thông (Pinaceae) 11/125 5 10/1-2*
Kim giao (Podocarpaceae) 18/190 4 6/1-3**
Sciadopityaceae 1/1 0 0/0
Thông đỏ (Taxaceae) 5/23 2 6/2
Tổng số 70/635 19 29-30/5
Nguồn: Nguyễn Tiến Hiệp và các cộng sự [6]
* Một số loài Thông vừa mới phát hiện ở Việt Nam và có thể là loài đặc hữu;
** Số lượng các loài Thông tre ở miền Bắc Việt Nam chưa được xác
định chắc chắn có thể 2-3 loài chưa được mô tả và những loài này có thể là
loài đặc hữu.
Nhiều loài cây lá kim ở Việt Nam thuộc loại quý hiếm, có ý nghĩa rất lớn
trong công tác bảo tồn. Hai chi đơn loài Bách vàng (Xanthocyparis) và Thủy
tùng (Glyptostrobus) cũng là các chi đặc hữu của Việt Nam [20].
Từ các nghiên cứu trong nước cho thấy, cây lá kim Việt Nam khá đa
dạng, chiếm 5% số loài cây là kim trên thế giới, trong đó có nhiều loài đang

Cây lá kim thể hiện sự thích nghi đặc biệt đối với những nơi sống mà
cây lá rộng không thể sống xót được hoặc kém khả năng cạnh tranh hơn. Cây
lá kim vùng cao đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và giữ nước
cho miền núi [37]
Từ các nghiên cứu trên cho thấy rằng cây lá kim không chỉ có ý nghĩa
kinh tế quan trọng đối với người dân ở nhiều nước trên thế giới mà còn có giá
trị to lớn trong văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường. Vì vậy ngày nay việc
bảo vệ và phát triển các loài cây lá kim là nhiệm vụ cần thiết.
1.1.2.3. Nghiên cứu nhân giống cây lá kim
9
Trong những năm vừa qua, cùng với công tác bảo tồn nguồn gen cây
rừng, bảo vệ tính đa dạng sinh học tại chỗ, nhân giống bằng hom đã thu được
những thành công lớn trong việc nghiên cứu nhân nhanh một số loài cây quý
hiếm, cây có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng nhằm mục đích nghiên cứu và bảo
tồn ngoại vi các loài cây quý hiếm này. Ngay từ năm 1994, trong chương
trình “Bảo tồn nguồn gen cây rừng” của Viện Khoa học Lâm nghiệp đã tiến
hành khảo sát và đã tìm thấy 5 cây Thông đỏ (T. chinensis) tại vùng Pà Cò,
Mai Châu, Hòa Bình. Các nhà nghiên cứu đã giâm hom cành vào cuối năm
1995 với các chất điều hòa sinh trưởng IBA, ABT, IAA ở các dạng bột nồng
độ 0,5%, 1,0%, 1,5% và 2,0%. Kết quả thu được rất khả quan, công thức đối
chứng đã cho tỷ lệ ra rễ 60%, các công thức thí nghiệm xử lý IBA ở các nồng
độ trên đều cho tỷ lệ ra rễ rất cao 80 -100% ở cây số 1, các cây còn lại khác
cũng cho tỷ lệ trên 50%. Đề tài đã cung cấp được 500 cây hom để chuẩn bị
gây trồng phục vụ bảo tồn 5 cây Thông đỏ trên [10]. Có thể nói rằng nhân
giống bằng hom đã hỗ trợ rất đắc lực cho công tác bảo tồn nguồn gen cây
Thông đỏ, một loài cây có thể chiết xuất chất taxol để chữa một số bệnh ung
thư. Các cây hom trên cũng là nguồn vật liệu quý để các phục vụ lợi ích cho
con người. Đến nay đã có hàng nghìn cây hom được trồng tại Măng Linh để
đánh giá phản ứng của loài trên thực địa [10].
Cũng trong khuôn khổ chương trình này, Bách xanh (Calocedrus

còn áp dụng cho các loài cây bản địa, phục vụ các chương trình trồng rừng ở
các địa phương, các chương trình làm giàu rừng. Dầu rái (Dipterocarpus
alatus) là loài cây trồng rừng chủ yếu trong các chương trình làm giàu rừng ở
các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên, cũng là loài cây được trồng rất thành
công trên các đường phố ở thành phố Hồ Chí Minh. Xuất phát từ việc khó thu
hái và bảo quản hạt giống, việc nhân giống bằng hom lại đóng vai trò rất quan
11
trọng đối với loài cây này. Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích đã nghiên cứu trên
đối tượng Dầu rái 8 tháng tuổi và hom chồi của cây 5 tuổi, xử lý các chất điều
hòa sinh trưởng IBA, IAA, ATB ở các thang nồng độ khác nhau. Kết quả cho
thấy IBA là chất có tác dụng kích thích ra rễ tốt nhất cho Dầu rái, tỷ lệ ra rễ
có thể đạt 70 – 80%. Tùy theo điều kiện cụ thể, có thể xử lý hom giâm Dầu
rái trong chất điều hòa sinh trưởng IBA ở dạng dung dịch nồng độ 100 ppm
trong thời gian 3 giờ (có tỷ lệ ra rễ đạt 80%), hoặc nồng độ 2000 ppm trong
thời gian 3 giây (có tỷ lệ ra rễ đạt 86,7%) và dạng bột nồng độ 1,0% (có tỷ lệ
ra rễ đạt 90%) [16].
Các kết quả nhân giống bằng hom và bước đầu trồng thử nghiệm các
dòng vô tính cây rừng ở nước ta rất khả quan. Đó là cơ sở khoa học và có ý
nghĩa thực tiễn rất lớn, tạo điều kiện cho chúng ta tiếp tục đi sâu nghiên cứu,
ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào cải thiện giống, bảo tồn
nguồn gen của cây rừng.
1.2. Tổng quan về cây Tùng Yên Tử
1.2.1. Tên cây Tùng trên các tài liệu hiện có
Từ trước đến nay, có nhiều tài liệu viết về Yên Tử của các tổ chức và cá
nhân khi giới thiệu, quảng bá về Yên tử đều đề cập đến đường Tùng, vườn
Tùng với nhiều tên gọi khác nhau nhưng đều có tên chung là Tùng và cho
rằng Tùng được trồng từ thời Trần Nhân Tông, đến nay đã hơn 700 tuổi và gọi
chung là “Tùng cổ” hay “Cụ Tùng”.
“ Đây là những cây Tùng được trồng từ khi Trần Nhân Tông đến Yên
Tử, càng già càng vươn cao khỏe khoắn, thân cành uốn lượn khúc

với quá trình tôn tạo các thánh tích, cũng cần có kế hoạch và kinh phí đầy đủ
để bảo vệ những cảnh quan tự nhiên. Mất rừng tre, trúc, mất những hàng
Tùng và những cây Tùng cổ thụ sẽ không còn Yên Tử đúng nghĩa của nó. Và
ông đề nghị Nhà nước nên có một dự án đầu tư xây dựng khu vực Yên Tử là
13
một thắng tích và danh thắng của Tổ quốc Và cũng tại hội thảo, một ý kiến
khác của nhà nghiên cứu Trung Thị Kim Dung (Hà Nội) đã nhấn mạnh:
Ngang dọc những con đường nối hệ thống chùa, am trên Yên Tử, Vua Trần
Nhân Tông cho trồng Tùng lấy bóng mát và cũng là tỏ rõ cốt cách quân tử
theo quan điểm của người Á Đông Cũng theo nhà nghiên cứu Trung Thị
Kim Dung, Tùng Yên Tử có 3 loại: Thuỷ tùng (gỗ màu trắng), Thanh tùng
(gỗ màu xanh), Xích tùng (gỗ màu đỏ). Xích tùng là loại cực kỳ quí hiếm, chỉ
còn tồn tại ở nước ta, vân nó như hoa mẫu đơn và đường kính thân cây khá
lớn. Khảo sát ở Yên Tử năm 2000 còn 274 cây tùng có tuổi thọ 7 thế kỷ.
Những cây Tùng này giống những đài tháp khổng lồ ngạo nghễ giữa không
gian, vừa là “nhân chứng lịch sử” vừa là biểu tượng về khí phách bất tử can
trường trước mọi hoàn cảnh khắc nghiệt. Thăm Yên Tử, khách thập phương
đã cung kính suy tôn các cây tùng cổ thụ là “vệ sĩ” Đông Á oai hùng canh giữ
sơn địa thiêng liêng [32].
Thế nhưng mới sau 9 năm (từ năm 2000 đến năm 2009), ước tính ở Yên
Tử chỉ còn khoảng 250 cây. Cũng về chuyện các “cụ tùng” ở Yên Tử, còn
một câu chuyện kể rằng, mấy năm trước trong một chuyến hành hương Yên
Tử, võ sư Bùi Long Thành đã hướng dẫn môn sinh tiếp nhận nguồn năng
lượng sinh học từ các “cụ tùng”. Bởi theo võ sư thì vùng đất Yên Tử là vùng
đất tụ khí, những cây tùng này đã có 700 năm tuổi, nạp một lượng linh khí
của đất trời rất lớn. Những môn sinh tụ khí đã được nạp “trường điện” mạnh
mẽ của “cụ tùng” khoảng nửa giờ đồng hồ. Sau khi thụ khí của các “cụ tùng”,
tất cả đều thấy thân thể nhẹ nhàng khoẻ khoắn gấp bội. Thụ khí công không
phải là phát kiến mới, thực ra nó từng được ghi chép trong các sách khí công
năng thâm diệu của các thiền sư đắc đạo. Các “cụ tùng” Yên Tử được nhiều

biển. Ở các vùng núi thấp và núi trung bình loài này mọc cùng với Thông lá
15
dẹt (Pinus krempjii), Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis), Thông tre lá dài
(Podocarpus neiijolius), Pơmu (Fokienia hodgi nsii) và Thông nàng
(Dacrycapusimbricatus) [1].
- Mô tả
Cây gỗ mọc đứng với thân ít cành nhánh, các cành mọc hướng lên tạo
thành tán hình vòm nhỏ, chiều cao tới 30m với đường kính ngang ngực tới
0,8m. Cây mọc trong rừng nguyên sinh rậm thường xanh hỗn giao nhiệt đới
gió mùa núi thấp, đôi khi ở vùng đất thấp hoặc núi trung bình năm thường
khoảng 16-22
0
C, lượng mưa trên 1.700mm trên cả đất phong hóa từ granit
hoặc các đá silicat khác cũng như trên các dông núi đá vôi kết tinh trắng bị
bào mòn mạnh [3].
Cây Tùng Yên Tử là một cây ưa sáng, phân bố tập trung ở trên đai cao.
Theo kết quả Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc, mức tái sinh tự
nhiên của Tùng là rất kém. Sau mỗi mùa hạt rụng (tháng 10 -11), hạt lẫn trong
cỏ, lá khô quanh gốc cây mẹ [32].
Do hạt nhỏ, có tinh dầu thơm, kiến và mối rất thích ăn nên khi rụng xuống
phần lớn bị kiến và mối tha mất. Đến cuối xuân hạt nảy mầm hàng loạt, cây con
tồn tại đến cuối năm (cao 5-10cm) gặp mùa đông khô, lạnh khắc nghiệt cây chết
dần, những cây còn sống sót lại thường bị chết vào năm thứ hai do bộ rễ còn quá
yếu và bị cành là dụng đè lấp và bị sâu ăn. Những cây may mắn còn sống sót đến
năm thứ ba mới có thể thành cây con tái sinh để phát triển tiếp. Ba năm đầu cây
con tự nhiên sinh trưởng rất chậm, chỉ cao 10-20cm, sang năm thứ tư cây phát
triển nhanh hơn [32].
16
Ảnh 01: Hạt Tùng Yên Tử
Ảnh 02: Hoa Tùng Yên Tử

công cụ có hiệu quả nhất cho việc chọn giống cây rừng là phương thức áp
dụng phổ biến để nhân giống các dòng vô tính năng suất chất lượng cao.
18
Ở đa số thực vật, đặc biệt là cây một năm nhân giống chủ yếu bằng hạt,
ngược lại ở một số lớn cây gỗ, cây bụi đôi khi cả cây cỏ, nhân giống bằng hạt
không phải bao giờ cũng thuận lợi và hợp lý. Ngoài ra khi nhân giống bằng
hạt không đảm bảo đầy đủ các đặc tính di truyền quý của bố mẹ cho hậu thế
vì hậu thế hạt có xu hướng phân ly theo các định luật của Menden. Vì thế,
nhân giống sinh dưỡng có ý nghĩa khoa học và là một thủ pháp không thể
thiếu được trong các chương trình cải thiện giống cây rừng, bảo tồn các loài
cây nói chung và cây Tùng Yên Tử nói riêng.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom
Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình nhân giống vô tính bằng phương
pháp giâm hom bao gồm nhiều nhân tố nhưng chia ra làm hai nhân tố chính là
nhân tố tồn tại nội tạng trong hom giâm và nhân tố môi trường ngoại cảnh tác
động đến hom giâm.
1.4.1. Các nhân tố bên trong
(1) Đặc điểm di truyền
Đặc điểm di truyền của loài là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự
ra rễ của hom. Có những loài dễ ra rễ như sắn nhưng có loài khó ra rễ như
Sến. Thậm chí trong cùng Bạch đàn mỗi loài khác nhau cho tỷ lệ ra rễ khác
nhau Bạch đàn trắng tỷ lệ ra rễ là 50-90%, nhưng với loài Bạch đàn Euro thì
tỷ lệ ra rễ là 15-35,5% [15].
Ngay trong cùng một loài nhưng với xuất xứ khác nhau cũng có khả năng ra
rễ khác nhau. Ví dụ với loài Bạch đàn trắng (Eucalyptuscamaldulensis) xuất xứ
Victoria River là 60%, xuất xứ Gibb River là 85%, còn xuất xứ ở Nghĩa Bình
là 35% [16]. Các dòng khác nhau cũng cho tỷ lệ ra rễ khác nhau. Ví dụ như
Keo lai dòng 5 và dòng 10 cho tỷ lệ ra rễ lần lượt là 50,5% và 49.4% trong
khi đó keo lai dòng 32 và dòng 33 cho tỷ lệ ra rễ tương ứng là 72,7% và
84,7% [13]. Các loài cây khác nhau thì có đặc điểm ra rễ khác nhau. Các tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status