KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG-
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Địa lí tự nhiên
TP. Hồ Chí Minh, năm 2011.
Trang 1 Để hoàn thành chương trình đại học và thực hiện khóa luận tốt
nghiệp này, em đã nhận được sự giúp đỡ từ quý thầy cô, gia đình
và bạn bè.
Xin chân thành cảm ơn các cơ quan giúp đỡ về tài liệu :
- Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu Đại học Cần Thơ.
- Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, Viện khí tượng và thủy
văn.
- Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học
Chulalongkorn, Thái Lan).
Trang 3 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Khuynh hướng gia tăng nhiệt độ mùa đông của Việt Nam trong thế kỉ 20
(theo Dr, Dirk Schaefer, 2002) 25
Bảng 2.1. Lượng mưa bình quân tháng ở ĐBSCL năm 2001. 33
Bảng 2 2. Bảng so sánh mùa khí hậu ở ĐBSCL 34
Bảng 2.3. Lưu lượng trung bình tháng 5 năm liên tục tại Paskse (1986 – 2005) 46
Bảng 2.4. Lưu lượng nước trung bình tháng 5 năm liên tục tại Kratie
(1986-2000) 46
Bảng 2.5. So sánh lưu lượng nước trung bình Krate qua các thời kỳ…… ………47
Bảng 2.6. Dung tích các hồ chứa thủy điện lớn trên lưu vực sông MêKông xây dựng
trong giai đoạn 1979-2010. 47
Bảng 2.7. Dự báo theo kịch bản diện tích bị ngập khi mực nước biển dâng 1m ở các
tỉnh ĐBSCL 53
Bảng 2.8. Xu thế thay đổi khí hậu và các thiên tai khác ở ĐBSCL trong 3 thập kỷ
sắp tới 57
Bảng 3.1. Một số biện pháp để giảm các nguy cơ có thể đến với nông nghiệp. 81
Trang 4 DANH MỤC CÁC LƯỢC ĐỒ
Lược đồ 2.1. Bản đồ các loại đất chính ở Đồng bằng sông Cửu Long 29
Lược đồ 2.2. Bản đồ Cao độ Đồng bằng sông Cửu Long và cao trình một mặt cắt
của vùng ĐBSCL. 43
Lược đồ 2.3. Phỏng đoán sự thay đổi diện tích ngập vào thập niên 2020 so với thập
niên 1980 ở ĐBSCL (theo IPCC, 2007). 44
Lược đồ 2.4. Phỏng đoán sự thay đổi thời gian ngập vào thập niên 2020 so với thập
6.1. Các quan điểm sử dụng trong nghiên cứu 12
6.1.1. Quan điểm tổng hợp 12
6.1.2. Quan điểm lịch sử viễn cảnh 12
6.1.3. Quan điểm hệ thống 13
6.2. Các phương pháp nghiên cứu 13
6.2.1. Phương pháp trong phòng 13
6.2.2. Phương pháp thực địa 14
7. Các bước tiến hành nghiên cứu 14
8. Cấu trúc khóa luận 15
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHÍ HẬU VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU 16
1.1. Cơ sở lí luận về khí hậu 16
1.2. Cơ sở lí luận về biến đổi khí hậu 17
1.2.1. Các định nghĩa về biến đổi khí hậu 17
1.2.2. Đặc điểm của biến đổi khí hậu 18
1.2.3. Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu 18
1.2.4. Tác động của biến đổi khí hậu 20
1.3. Vài nét về tình hình biến đổi khí hậu và xu hướng biến
đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam hiện nay 21
1.3.1. Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới 21
1.3.2. Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam 24
Trang 7 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ ĐBSCL VÀ HIỆN TRẠNG, XU HƯỚNG,
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐBSCL 30
2.1. Tổng quan về Đồng bằng sông Cửu Long 30
2.1.1. Vị trí địa lí 30
2.1.2. Điều kiện tự nhiên 31
3.1. Các biện pháp giảm nhẹ 79
3.1.1. Trong sử dụng năng lượng 79
3.1.2. Hoạt động giao thông vận tải 80
3.1.3. Trong sản xuất công nghiệp 80
3.1.4. Trong sản xuất nông nghiệp 80
3.1.6. Đảm bảo an sinh 84
3.2. Các biện pháp thích nghi (thích ứng) 85
3.2.1. Trong nông nghiệp: hướng tới nền nông nghiệp bền
vững 86
3.2.2. Thích ứng trong giao thông, du lịch 90
3.2.3. Thích ứng trong phát triển công nghiệp và đô thị 91
3.2.4. Thích ứng xã hội 91
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN 96
2. KIẾN NGHỊ 97
Tài liệu tham khảo 100
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
Trang 9 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu hiện đang là vấn đề mang tính toàn cầu, trong đó biến đổi
khí hậu đã và đang xảy ra và làm ảnh hưởng tới ĐBSCL. Theo thời gian, biến đổi
khí hậu ngày càng biểu hiện rõ, và nó đã tác động tới tự nhiên và kinh tế xã hội của
vùng.
ĐBSCL nằm giữa khu kinh tế năng động và phát triển: kề vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam và toàn vùng Đông Nam Á rộng lớn, nằm giữa Nam Á và Đông Á,
gần Châu Úc và các quần đảo trên Thái Bình Dương. ĐBSCL có mạng lưới sông
ngòi, kênh rạch dày, thuận lợi cho giao thông đường thủy.
hậu trên thế giới và Việt Nam.
Trình bày hiện trạng và xu hướng biến đổi khí hậu ở ĐBSCL.
Những tác động của biến đổi khí hậu tới ĐBSCL.
Từ việc đánh giá đưa ra một số biện pháp, kiến nghị và kết luận giúp.
giảm thiểu những khó khăn do BĐKH mang lại đối với ĐBSCL.
4. Giới hạn đề tài
Do số liệu đo đạc liên quan tới đề tài của các cơ quan chưa nhiều vì vậy việc
thu thập số liệu còn hạn chế. Với khả năng của một sinh viên sư phạm, tôi chỉ có thể
thu thập số liệu và tài liệu một số cơ quan để nghiên cứu về sự biến đổi khí hậu
ĐBSCL để tổng hợp và phân tích. Và từ đó đánh giá, đưa ra một số giải pháp, kiến
nghị của bản thân về vấn đề nghiên cứu….
5. Lịch sử nghiên cứu
Trên thế giới, BĐKH được quan sát và nghiên cứu từ năm 1870-sau 100 năm
thời kì bắt đầu của quá trình công nghiệp hóa.
Ở Việt Nam, tuy trạm khí tượng thủy văn có từ năm 1895, nhưng những biểu
hiện của BĐKH chỉ được quan sát kĩ từ năm 1950.
Trang 11 Còn đối với ĐBSCL, những tác động của BĐKH là một vấn đề khá mới nên
những biểu hiện thay đổi của thời tiết, khí hậu được theo dõi chi tiết từ năm 1980
bởi Viện khí tượng và thủy văn. Và được thể hiện trong các báo cáo chính thức vào
nă 2007 của Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC), Ngân hàng Thế giới (WB),
Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP). Vùng Đồng bằng sông Cửu
Long được xem là nơi chịu tổn thương mọi mặt nghiêm trọng nhất của Việt Nam do
lũ lớn, bão tố bất thường, hạn hán kéo dài, mùa mưa đến trễ đầu vụ và lớn hơn vào
cuối vụ, nước biển dâng, sự xâm nhập mặn, Các báo cáo như một lược khảo các
kết quả nghiên cứu dẫn chứng cho sự phỏng đoán về biến đổi khí hậu ở Việt Nam
nói chung và miền Nam nói riêng, đặc biệt nhấn mạng vùng Đồng bằng sông Cửu
Long.
BĐKH là hiện tượng tự nhiên, trong lịch sử phát triển của thế giới nó luôn
thay đổi, diễn biến của BĐKH ngày càng phức tạp, hậu quả của nó gây ra ngày càng
lớn; nên để nhận định sâu sắc về nó phải đứng trên quan điểm lịch sử để xem xét,
nắm bắt được tình hình BĐKH trước đây và hiện nay nhằm có những nhận xét đúng
đắn nhất về diễn biến của BĐKH và có thể dự báo cho tương lai. Song song với đó,
đứng trên quan điểm lịch sử, ta có thể xem xét giải pháp không chỉ “sống chung với
lũ” trước đây mà cả “sống chung với ngập”, “sống chung với BĐKH” ở ĐBSCL
hiện nay và sau này. Trước đây, người dân ĐBSCL sống chan hòa với lũ, nhưng
chưa sống với ngập, nhưng hiện nay trước tình hình BĐKH và hậu quả khôn lường
của nó gây ra, cùng với những hành vi khai thác mạnh mẽ tự nhiên, dân cư đông
đúc, cơ sở hạ tầng mọc lên khắp nơi, thì những giải pháp sống chung với lũ, với tình
hình khí hậu trước đây là không còn thích hợp, và từ đó sẽ ảnh hưởng đến đời sống
kinh tế-xã hội.
Trang 13 6.1.3. Quan điểm hệ thống
Đứng trên quan điểm hệ thống, rõ ràng những nguyên nhân gây ra BĐKH và
những hậu quả của nó gây ra, nhất là những biến dị của thời tiết, nước biển dâng có
quan hệ chặt chẽ với nhau, là một hệ thống không thể tách rời nhau. Khi nhận xét
nguyên nhân làm cho tình hình BĐKH ở ĐBSCL càng trở nên gay gắt, ngoài việc
xem xét nguyên nhân tại vùng, mà quan trọng hơn hết là là các nguyên nhân của
toàn cầu, vì BĐKH mang tính chất toàn cầu. Vì vậy, khi nghiên cứu ta nên xem xét
các yếu tố ấy trong mối liên hệ với nhau, phải giải quyết đồng thời tất cả các yếu tố
với nhau.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp trong phòng
Là một phương pháp chủ yếu, chiếm nhiều thời gian, phương pháp trong
phòng gồm các phương pháp như: phương pháp thu thập xử lí thông tin-tài liệu,
phương pháp bản-đồ biểu, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp.
nhằm đạt hiệu quả cao.
6.2.2. Phương pháp thực địa
Đây là một phương pháp rất cần thiết cho việc nghiên cứu, nhưng do hạn chế
về kinh phí, thời gian và trình độ nên còn ít thâm nhập thực tế, mà chỉ qua những
hiểu biết thông qua những chuyến thực địa về tự nhiên ở ĐBSCL, cùng với những
thông tin, tài liệu tham khảo cũng giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu đề tài.
7. Các bước tiến hành nghiên cứu
Lập đề cương thông qua giáo viên hướng dẫn.
Sưu tầm tài liệu, scan bản đồ.
Viết nháp.
Trang 15 Viết đề cương cương chi tiết.
Xử lý số liệu.
Hoàn chỉnh khóa luận.
8. Cấu trúc khóa luận
- Phần mở đầu
- Phần nội dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về khí hậu và biến đổi khí hậu
Chương 2: Đánh giá hiện trạng, xu hướng, tác động của biến đổi khí hậu ở
Đồng Bằng sông Cửu Long.
Chương 3: Giải pháp ứng phó và thích nghi với biến đổi khí hậu ở Đồng
bằng sông Cửu Long.
- Phần kết luận và kiến nghị.
Trang 16 PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đất liền: bao gồm đất liền, trầm tích, đá (trên mặt đất, các lục địa và cả nằm
trong lòng đất-thường gọi là thạch quyển). Đất liền có thể ảnh hưởng đến khí hậu
toàn cầu ở những quy mô khác nhau do sự phân bố của đất liền trên Trái Đất quyết
định.
Sinh quyển trên đất liền và trong các đại dương có ảnh hưởng đến độ phản xạ
của bề mặt Trái Đất. Những vùng rừng rậm lớn làm giảm độ phản xạ, do đó làm
giảm sự phát xạ của Trái Đất, rừng còn hấp thụ các khí nhà kính làm giảm sự nóng
lên của toàn cầu.
1.2. Cơ sở lí luận về biến đổi khí hậu
1.2.1. Các định nghĩa về biến đổi khí hậu
"Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí
quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các
nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo" (theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường).
Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và
hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài
thập kỉ hoặc dài hơn.
Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác
động bên ngoài hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí
quyển hay trong khai thác sử dụng đất.
Biến đổi khí hậu là những thay đổi theo thời gian của các hình thái thời tiết
trên toàn thế giới, nhiệt độ trung bình tăng hay là sự nóng lên dần của Trái Đất, tăng
nồng độ khí nhà kính hay khí các bon thải ra từ các hoạt động của con người và
đọng lại trong khí quyển.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về BĐKH, nhưng chúng ta có thể hiểu
theo một định nghĩa khá đầy đủ sau: “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại
Trang 18 của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây
ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh
2
đã tăng 36%, CH
4
tăng 17%, NO
2
tăng
Trang 19 51%. Cũng trong khoảng cùng thời gian đó, nhiệt độ trung bình của Trái Đất đã
được ghi nhận đã tăng khoảng 0,8
0
C.
Quan điểm thứ 2:
Tuy thừa nhận vấn đề gia tăng nhiệt độ do hiệu ứng nhà kính, song cần nhấn
mạnh hơn đến chu kì nóng lên của Trái Đất do hoạt động nội tại. Hiện tượng bề mặt
Trái Đất nóng lên và lạnh đi vốn là hiện tượng tự nhiên xảy ra có tính chu kì trong
lịch sử hình thành và phát triển của Trái Đất. Không phải bây giờ mà lịch sử Trái
Đất hàng triệu năm đã trải qua nhiều lần nóng lên rồi lạnh đi kéo theo những biến
động to lớn trong đời sống sinh vật trên Trái Đất, làm thay đổi cả diện mạo địa hình
lục địa và đại dương.
Tính từ 1,6 triệu năm trước cho tới nay, đã có 5-6 chu kì biến động lớn của
nhiệt độ Trái Đất. Đó là các chu kì băng hà kéo theo mực nước biển hạ thấp và cả
các thời kì gian băng kéo theo mực nước biển dâng cao. Vào thời kì băng hà nhiệt
độ bề mặt Trái Đất khô lạnh. Vào thời kì gian băng nhiệt độ bề mặt Trái Đất đan
xen giữa nóng ẩm và khô hạn. Vào các thời kì đó biên độ dao động của nước biển
lên tới hàng chục, hàng trăm mét.
Mỗi chu kì kéo dài hàng vạn, chục vạn năm. Mỗi chu kì như vậy chia ra làm
các chu kì ngắn hơn với thời gian kéo dài vài trăm tới nghìn năm với biên độ dao
động nước biền từ 2-3 m hoặc hơn.
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn và HFC-23 là sản
phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22.
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.
- SF
6
sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.
*** Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái Đất nói chung.
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường
sống của con người và các sinh vật trên Trái Đất.
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng
đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng
khác nhau của Trái Đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ
sinh thái và hoạt động của con người.
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu
trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành
phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
1.2.4. Tác động của biến đổi khí hậu
Những tác động của BĐKH tới tự nhiên, cũng như đời sống con người và các
ngành kinh tế là rất lớn:
1- Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng tới lượng mưa, nhiệt độ và nước dùng cho
nông nghiệp. Dự báo đến năm 2080, thế giới có thêm khoảng 600 triệu người bị suy
dinh dưỡng.
2- Đến năm 2080, sẽ có khoảng 1,8 tỉ người sống trong tình trạng khan hiếm
nước, đặc biệt là Bắc Trung Quốc, Trung Đông, Nam Mỹ và phía Bắc Nam Á.
3- Khoảng 330 triệu người sẽ mất chỗ ở tạm thời hoặc vĩnh viễn do lũ lụt nếu
nhiệt độ Trái Đất tăng thêm 3-4
0
Bằng cách đo đạc các thớ cây, diện tích các vùng băng, người ta nhận thấy đây là
thời kì nhiệt độ cao nhất trong vòng 600 năm trở lại đây.
Trên Trái Đất băng quyển chiếm 10% một cách thường xuyên, chủ yếu là ở
Nam Cực và đảo Greenland. Băng cũng bao phủ trên 7% diện tích biển. Đặc điểm
của năng tuyết là có hệ số phản xạ rất cao, bức xạ từ Mặt Trời bị phản chiếu lại đến
90%, trong khi trên các đại dương và các lục địa có thảm thực vật hệ số phản xạ chỉ
là 10%, do đó băng tuyết có tác động hồi tiếp rất cao trong các biến đổi khí hậu.
Ngoài ra băng tuyết có hệ số dẫn nhiệt thấp nên cũng ảnh hưởng tới sự thay đổi
nhiệt độ của Trái Đất. Sự tan băng dưới tác động của nhiệt độ sẽ làm cho mực nước
biển dâng cao lên.
Các quan sát qua vệ tinh trong giai đoạn 1966-2005 cho thấy bề mặt phủ
tuyết ở Bắc bán cầu giảm đi mỗi tháng. Tính chung bình cả năm từ cuối thập kỉ
1980, bề mặt này giảm đi 5%. Ở Nam bán cầu người ta không phát hiện được bất cứ
sự thu hẹp nào của bề mặt phủ tuyết.
Trong thế kỉ 20, các chỏm băng ở 2 cực và các sông băng cũng tan đi ít nhiều
gây hiện tượng dâng cao của mực nước biển. Sự tan băng của các chỏm băng và
sông băng (trừ Nam Cực và Greenland) trong khoảng thời gian 1961-2003 tương
đương với một mực nước biển dâng cao khoảng 0,4-0,6 mm hàng năm, còn trong
khoảng thời gian 1991-2003 thì tương đương với mực nước biển dâng cao hàng
năm 0,7-0,9 mm. Có lẽ sự tan băng này có nguyên nhân là sự ấm dần lên của khí
hậu từ 1970 trở đi. Người ta giải thích việc thềm băng Larsen B ở Nam Cực nứt làm
đôi nhanh chóng năm 2002 là do nhiệt độ mùa hè tăng cao, nước băng tan chảy vào
các kẽ hở và tách cả thềm băng này.
1.3.1.2. Những thay đổi về lượng mưa
Người ta nhận thấy trong tầng đối lưu đã có sự gia tăng nhất định của lượng
hơi nước. Từ năm 1976, cùng với sự ấm dân lên của Trái Đất, độ ẩm cũng tăng lên
trên các lục địa và các đại dương. Trên mặt biển cột hơi nước đã tăng khoảng 1,2%
mỗi thập kỉ trong khoảng thời gian từ 1988-2004. Do có sự gia tăng của độ ẩm mà
lượng mưa cũng tăng theo.
Trang 23
gió tối đa của 90% các trận bão mạnh nhất thế giới vào năm 1981 là 225km/giờ.
Trang 24 Đến năm 2006 tốc độ ấy tăng lên đến 250km/giờ
1
. Số lượng cũng như hướng đi của
các trận bão cũng phụ thuộc vào hiện tượng El Nino. Trong thập kỉ 1995-2005, có
tới 9 năm số các trận bão trên Bắc Đại Tây Dương vượt quá con số được xem là
trung bình của thời kì 1981-2000. Cũng từ năm 1970 trở đi, các quan sát cho thấy,
ở nhiều vùng trên thế giới các đợt hạn hán trầm trọng và kéo dài đã xuất hiện một
cách bất bình thường. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là việc nhiệt độ tăng
cao và lượng mưa giảm đi.
Các nghiên cứu của IPCC (2007) cho thấy xu thế: (1) nhiệt độ toàn cầu gia
tăng 1
0
C trong giai đoạn 2010-2040 và 3-4
0
C trong giai đoạn 2070-2100; (2) lượng
mưa trung bình trên thế giới sẽ giảm 20 mm trong giai đoạn 2010-2040 nhưng gia
tăng 60 mm trong giai đoạn 2070-2100.
1.3.2. Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Việt Nam với diện tích khoảng 330.212 km
2
, nằm trên bán đảo Đông Dương
trong vùng nhiệt đới gió mùa. Lãnh thổ trải dài với hơn 3.260 km bờ biển với hơn
3000 hòn đảo lớn nhỏ và 2 quần đảo. Việt Nam có sự đa dạng cao về địa hình, tài
nguyên khí hậu, tài nguyên sinh học.
Việt Nam với khí hậu nhiệt đới gió mùa, ảnh hưởng sâu sắc của biển Đông,
có nhiệt độ trung bình hàng năm thường vượt quá 20