TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH - Pdf 20


1 TỔNG QUAN VỀ
TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH

2

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ VÀ
TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH

I. DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA DU LỊCH
1. Khái niệm du lịch
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy lạp, với ý nghĩa là đi một vòng.
Thuật ngữ này được latinh hoá thành tornus và sau đó thành touriste (tiếng
Pháp), tourism (tiếng Anh). Theo Robert Lanquar từ touriste lần đầu tiên xuất
hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800.
Trong tiếng Việt, thuật ngữ touriste được dịch thông qua tiếng Hán. Du
nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải.
Du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép. Một mặt nó mang ý
nghĩa thông thường của từ: việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi,
giải trí… Mặt khác, du lịch được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là hoạt
động gắn chặt với những kết quả kinh tế (sản xuất, tiêu thụ) do chính nó tạo ra.
Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi, liên quan
tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm
nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận

Việc làm quen với các danh thắng và môi trường thiên nhiên bao quanh
trong quá trình du lịch còn tạo điều kiện cho du khách hiểu biết sâu sắc về tự
nhiên, hình thành quan niệm và thói quen bảo vệ tự nhiên. Như vậy nó đã góp
phần giáo dục cho du khách về mặt sinh thái học.
- Du lịch như là một nhân tố củng cố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao
lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia.
Thông qua việc giao lưu, tìm hiểu về thiên nhiên, xã hội, các nét đẹp văn
hoá… của dân cư ở các vùng, miền khác nhau trên thế giới làm cho con người sống
ở các quốc gia, các châu lục khác nhau hiểu biết nhau và xích lại gần nhau hơn.
3. Các loại hình du lịch
Hoạt động du lịch đa dạng và phong phú, có thể chia thành các loại hình sau:

4
- Theo nhu cầu của khách: du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi, du lịch
văn hoá, du lịch công vụ, du lịch tôn giáo, du lịch thể thao…
- Theo phạm vi lãnh thổ: du lịch trong nước, du lịch quốc tế…
- Theo vị trí địa lý của các cơ sở du lịch: du lịch biển, du lịch núi.
- Theo thời gian cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày.
- Theo hình thức tổ chức: du lịch có tổ chức, du lịch cá nhân.
- Theo phương tiện sử dụng: du lịch ô tô, du lịch xe đạp, du lịch máy bay,
du lịch tàu thuỷ…
II. TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH
1. Quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế
Theo quan điểm của trường phái địa lý Xô Viết, tổ chức lãnh thổ là sự sắp
xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng có ảnh hưởng lẫn nhau, có mối quan hệ
qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lý các
nguồn lực để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường.
Theo quan điểm của các trường phái địa lý Phương Tây, tổ chức lãnh thổ
(còn gọi là tổ chức không gian kinh tế xã hội) được coi là sự lựa chọn về nghệ
thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn nhằm tìm kiếm một tỷ lệ, quan hệ hợp

người, du lịch cũng có các chức năng: chính trị, kinh tế, xã hội, sinh thái.
Trong nghiên cứu du lịch, tổ chức lãnh thổ là một trong những vấn đề
được quan tâm hàng đầu, bởi vì không thể tổ chức và quản lí có hiệu quả hoạt
động du lịch nếu không xem xét khía cạnh không gian lãnh thổ của nó, để hoạt
động du lịch phát triển hiệu quả, vừa mang tính chất nghỉ ngơi, chữa bệnh… vừa
là một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước trên thế giới, tổ chức lãnh thổ du
lịch phải hợp lí khoa học.
Thực tế, tổ chức lãnh thổ du lịch chính là sự phân hóa không gian của du
lịch căn cứ trên các điều kiện tài nguyên du lịch, hiện trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở
vật chất kĩ thuật và lao động ngành cùng các mối liên hệ với điều kiện phát sinh
của ngành với các ngành khác, với các địa phương khác và rộng hơn là mối liên
hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới.

6
Sơ đồ 1.1: Vị trí tổ chức lãnh thổ du lịch trong tổ chức lãnh thổ xã hội

Nông
thôn
Thành
thị

7
Chuyên môn hoá theo giai đoạn của quá trình du lịch.
Chuyên môn hoá theo các công đoạn sản xuất dịch vụ du lịch.
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch nói chung và vạch ra các tuyến, điểm
du lịch trên một đơn vị lãnh thổ nói riêng, góp phần quan trọng trong việc tạo ra
những sản phẩm du lịch đặc sắc có khả năng thu hút khách du lịch, nhằm tăng
khả năng cạnh tranh. Tài nguyên du lịch chỉ được khai thác và sử dụng có hiệu
quả nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch đáp ứng yêu cầu khi có sự tổ chức lãnh
thổ du lịch và việc xây dựng các tuyến, điểm du lịch hợp lý.
Việc tổ chức lãnh thổ du lịch tốt không những góp phần làm ra lợi ích,
làm thay đổi bộ mặt kinh tế của mỗi vùng và cộng đồng, mà còn thúc đẩy vấn đề
kiểm soát môi trường, bảo tồn di sản văn hoá và thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở
cả những nơi không phong phú tài nguyên. Tổ chức lãnh thổ du lịch cũng tạo sự
thúc đẩy con người và các quốc gia trên thế giới xích lại gần nhau, làm cho du
lịch có tính trao đổi xuyên văn hoá.
Tuy nhiên, tổ chức lãnh thổ du lịch không có tính thống nhất và khoa học
sẽ gây ra nhiều thiệt hại như làm mất đi những lợi ích kinh tế tiềm năng, suy
giảm môi trường, làm mất đi sự thống nhất bản sắc văn hoá.
Vì vậy, để đạt được lợi ích du lịch và hạn chế tối đa những vấn đề nảy
sinh, việc tổ chức tốt và quản lý có hiệu quả du lịch là rất cần thiết.
4. Mục tiêu của tổ chức lãnh thổ du lịch
Tổ chức lãnh thổ du lịch có thể cung cấp một sự cải thiện về du lịch nếu
như nó hướng trực tiếp đến hàng loạt các mục tiêu chủ yếu. ở đây những mục
tiêu được xác định dựa trên sự khác nhau của các đối tượng du lịch. Các đối
tượng du lịch đó phải thật sự cụ thể, rõ ràng để công tác tổ chức du lịch được

Từ những điều trình bầy trên đây, có thể xác định khái niệm tài nguyên du
lịch như sau:
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử cùng các thành
phần của chúng được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp hay gián tiếp hoặc cho việc
tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí lực
cũng như khả năng lao động và sức khỏe của con người.
1.2. Phân loại tài nguyên du lịch

9
1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng, hiện tượng trong môi
trường tự nhiên xung quanh chúng ta được lôi cuốn vào việc phục vụ cho mục
đích du lịch.
Các thành phần tự nhiên với tư cách là tài nguyên du lịch có tác động
mạnh nhất đến hoạt động này là địa hình, khí hậu, nước, động - thực vật.
a. Địa hình
Ảnh hưởng quan trọng của địa hình đến du lịch là các đặc điểm hình thái
của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn du khách.
Về mặt hình thái của địa hình, với các dạng địa hình cơ bản là: đồng bằng,
địa hình đồi và địa hình miền núi.
Địa hình đồng bằng do đơn điệu về hình thái, ít hấp dẫn khách du lịch.
Nhưng đây lại là địa bàn kinh tế xã hội phát triển và lâu đời. Thông qua các hoạt
động sản xuất, văn hóa xã hội của con người, miền địa hình này có ảnh hưởng
gián tiếp đến du lịch.
Địa hình vùng đồi thường là nơi có không gian thoáng đãng thích hợp cho
các hoạt động dã ngoại, cắm trại, tham quan, d· ngo¹i Nơi đây cũng có truyền
thống sản xuất lâu đời, dân cư tập trung đông đúc; thường là nơi có nhiều di tích
khảo cổ, tài nguyên văn hóa lịch sử độc đáo, phát triển loại hình du lịch tham
quan theo chuyên đề.
Miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch. Khu vực này thuận lợi cho

suất khí quyển, số giờ nắng, sự phân mùa và các hiện tượng thời tiết đặc biệt có
tác động đến tổ chức du lịch.
Đặc biệt là sự phân mùa của khí hậu làm cho du lịch có tính mùa rõ rệt.
Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của
các yếu tố khí hậu. Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu hoạt động du lịch có thể
diễn ra quanh năm hoặc chỉ một số tháng.
- Mùa đông: là mùa du lịch trên núi, đặc biệt là loại hình du lịch thể thao.
- Mùa hè: là mùa du lịch quan trọng nhất vì có thể phát triển nhiều loại
hình du lịch, đặc biệt là du lịch biển, trên núi, các loại hình du lịch ngoài trời.
- Mùa du lịch cả năm: thích hợp với du lịch núi, nước khoáng chữa bệnh.
Các vùng khí hậu nhiệt đới và xích đạo mùa du lịch hầu như là cả năm.

11
Đối với tổ chức các dịch vụ du lịch, các tuyến du lịch cần chú ý đến các
hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở kế hoạch du lịch như bão, gió mùa, gió
phơn, lũ lụt, mùa mưa.
Thông thường du khách thường ưa thích những điểm du lịch không quá
nóng, quá lạnh, quá ẩm, quá khô hay nhiều gió.
c. Nguồn nước
Tài nguyên nước phục vụ du lịch gồm có nước trên bề mặt và nước dưới
đất (nước khoáng).
Tài nguyên nước trên bề mặt bao gồm mạng lưới sông ngòi, ao, hồ nước
ngọt và nước mặn. Nó có ý nghĩa lớn trong việc cung cấp nước cho các khu du
lịch, phát triển các loại hình du lịch đa dạng như: hồ, sông nước…
Trong tài nguyên nước cần phải nói đến nước khoáng với giá trị chủ yếu
cho du lịch an dưỡng và chữa bệnh.
Nước khoáng là nước thiên nhiên có một số thành phần vật chất đặc biệt
(các nguyên tố hoá học, các khí, các nguyên tố phóng xạ…) hoặc có một số tính
chất vật lý (nhiệt độ, độ pH…) có tác dụng đối với sức khoẻ con người, đặc biệt
là để chữa bệnh. Các nguồn nước khoáng là cơ sở để phát triển du lịch chữa

sinh vật có ý nghĩa rất quan trọng.
1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
1.2.2.1. Khái niệm
Tài nguyên du lịch nhân văn là những đối tượng, hiện tượng do con
người tạo ra trong quá trình phát triển. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm
truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch
sử, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo
của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử
dụng phục vụ mục đích du lịch.
1.2.2.2. Đặc điểm
- Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn là giải trí.
- Việc tìm hiểu diễn ra trong thời ngắn, do đó trong chuyến đi du lịch có
thể đi tham quan nhiều đối tượng tài nguyên.
- Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các thành phố, ở các
điểm quần cư nên không cần xây dựng thêm cơ sở vật chất riêng.

13
- Tài nguyên du lịch nhân văn không có tính mùa vụ như tài nguyên du
lịch tự nhiên
- Đối với tài nguyên du lịch nhân văn, khách quan tâm là những người có
trình độ văn hoá cao, có mức sống cao và hiểu biết rộng
- Sở thích của người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn phụ thuộc vào
độ tuổi, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, thế giới quan, vốn trí
thức của họ.
( Điều 13, chương II. Luật du lịch Việt Nam số 44/2005/QH 11 ngày 14
tháng 6 năm2005).
1.2.2.3. Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn:
a. Các di tích lịch sử, văn hoá
Di tích lịch sử văn hoá là tài sản quý giá của mỗi dân tộc, nó thể hiện
truyền thống tốt đẹp, tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị về văn hoá, nghệ thuật của

kiến trúc và giá trị văn hoá tinh thần.
Ví dụ: Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), nhà thờ Phát Diệm (Ninh
Bình), toà thánh Tây Ninh.
+ Các loại danh lam thắng cảnh: Phong cảnh đẹp hòa quyện với các công
trình mang tính chất văn hóa - lịch sử. Tại đây không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên
mà còn có giá trị nhân văn sâu sắc.
+ Các bảo tàng: bảo tàng là nơi lưu giữ các tài sản văn hoá dân tộc,
truyền thụ tri thức chấn hưng tinh hoa truyền thống.
- Các di tích nhân văn có giá trị đặc biệt được xếp vào di sản của thế giới:
7 kỳ quan thế giới (kim tự tháp Ai Cập; vườn treo Babilon; tượng khổng lồ
Heliôt - trên đảo Rôt; lăng mộ vua Mozon ở Halicacnasơ; đền thờ Actemic ở
Ephedơ; tượng thần Dớt ở Olempia và ngọn hải đăng Alexandria).
Ở Việt Nam có các di sản văn hoá được công nhận là di sản văn hoá thế
giới: Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Văn hoá cồng chiêng Tây
Nguyên, nhã nhạc Cung Đình Huế.
b. Các lễ hội
Lễ hội là một dạng tài nguyên nhân văn quan trọng, là loại hình sinh hoạt
văn hoá tổng hợp rất đa dạng và phong phú để con người hướng về tổ tiên, ôn lại

15
truyền thống, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, thể hiện những ước mơ,
khát khao mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.
Lễ hội gồm có hai phần: phần lễ và phần hội
Phần lễ: với những nghi thức trang nghiêm, trọng thể, mở đầu ngày hội,
mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về lịch sử hay một nhân vật lịch sử có ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển xã hội. Nghi thức lễ hội nhằm bày tỏ tôn kính với
các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hoà và
sự phồn vinh, hạnh phúc.
Phần hội: được diễn ra với các hoạt động điển hình, tượng trưng cho tâm
trí cộng đồng, văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với

(3) Nghề kim hoàn (còn gọi là nghề mỹ nghệ vàng bạc)
Nước ta có nhiều làng làm nghề kim hoàn, như làng Đình Công (Thanh
Trì – Hà Nội) và được coi là cái nôi của nghề kim hoàn ở nước ta.
(4) Nghề gốm
Nước ta là một trong những nơi có kỹ nghệ gồm phát triển sớm nhất ở
châu Á. Nhiều địa phương đã nổi tiếng cả trong và ngoài nước về kỹ thuật làm
gốm thủ công thô sơ rất độc đáo có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách như:
Hương Canh (Vĩnh Phúc), Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc Ninh), Lò Chum
(Thanh Hoá), Phương Tích (Huế), Biên Hoà (Đồng Nai).
(5) Nghề mộc
Nghề mộc dựng đình chùa, đền miếu, nổi tiếng có thôn Cúc Bồ, xã Kiến
Quốc tỉnh Hải Dương.
Nghề chạm trổ, khắc gỗ có rất nhiều nơi nổi tiếng: làng Đồng Giao xã
Hương Điền tỉnh Hải Dương; làng Chàng Thôn, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây;
làng Giáp thuộc Tứ Xã huyện Lâm Thao - Phú Thọ; La Xuyên huyện Yên Ninh
tỉnh Nam Định; Phù Khê và Kim Thiều thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh…
Vùng Thuận Hoá (Huế) là kinh đô của cả nước, nơi tập trung nhiều nghệ
nhân nghề mộc và chạm trổ.
(6) Nghề dệt thiêu ren truyền thống
Theo truyền thuyết thì công chúa Thiều Hoa, con gái thứ sáu của vua
Hùng Vương thứ nhất, chính là người tìm ra con tằm và phát minh ra nghề dệt

17
lụa. Những địa danh gắn với truyền thuyết đó ở nước ta có rất nhiều như: Bưởi,
Nghi Tàm, Nghĩa Đô (Hà Nội), Trinh Tiết, Kiều Trúc, La Khê (Hà Tây).

(7) Nghề sơn mài và điêu khắc
Nghề sơn mài ở Việt Nam có từ đời Lê Hiến Tông, có ông tiến sĩ Trần
Lưu tên thật là Lương (1470) ở làng Bình Vọng, huyện Thường Tín tỉnh Hà
Tây, đỗ tiến sĩ năm 1502, là ông tổ của nghề sơn Việt Nam. Kế thừa và phát huy

đúc đồng, dệt tơ lụa, sơn mài, gốm sứ Các món ăn dân tộc độc đáo với nghệ
thuật cao về chế biến và nấu nướng.
d. Các đối tượng văn hoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác
Các đối tượng du lịch văn hoá - thể thao thường tập trung ở các thủ đô và
các thành phố lớn, đó là trung tâm của các viện khoa học, các trường đại học,
các thư viện lớn và nổi tiếng, các trung tâm thường xuyên diễn ra liên hoan âm
nhạc, sân khấu, điện ảnh, thể thao…
Đối tượng văn hoá - thể thao thu hút không chỉ khách tham quan nghiên
cứu mà còn lôi cuốn nhiều khách du lịch với mục đích khác. Khách du lịch có
trình độ văn hóa trung bình trở lên đều có thể thưởng thức các giá trị văn hoá
của đất nước mà họ đến tham quan. Do vậy, tất cả các thành phố có các đối
tượng văn hoá, hoặc tổ chức các hoạt động văn hoá - thể thao đều trở thành
những trung tâm du lịch văn hoá.
2.6. Nhân tố chính trị
Bất cứ một sự xáo động chính trị, xã hội nào dù lớn hay nhỏ cũng đều ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động du lịch. Ổn định và an toàn là yếu tố có ý nghĩa to
lớn đối với du khách và cơ quan cung ứng du lịch. Theo Bậc thang nhu cầu của
Maslow thì nhu cầu được an toàn (không phải lo lắng, sợ hãi điều gì) là nhu cầu
cơ bản xếp thứ hai sau nhu cầu sinh học. Vì vậy, khi có một thông tin bất ổn về
chính trị, xã hội xảy ra tại một điểm du lịch nào đó thì khó có thể thu hút được
khách du lịch tới điểm đó. Không khí chính trị hoà bình đảm bảo cho việc mở
rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa chính trị giữa các dân
tộc. Một khu vực, một quốc gia hay một vùng lãnh thổ có bầu không khí chính
trị hòa bình và ổn định kết hợp với các tài nguyên du lịch sẵn có của lãnh thổ sẽ
tạo nên sức hấp dẫn với đông đảo quần chúng nhân dân- các khách du lịch tiềm

19
năng. Tại những vùng không có những biến cố về chính trị, quân sự họ cảm thấy
yên ổn, tính mạng được coi trọng và họ có điều kiện đi lại tự do mà không có
cảm giác lo sợ, có thể gặp gỡ dân bản xứ, giao thiệp và làm quen với phong tục

dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch và đến lượt mình du lịch
thực sự là chiếc cầu nối hòa bình giữa các dân tộc trên thế giới, hiểu hơn về giá
trị văn hóa, giúp các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Và hơn hết, thông qua hoạt
động du lịch quốc tế con người thể hiện khát vọng tạo lập và chung sống trong
hòa bình.
2.7. Đường lối, chính sách
Trong những thập kỷ gần đây, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế lớn
chiếm vị trí quan trọng trên quy mô toàn cầu và ở nhiều quốc gia. Thực tế cho
thấy, ở mỗi địa phương, vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia du lịch có trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn và mang lại hiệu quả cao hay không thì ngoài tài nguyên du
lịch sẵn có, nhân tố quyết định là nhân tố con người và cơ chế, chính sách đúng
đắn, phù hợp cho sự phát triển du lịch. Đường lối chính sách ảnh hưởng mang
tính quyết định đến sự phát triển du lịch một quốc gia hoặc một đơn vị hành
chính cụ thể. Ở các nước có ngành du lịch phát triển đứng hàng đầu thế giới là
những nước có nhiều chính sách quan tâm đầu tư phát triển du lịch, có hệ thống
văn bản pháp luật, quy phạm hoàn thiện làm hành lang pháp lý cũng như sự điều
chỉnh linh hoạt để thích ứng trong những điều kiện, hoàn cảnh mới là nhân tố
thúc đẩy du lịch phát triển.
Cơ chế chính sách phát triển du lịch có tác động đến tất cả các hoạt động
du lịch từ khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, các hoạt
động xúc tiến phát triển du lịch, đầu tư quy hoạch du lịch, các hoạt động kinh
doanh du lịch. Một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức
sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không yểm trợ
cho các hoạt đọng du lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển được. một
số nước ở Đông Nam Á từ thập niên 80 củ thế kỷ XX như Thái Lan, Malayxia,
Xingapo… đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách phù hợp, đúng đắn, quan
tâm đầu tư phát triển du lịch nên ngành du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn và mang lại hiệu quả về nhiều mặt. Ngược lại, ở nhiều nước có nguồn tài
nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn, đặc sắc thuận lợi cho phát triển du lịch song



22
- Đảm bảo an toàn vận chuyển: ngày nay, sự tiến bộ kỹ thuật đã làm tăng
tính an toàn trong vận chuyển hành khách và điều này sẽ thu hút được nhiều
người tham gia vào hoạt động du lịch.
- Đảm bảo tiện nghi của các phương tiện vận chuyển nhằm làm vừa lòng
hành khách.
- Vận chuyển có giá rẻ: giá cước vận tải có xu hướng giảm, hợp lý thì
nhiều tầng lớp nhân dân có thể tham gia vào hoạt động du lịch.
Nhìn chung mỗi loại hình giao thông có những ưu điểm riêng nên có
những ảnh hưởng nhất định phù hợp với địa điểm du lịch cũng như đối tượng du
khách. Đặc biệt sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển có ý nghĩa rất lớn
trong sự phát triển du lịch ở cả mức độ quốc gia và quốc tế.
* Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt
động du lịch, là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong
nước và quốc tế. Đối với hoạt động du lịch, thông tin liên lạc không những đảm
nhận việc chuyển các tin tức một cách nhanh chóng, kịp thời góp phần thực hiện
các mối giao lưu giữa các vùng, các quốc gia mà còn đóng vai trò quan trong
việc quảng bá du lịch. Thông tin, hình ảnh của các điểm du lịch được quảng bá
rộng khắp sẽ tạo một lực hút, kích thích nhu cầu của khách du lịch tiềm năng
muốn khám phá vẻ đẹp và các giá trị của điểm du lịch đó. Nhân tố này ngày
càng có vai trò to lớn đối với sự phát triển của ngành du lịch, đặc biệt là trong
thời đại thông tin hiện nay.
* Hệ thống điện, thiết bị xử lý cấp thoát nước, xử lý rác thải vừa góp phần
tạo ra những điều kiện đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho du khách và các hoạt động
du lịch vừa tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du khách.
3.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (CSVCKTDL) bao gồm toàn bộ các phương
tiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch.
CSVCKTDL là yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra

tăng hiệu quả sử dụng của các cơ sở lưu trú, phục vụ ăn uống và làm phong phú
thêm các loại hình hoạt động du lịch.
* Cơ sở y tế: các cơ sở y tế nhằm phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp
dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch.

24
* Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa phục vụ du lịch
nhằm mục đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội cho du khách cũng
như giúp họ cảm thấy thoải mái trong kỳ nghỉ của mình. Đó là các trung tâm văn
hóa- thông tin, phòng chiếu phim, phòng triển lãm, câu lạc bộ, nhà hát…
* Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác như trạm xăng dầu, thiết bị cấp
cứu, hiệu ảnh, bưu điện… là điều kiện bổ sung giúp cho du khách sử dụng triệt
để hơn tài nguyên du lịch, tạo ra những thuận tiện khi họ đi lại và lưu trú tại
điểm du lịch.
Như vậy, quá trình phát triển của ngành du lịch nói chung và tổ chức lãnh
thổ du lịch nói riêng chịu tác động đồng thời của nhiều nhân tố khác nhau. Du
lịch chỉ có thể phát sinh, phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh thuận lợi
nhất định. Trong số các nhân tố trên có những nhân tố tác động trực tiếp đến
việc hình thành nhu cầu du lịch và tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch,
bên cạnh đó có những nhân tố mang tính phổ biến nằm trong các mặt của đời
sống xã hội và cũng có những điều kiện gắn liền với đặc điểm của từng khu vực
địa lý. Tuy nhiên tất cả các nhân tố này đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác
động qua lại với nhau tạo thành môi trường cho sự phát sinh, phát triển du lịch.
Mặt khác, bản thân sự có mặt, sự phát triển của du lịch cũng trở thành một nhân
tố của môi trường đó và do vậy nó có thể tác động hoặc tích cực hoặc ngược lại.

25
Chương 2: CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH

Tổ chức lãnh thổ du lịch là một dạng của tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status