1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng gắn liền với
bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững là lĩnh vực được nghiên cứu một
cách có hệ thống và được áp dụng rộng rãi tại các quốc gia phát triển trên thế giới.
Kinh nghiệm từ các nước công nghiệp cho thấy quá trình xây dựng chiến lược phát
triển và quy hoạch phát triển kinh tế khu vực luôn phải kết hợp chặt chẽ với quy
hoạch môi trường. Ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp luôn là mối quan tâm hàng đầu
và trở thành vấn đề có tính pháp lý trong chiến lược bảo vệ môi trường hoặc trong
các bộ luật bảo vệ môi trường của nhiều quốc gia.
Ở Việt Nam nói chung và Thành phố Bắc Giang nói riêng, quá trình công
nghiệp hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ trong một vài thập niên gần đây. Tuy
nhiên việc quy hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp chỉ mới chú
trọng đến khía cạnh tăng trưởng kinh tế và còn xem nhẹ vấn đề ô nhiễm công
nghiệp. Hậu quả của ô nhiễm công nghiệp đã xuất hiện ngày càng rõ rệt, gây ảnh
hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khỏe của người dân, tác động trực tiếp đến
sự tăng trưởng kinh tế do chi phí thời gian, tiền của và công sức để giải quyết xử lý
những sự cố môi trường do ô nhiễm công nghiệp gây ra. Những năm gần đây, rút
kinh nghiệm từ nhiều bài học trước và nhận thấy tầm quan trọng của công tác quy
hoạch môi trường, nhiều địa phương đã đầu tư xây dựng quy hoạch môi trường,
lồng ghép với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương và bước đầu mang
lại kết quả khả quan. Công tác dự báo và ngăn ngừa ô nhiễm ngày càng được các
nhà quản lý quan tâm nhiều hơn, hứa hẹn một lộ trình “phát triển bền vững” trong
tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của nước ta.
Trên thực tế, có nhiều dự án được triển khai phù hợp với quy hoạch phát
triển của từng địa phương. Nhưng khi các nhà quản lý môi trường tiến hành thẩm
định báo cáo đánh giá tác động môi trường mới thấy rằng các dự án này hoàn toàn
2
không có lợi về mặt môi trường, thậm trí còn gây ra nhiều tác động xấu. Mâu thuẫn
giữa quy hoạch phát triển với các vấn đề môi trường của địa phương được thể hiện
môi trường do phát triển công nghiệp trên địa bàn Thành phố Bắc Giang.
Xác định được các vấn đề ô nhiễm cụ thể của các cụm công nghiệp trên địa
bàn nhằm giúp các nhà quản lý có chiến lược quy hoạch và phát triển vùng sản xuất
hợp lý trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa của Thành phố Bắc Giang.
Đề ra các biện pháp và các chương trình hành động nhằm ngăn ngừa, hạn
chế ô nhiễm cho các cụm công nghiệp.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm về ô nhiễm môi trường công nghiệp
1.1.1. Ô nhiễm môi trường
Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005: “Ô nhiễm môi trường là sự
biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường,
gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”. [16]
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải
hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con
người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác
nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn
(chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng
như nhiệt độ, bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được xem là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng,
nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến
con người, sinh vật và vật liệu.
1.1.2. Ô nhiễm môi trường công nghiệp
Theo Báo cáo quốc gia về môi trường Việt Nam năm 2009 (môi trường khu
công nghiệp Việt Nam), sau 18 năm xây dựng và phát triển (1991 – 2009), nước ta
đã thành lập được 223 khu công nghiệp ở 56 tỉnh, Thành phố với diện tích 57.264
ha. Trong đó, có 171 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động (52 khu công nghiệp
đang xây dựng). Các khu công nghiệp tập trung chủ yếu ở Hà Nội (11 KCN), Hải
cơ (COD) - 204.467 kg/ngày, chất dinh dưỡng (tổng Nitơ) - 37.176 kg/ngày, chất
dinh dưỡng (tổng Phốt pho) - 51.277 kg/ngày (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải
từ các khu công nghiệp của 4 vùng kinh tế trọng điểm năm 2009
&'() !"*+,
6
Bảng trên cho thấy, lượng nước thải từ các khu công nghiệp rất lớn, tập trung
chủ yếu ở các khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
(4113,400m
3
/ngày, gần gấp đôi lượng nước thải của các khu công nghiệp thuộc 3
vùng kinh tế trọng điểm còn lại, 227.563 m
3
/ngày). Hơn nữa, tổng lượng các chất ô
nhiễm trong nước thải ở các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
cũng là lớn nhất. Chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp phụ thuộc chủ yếu
vào việc nước thải có được xử lý không và xử lý như thế nào. Hiện nay, các khu
công nghiệp đã đi vào hoạt động có trạm xử lý nước thải chỉ chiếm 43%, còn hơn
57% chưa có cơ sở xử lý nước thải đã qua xử lý chỉ đạt khoảng 30%, còn 70% của
hơn 1 triệu m
3
nước thải/ngày từ các khu công nghiệp được xả thẳng ra các nguồn
tiếp nhận (không qua xử lý), chỉ có 4,26% nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi
trường, còn hơn 25% xử lý qua loa không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường. Tình
hình trên dẫn đến ô nhiễm nặng không chỉ môi trường nước mặt, mà cả môi trường
nước ngầm. Kết quả phân tích mẫu nước thải từ các khu công nghiệp cho thấy:
nước thải có hàm lượng các chất lơ lưởng (SS) cao hơn QCVN từ 2 đến hàng chục
lần, thậm chí có nơi cao hơn đến hàng trăm lần. Giá trị các thông số BOD, COD,
tổng N và tổng P cũng cao hơn nhiều lần QCVN.
Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của Chi cục Bảo vệ môi trường
, CO và SO
2
.
Nhiều nghiên cứu về môi trường gần đây cho thấy: lượng khí thải công
nghiệp ở Việt Nam ngày một tăng, song tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp
thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm cả nước. Đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam tập trung nhiều khu công nhiệp, cũng là nơi thải ra nhiều bụi, khí làm ô
nhiễm môi trường nặng nhất.
Năm 2009, thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các khu công nghiệp
thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm là: 91.659kg bụi/ngày, 172.034kg NO
2
/ngày,
26.536kg CO/ngày và 1.644.711kg SO
2
/ngày.
Bảng 1.2. Thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các KCN
của 4 vùng Kinh tế trọng điểm năm 2009
TT Khu vực
Tải lượng (kg/ngày)
Bụi NO
2
CO SO
2
1 Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 22.173 41.617 6.419 397.872
2 Vùng kinh tế trọng điểm miền trung 8.409 15.784 2.435 150.900
3 Vùng kinh tế trọng điểm phía nam 59.116 110.957 17.115 1.060.785
4 Vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL 1.959 3.677 567 35.154
Tổng cộng 91.658 172.034 26.536 1.644.711
&'() !"*+,
- Hiện nay, tình trạng ô nhiễm bụi ở hầu hết các khu công nghiệp đã
Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2009 cho thấy: Tổng lượng chất thải rắn
trung bình của cả nước đã tăng từ 25 nghìn tấn/ngày (năm 1999) lên tới 30 nghìn
tấn/ngày (năm 2005). Trong những năm gần đây, lượng chất thải rắn công nghiệp
tăng nhanh (từ 1 triệu tấn/năm vào năm 2005 lên gần 2.500.000 tấn/năm vào năm
2008). Trong đó, lượng chất thải rắn độc hại cũng tăng khá cao (từ 200.000 tấn/năm
vào năm 2005 tăng lên 500.000 tấn/năm 2008).
Lượng chất thải rắn từ hoạt động công nghiệp tăng nhanh phần lớn tập trung
ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt là ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
9
Chất thải rắn từ các khu công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tỉ
trọng lớn nhất so với các vùng khác (3.000 tấn/ngày). Đồng thời, lượng chất thải rắn
độc hại ở đây cũng chiếm tỉ trọng lớn nhất: nhiều gấp 3 lần lượng chất thải rắn độc
hại ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và gấp 20 lần lượng chất thải rắn độc hại ở
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Bảng 1.3. Khối lượng chất thải rắn từ các KCN phía Nam năm 2008
Stt Tỉnh thành phố
Khối lượng chất thải rắn công nghiệp (tấn)
Không nguy hại Nguy hại
1 Đồng Nai 392 55
2 Bình Dương 155 41
3 TP. HCM 1.618 191
4 Long An 102 26
5 Bình Phước 45 11
6 Bà Rịa – Vũng Tàu 288 72
7 Tây Ninh 5 1
8 Tiền Giang 26 6
9 11 tỉnh ĐBSCL (không kể Long An) 371 93
Tổng cộng 2.939 496
&'() !"*+,
Tại Bắc Ninh, lượng chất thải rắn công nghiệp có khoảng 450 tấn/ngày, trong đó,
1.2. Hậu quả của ô nhiễm môi trường công nghiệp
Ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất, kinh doanh công nghiệp nói
chung và hoạt động của các khu công nghiệp nói riêng là rất lớn. Nó gây hậu quả
nghiêm trọng tới các hệ sinh thái tự nhiên. Đặc biệt là, nước thải, khí thải, chất rắn
công nghiệp không được xử lý, mà xả thẳng ra môi trường đã gây ra thiệt hại lớn tới
sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản ở các vùng lận cận, tạo ra nguy cơ “sa
mạc hóa nông nghiệp, nông thôn”.
Ô nhiễm môi trường công nghiệp còn là nguồn gốc phát sinh và làm gia tăng
dịch bệnh, gia tăng tỷ lệ người mặc bệnh và làm trầm trọng thêm mức độ bệnh tật ở
những người lao động tại các khu công nghiệp và cộng đồng dân cư vùng phụ cận.
Điều báo động là mức độ bệnh tật và tỷ lệ người bệnh ngày càng gia tăng trong
những năm gần đây và gây ra tổn thất lớn về kinh tế, ảnh hưởng xấu đến sự phát
triển con người.
11
Theo Ngân hàng thế giới, Việt Nam sẽ phải chịu tổn thất do ô nhiễm môi
trường lên tới 5% GDP (như vậy Việt Nam mất 3,9 tỷ USD trong 71 tỷ USD của
GDP năm 2007 và khoảng 4,2 tỷ USD trong 76 tỷ USD của GDP năm 2008). Mỗi
năm Việt Nam thiệt hại 780 triệu USD trong các lĩnh vực sức khỏe cộng đồng do ô
nhiễm môi trường.
Tóm lại, ô nhiễm môi trường công nghiệp, nhất là môi trường nước, đất,
không khí do các chất thải độc hại từ nước thải công nghiệp, khí thải công nghiệp
và chất thải rắn công nghiệp gây ra là rất lớn và có xu hướng ngày càng tăng lên.
Tình trạng này đã và đang tác động gây hậu quả rất xấu đến mọi lĩnh vực của xã
hội. Đặc biệt là, làm thiệt hại lớn về kinh tế, làm ô nhiễm và giảm diện tích sản xuất
nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; làm giảm và ô nhiễm nguồn nước ngọt cung cấp
cho sản xuất và tiêu dùng; gây ra và làm gia tăng bệnh tật của con người (nhất là
người lao động trong các KCN và vùng phụ cận). Có thể nói ô nhiễm môi trường
công nghiệp là “thủ phạm” chính gây các loại bệnh dịch cho con người và làm suy
giảm môi trường phát triển lành mạnh của con người.
1.3. Nguyên nhân chủ yếu của ô nhiễm môi trường công
bình và tương đối hiện đại, song chưa đầu tư đúng mức cho hệ thống xử lí nước
thải, chất thải rắn, tiếng ồn… nên phần lớn vẫn xả thải trực tiếp ra môi trường.
Bốn là: quy mô phát triển công nghiệp ngày càng rộng lớn, tốc độ phát triển
công nghiệp ngày càng nhanh làm cho các cơ quan và đội ngũ cán bộ quản lí công
nghiệp, nhất là quản lí môi trường “theo không kịp”. Có thể nói, chúng ta chưa
chuẩn bị, chưa đào tạo đủ một đội ngũ cán bộ có đủ tâm và đủ tầm để thực thi nghĩa
vụ quản lí và bảo vệ môi trường công nghiệp.
Năm là: một bộ phận các nhà doanh nghiệp do “hám lợi” nên trong hoạt
động sản xuất kinh doanh đã bất chấp cả luật pháp, bất chấp môi trường; một
bộ phận khác thì thiếu kiến thức về môi trường. Trong khi đó, đa số người lao động
ở các khu công nghiệp có trình độ học vấn thấp, thiếu ý thức bảo vệ môi trường.
1.4. Cơ sở lý luận về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường công
nghiệp
13
Mục tiêu của bảo vệ môi trường là giảm tối đa các tác động to lớn của chất ô
nhiễm và chất thải đến môi trường. Ngăn ngừa ô nhiễm đứng vị trí đầu trong hệ
thống cấp bậc các phương pháp bảo vệ môi trường bao gồm cả: tái sử dụng, tái chế,
kiểm soát hay xử lý ô nhiễm, tiêu tán, tiêu hủy, phục chế và làm sạch. Khi mà tất cả
các phương pháp này cung cấp một số lợi ích môi trường thì ngăn ngừa ô nhiễm
được đặt lên hàng đầu trong hệ thống cấp bậc này vì nó có thể đem lại cơ hội có chi
phí hiệu quả nhất trong việc giảm thiểu mối hiểm họa về môi trường và sức khỏe.
Ngăn ngừa ô nhiễm nhằm hướng tới hạn chế căn nguyên gây ra ô nhiễm hơn là bảo
vệ xử lý hậu quả.
Chính sách phòng ngừa ô nghiễm của Mỹ được pháp lý hóa theo “Điều luật
ngăn ngừa ô nhiễm 1990” như sau:
- Ô nhiễm phải được ngăn ngừa và làm giảm ngay tại nguồn hễ thực hiện được.
- Chất ô nhiễm nếu không thể ngăn ngừa cần phải tái chế hễ thực hiện được
theo phương thức đảm bảo an toàn về môi trường.
- Chất ô nhiễm mà không thể ngăn ngừa hay tái chế phải được xử lý theo
phương pháp đảm bảo an toàn về môi trường.
hay chất thải. Có sáu bước và thực hiện kế hoạch định một chiến lược bao gồm:
Bước 1: Hình thành sự thỏa thuận/cam kết phòng ngừa ô nhiễm và hoạch
định một chiến lược chung về phòng ngừa ô nhiễm.
Bước 2: Tiến hành biện hộ số liệu xác định hiện trạng các nguồn đầu vào
(nguyên liệu, năng lượng, nước), sản phẩm và chất thải đầu ra; xác định các thông
tin còn thiếu và thiết bị, các sản phẩm đặc thù và dây chuyền sản xuất.
Bước 3: Soạn thảo kế hoạch: đặt mục tiêu, chỉ rõ, lượng giá và chọn phương
án ngăn ngừa đáp ứng các mục tiêu và chỉ tiêu lựa chọn.
Bước 4: Thực hiện kế hoạch.
Bước 5: Giám sát thực hiện kế hoạch.
Bước 6: Đánh giá, tổng kết và nâng cấp kế hoạch.
Các hoạt động sản xuất công nghiệp hiện đang thải ra môi trường một lượng
lớn các chất thải công nghiệp làm suy thoái và đe dọa môi trường sống của chúng
ta. Hiện nay nước thải công nghiệp là một trong những nguyên nhân chính khiến
kênh rạch của tỉnh ô nhiễm trầm trọng, môi trường không khí ngày càng ô nhiễm
15
ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, việc quản lý chất thải rắn công nghiệp một cách
bừa bãi đã dẫn đến sự quá tải gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống của
người dân. Tất cả những vấn đề đó, đến nay các nhà quả lý môi trường, lãnh đạo
các cơ sở sản xuất công nghiệp đều biết được, nhưng làm cách nào để khắc phục và
làm cho môi trường ngày càng tốt hơn thì không phải dễ, đòi hỏi phải có sự nỗ lực
và nay đã có nhiều cách tiếp cận để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong
hoạt động sản xuất công nghiệp.
Trước đây, khi nền công nghiệp chưa phát triển, lượng chất thải công nghiệp
vào môi trường còn ít, nằm trong khả năng đồng hóa của môi trường thì vấn đề bảo
vệ môi trường còn ít, nằm trong lĩnh vực môi trường không được quan tâm đúng
mức. Cách giải quyết chất thải công nghiệp lúc này là cách tiếp cận thụ động nhất
và là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng như hiện nay.
Mặc dù vậy, đến nay vẫn là cách mà các cơ sở sản xuất công nghiệp ở nước ta thực
hiện khá phổ biến và không ngoại trừ Thành phố Bắc Giang. [17]
có thể sẽ là nguyên nhân của hàng loạt những vấn đề ô nhiễm khác. [17]
Hình 1.2. Cách tiếp cận cuối đường ống
Một cách tiếp cận mang tính chủ động hơn đó là tái sinh chất thải. Bằng cách
này, chất thải công nghiệp có thể được tái sử dụng trong quá trình sản xuất (hoặc
cho mục đích khác) đồng thời giúp giảm lượng thải ra môi trường. Một số đơn vị
sản xuất của Thành phố đã áp dụng cách tiếp cận này tuy nhiên không phải đơn vị
nào cũng có thể tái sử dụng nên số lượng cơ sở sản xuất tiếp cận giải pháp này còn
rất hạn chế. [17].
Các vật liệu thô
Nhân lực
Năn lượng
Quá trình
công nghiệp
Các SP công nghiệp
hoàn tất
Các chất thải ô
nhiễm
Dạng
lỏng
Dạng
khí
Dạng
rắn
Trạm
xử lý
Thiết bị
lọc
XLhoạc
tái chế
17
Nhân lực
Năng lượng
Quá trình
công nghiệp
Giảm thiểu chất thải
đến mức thấp nhất
Tái sinh, xử lý và
lưu trữ
18
Các yếu tố cốt lõi của cách tiếp cận về ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp được
tổng hợp lại trong sơ đồ sau [6].
Hình 1.5. Các yếu tố cốt lõi của ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp
Sơ đồ trên cho thấy: tính liên tục, biện pháp ngăn ngừa và sự thống nhất là
03 yếu tố cốt lõi để đưa ra được chiến lược đối với sản phẩm và các quá trình sản
xuất giúp giảm rủi ro cho con người và môi trường. Ưu điểm của cách tiếp cận này
rất lớn không chỉ liên quan đến bảo vệ môi trường (giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn,
giảm các rủi ro môi trường) mà còn liên quan mật thiết tới vấn đề mà các nhà sản
xuất công nghiệp rất quan tâm đó là kinh tế. Để áp dụng các biện pháp ngăn ngừa ô
nhiễm công nghiệp, không nhất thiết phải đầu tư lớn nhưng lại giảm được chi phí
vận hành sản xuất, tăng lợi nhuận và tính khả thi cao. Do đó, đây là cách tiếp cận
được xem là ưu việt nhất hiện nay.
Còn nhiều giải pháp để thực hiện ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp, tuy nhiên
đều phải đảm bảo nguyên tắc: giảm tối đa nhiên liệu và nguyên liệu sản xuất, giảm
tối đa lượng phát thải; tái sinh và sử dụng lại tối đa chất thải; những chất thải không
thể tái sinh hoặc sử dụng lại thì được xử lý; chất thải còn lại sau khi xử lý phải được
tiêu hủy.
Ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp hiện đang được khuyến khích tại nhiều
nước trên thế giới nhằm bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường. Ở nước ta, tuy
các vấn đề môi trường nói chung và môi trường trong sản xuất công nghiệp nói
riêng chỉ mới được quan tâm trong những năm gần đây, nhưng chúng ta cũng đã
khu vực đô thị. Đối với Thành phố Bắc Giang, việc bố trí công nghiệp phải lưu ý
đến việc bảo vệ khu vực sản xuất nông nghiệp, hệ sinh thái ven sông và hệ thống
kênh rạch tự nhiên. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp mới hình thành về cơ
bản được bố trí phù hợp, tuy nhiên nhiều nhà máy lớn nằm rải rác trên địa bàn được
hình thành trước đây (ở khu vực có địa hình thấp trũng, hoặc ven sông) có nhiều
yếu tố không phù hợp về mặt môi trường và đang gây các tác động không nhỏ cho
khu vực xung quanh.
%%78 !"
Hệ thống quản lý môi trường là công cụ không thể thiếu trong việc ngăn
ngừa ô nhiễm. Thông qua hệ thống quản lý môi trường ở các cấp độ khác nhau
(tỉnh, thành phố, ban quản lý các khu công nghiệp, cụm công nghiệp các cơ sở sản
xuất) một kế hoạch ngăn ngừa ô nhiễm mới được thiết lập và thực thi đúng với mục
20
tiêu và các chỉ tiêu đề ra. Kiện toàn hệ thống quản lý môi trường công nghiệp phải
gồm các biện pháp sau:
- Hoàn thiện và phổ biến khung pháp lý về môi trường cho các chủ thể tham
gia hoạt động công nghiệp.
- Nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý của phòng tài nguyên và môi trường
Thành phố.
- Xây dựng các quy định bắt buộc về công tác quản lý môi trường tại các cơ
sở công nghiệp, đồng thời nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho các chủ cơ sở
và công nhân.
- Đẩy mạnh thường xuyên công tác giám sát của cơ sở quản lý môi trường
địa phương nhằm bảo đảm việc tuân thủ nghiêm quy hoạch phát triển ngành công
nghiệp; xây dựng hạ tầng xử lý chất thải công nghiệp đầy đủ.
3%
Giải pháp công nghệ thường được tập trung vào việc giảm thiểu tối đa chất ô
nhiễm thông qua việc đầu tư các công nghệ hiện đại, thay đổi các dây chuyền sản
xuất theo hướng tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng hoặc tái sử dụng chất thải.
Giải pháp công nghệ cũng có thể được áp dụng trong khâu xử lý cuối cùng đường
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, chế độ thủy văn ),
điều kiện kinh tế xã hội (dân số, việc làm, cơ sở hạ tầng…) của Thành phố Bắc Giang.
22
- Tài liệu về các báo cáo hiện trạng môi trường của địa phương và kết quả
quan trắc môi trường hàng năm tại địa bàn nghiên cứu.
- Tài liệu về công tác quản lý chất lượng môi trường tại địa bàn nghiên cứu.
- Các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên nước, các
tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam… và các tài liệu có liên quan.
2.4.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát thực địa là rất cần thiết giúp người nghiên cứu có cái
nhìn tổng quát và sơ bộ về đối tượng nghiên cứu đồng thời kiểm tra lại tính chính
xác của những tài liệu, số liệu đã thu thập từ đó xử lý tốt hơn trong bước tổng hợp
và phân tích. Do địa bàn nghiên cứu khá rộng vì vậy đề tài không thể khảo sát thực
địa tất cả các điểm mà chỉ chọn một số điểm điển hình để nghiên cứu và lấy mẫu.
Từ đó đưa ra đánh giá, nhận xét chung cho tình trạng ô nhiễm môi trường cho các
cụm công nghiệp và những ảnh hưởng môi trường khác nhau của toàn Thành phố
Bắc Giang.
2.4.3. Phương pháp phân tích
,9:9;9<9=>?@714A
+ Nước thải: 14 điểm (trong đó 11 điểm cuối dòng thải tại các công ty điển
hình trong các cụm công nghiệp Thành phố Bắc Giang, 3 điểm tại cuối dòng thải
của 3 hộ dân điển hình tại 3 làng nghề của Thành phố Bắc Giang.)
+ Khí thải công nghiệp: 10 điểm thực hiện tại 5 công ty điển hình mỗi công ty
thực hiện lấy tại 2 vị trí.
+ Không khí xung quanh: 4 điểm tại 4 cụm công nghiệp trên địa bàn Thành
phố Bắc Giang.
+ Đất: 5 điểm tại các vùng chuyên canh, thâm canh sản xuất nông nghiệp gần
các cụm công nghiệp Thành phố Bắc Giang.
, COD, SS, ∑N,∑P 5 25/11
7 CT Giấy Bình Dương pH, BOD
5
, COD, SS, ∑N,∑P 5 25/11
8 CT Thế Cường pH, BOD
5
, COD, SS, ∑N,∑P 5 25/11
9 CT Hoàng Quang pH, BOD
5
, COD, SS, ∑N,∑P 5 25/11
10 CTDVTHTM Việt Trung pH, BOD
5
, COD, SS, ∑N,∑P 5 25/11
11 CT Rượu nước giải khát Habada pH, BOD
5
, COD, SS, ∑N,∑P 5 25/11
Nước thải làng nghề
1 Mỳ Kế pH, BOD
5
, COD, NH
4+
4 25/11 Đánh giá
nguồn nước
thải làng
nghề
2 Bún Đa Mai pH, BOD
5
, COD, NH
4+
4 25/11
, NO
2
, CO
8 08/11
4 Cty CNHH một thành viên giấy Bắc Hà
Hướng gió, nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn,
bụi, SO
2
, NO
2
, CO 8 08/11
24
5
Cty CNHH một thành viên Phân Đạm hóa chất Hà
Bắc
Hướng gió, nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn,
bụi, SO
2
, NO
2
, CO
8 08/11
6
Cty CNHH một thành viên Phân Đạm hóa chất Hà
Bắc
Hướng gió, nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn,
bụi, SO
2
, NO
2
, NO
2
, CO
8 08/11
Không khí xung quanh
1 CCN Xương Giang I
Hướng gió, bụi, tiếng ồn, NO
2
, SO
2
,
CO
6 08/11
Đánh già
nguồn không
khí tại cụm
công nghiệp
2 CCN Dĩnh Kế
Hướng gió, bụi, tiếng ồn, NO
2
, SO
2
,
CO
6 08/11
3 CCN Thọ Xương
Hướng gió, bụi, tiếng ồn, NO
2
, SO
2
hậu, các thông số khác sử dụng dung dịch hấp thụ phù hợp theo từng phương pháp
phân tích cụ thể.
- Khí thải: được lấy theo TCVN 5939:2005.
- Nước thải: được lấy theo TCVN 5999:1995 (ISO 5667/10:1992).
- Đất: được lấy theo TCVN 5297: 1995
,9:9;9;9DEF>714A' (Các thiết bị lấy mẫu đều đã được chuẩn hóa và được
công nhận chất lượng).
* Thiết bị lấy mẫu nước:
- Máy đo chất lượng nước 6 chỉ tiêu TOA (Nhật).
- Máy đo pH WTW 320 (Đức).
- Bộ lấy mẫu nước mặt, cán dài.
- Xô bằng nhựa, có dung tích 20l, dùng để chứa mẫu nước trước khi pha trộn
(lấy mẫu tại 3 vị trí sau đó trộn đều).
- Bình vật liệu PE có dung tích 2l, dùng để đựng mẫu sau khi đã hòa trộn. Xô
và bình được rửa sạch sẽ và tráng bằng chính mẫu nước trước khi chứa mẫu.
* Thiết bị lấy mẫu đất:
- Xẻng cán dài 1,2 mét.
- Bay xây dựng.
- Hộp nhựa dung tích 2l có nắp kín, dùng để đựng mẫu đất.
,9:9;9:9(@G17!6HIJH
9HIJH 5?K714A
Hoạt động lấy mẫu cần đạt được mục tiêu của chương trình kiểm soát chất
lượng là:
+ Cung cấp được những phương pháp giám sát và phát hiện các sai sót do
lấy mẫu và do đó có các biện pháp loại trừ các dữ liệu không hợp lệ hoặc sai lạc.
+ Chứng minh được rằng các sai số lấy mẫu đã được kiểm soát một cách
thích hợp.
+ Chỉ ra được các thay đổi của việc lấy mẫu và từ đó truy nguyên các nguồn
gốc gây sai số.