Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công tác quản lý kinh tế của các doanh nghiệp thì công tác chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được các doanh nghiệp quan tâm
vì chúng gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc
biệt trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đứng trước sự cạnh tranh
gay gắt với nhau, không chỉ các doanh nghiệp tăng cường đổi mới công nghệ,
nâng cao năng suất lao động mà còn phải quan tâm tới công tác quản lý chi
phí sản xuất. Quản lý kinh tế đảm bảo thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh
ngày càng phát triển và điều quan trọng là phải bù đắp được toàn bộ chi phí
sản xuất và sản xuất phải có lãi. Muốn vậy doanh nghiệp phải đặt ra mục tiêu
giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
Nhận thức được điều này, trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần
Xi măng Phú Thọ em đã chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Xi măng Phú Thọ”làm
chuyên đề thực tập chuyên ngành của mình.
Chuyên đề của em ngoài Lời mở đầu và Kết luận gồm 3 phần chính:
Phần 1: Đặc điểm hoạt động kinh doanh và tổ chức công tác kế toán
của Công ty Cổ phần Xi măng Phú Thọ.
Phần 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại Công ty Cổ phần Xi măng Phú Thọ.
Phần 3: Đánh giá thực trạng và phương hướng hoàn thiện kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Xi măng Phú Thọ.
Trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu về kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm đã giúp em hiểu thêm về phần hành kế toán này. Tuy
nhiên do khả năng tìm hiểu vấn đề còn nhiều hạn chế và còn chưa có nhiều
kiến thức thực tế nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong nhận được sự góp ý và bổ sung của PGS. TS Nguyễn Minh Phương
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội
1
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
/năm là sản phẩm Xi măng trắng.
Từ năm 1986 đến năm 1988 Công ty thành lập thêm Xí nghiệp Vôi
Bạch Hạc và UBND tỉnh Vĩnh Phú quyết định nhập thêm bốn Xí nghiệp nữa
vào XNLH Xi măng – Đá – Vôi Vĩnh Phú.
Ngày 9 tháng 12 năm 1991 thi hành quyết định 315/HĐBT ngày
1/9/1990 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) về chấn chỉnh lại sản
xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế quốc doanh. UBND tỉnh Vĩnh Phú ra
quyết định số 804 QĐ/UB giải thể ba xí nghiệp làm ăn không có hiệu quả là:
Xí nghiệp Đá Đồn Hang, Xí nghiệp Vôi Bạch Hạc, Xí nghiệp Đá Hương Cần.
Cũng trong năm đó Công ty đã chuyển Xí nghiệp Đá Thanh Ba sang hình
thức hoạt động là một phân xưởng sản xuất đá.
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội
3
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
Ngày 3 tháng 11 năm 1992, thi hành nghị định 338/HĐBT ngày 21
tháng 11 năm 1991 của HĐBT và nghị định 156 HĐBT ngày 7 tháng 5 năm
1992 của HĐBT nay là Chính Phủ. UBND tỉnh ra quyết định số 1120 QĐ/UB
thành lập doanh nghiệp Nhà nước: Xí nghiệp Liên hiệp Xi măng – Đá – Vôi
Vĩnh Phú. Năm 1993 nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, XNLH Xi măng
– Đá – Vôi Vĩnh Phú đã đầu tư mở rộng lần thứ nhất đưa công suất sản xuất
Xi măng lên 60.000 tấn/ năm.
Năm 1994, Xí nghiệp Liên hiệp Xi măng – Đá –Vôi Vĩnh Phú tiếp tục
đầu tư mở rộng đưa công suất của nhà máy lên 150.000 tấn Xi măng
PORTLAND PC30 TCVN - 2682.
Ngày 20 tháng 9 năm 1994, UBND tỉnh Vĩnh Phú ra Quyết định số
1287/QĐ - UB đổi tên Xí nghiệp Xi măng – Đá – Vôi Vĩnh Phú thành Công
ty Xi măng – Đá – Vôi Vĩnh Phú.
Ngày 16 tháng 1 năm 1997, do tách tỉnh Vĩnh Phú thành 2 tỉnh Phú
Thọ và Vĩnh Phúc, UBND tỉnh Phú Thọ đã ra Quyết định số 69/QĐ/ - UB đổi
tên Công ty Xi măng – Đá – Vôi Vĩnh Phú thành Công ty Xi măng – Đá –
Tuyển
Đập hàm
Kho chứa
Định lượng
Tuyển
Phơi sấy
Kho chứa
Xilô chứa
Nghiền phân ly
Tuyển
Tuyển
Kho chứa
Kho chứa
Định lượng
Định lượng
Địng lượng
Nghiền
phân ly
Đập
ủ (Xilô)
Kho chứa
Phân loại Clinker
Đập
Đóng bao
Xilô chứa
Trộn
Kho chứa
Tuyển
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội
6
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
được nghiền nhỏ tới kích thước yêu cầu rồi được đưa lên máy phân ly. Sau
khi ra khỏi máy phân ly, những hạt đạt yêu cầu sẽ được đưa lên hệ thống silo
chứa tiến hành quá trình đồng nhất, những hạt chưa đạt kích thước được quay
trở lại máy nghiền.
Sau khi ra khỏi silo chứa, bột xi măng được hệ thống vít tải vận chuyển
đến máy đóng bao, mỗi bao nặng 50±1 kg rồi được vận chuyển đến kho chứa
và xuất cho khách hàng theo yêu cầu.
1.2.3. Đặc điểm thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay sản phẩm của Công ty vẫn duy
trì tốt sức cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Sản phẩm của Công ty phục vụ
chủ yếu cho việc đầu tư xây dựng cơ bản các cơ sở hạ tầng của nhà nước và
nhu cầu xây dựng cơ bản của toàn thể nhân dân trong tỉnh Phú Thọ, cùng 5
tỉnh miền núi phía Bắc và một số cơ sở của vùng trung du Bắc Bộ. Sản phẩm
Xi măng của Công ty đã góp phần quan trọng trong chương trình phát triển
giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương tỉnh Phú Thọ và một số tỉnh
bạn.
1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của Công ty
cổ phần Xi măng Phú Thọ.
Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vai
trò quan trọng trong việc quản lý, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp,
tạo nên sự thống nhất, nhịp nhàng giữa các bộ phận.
Căn cứ vào đặc điểm của Công ty cổ phần, quy trình công nghệ và tình
hình thực tế của sản xuất kinh doanh, Công ty cổ phần Xi măng Phú Thọ tổ
chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh theo kiểu trực tuyến: cơ quan cao
nhất là Đại hội đồng cổ đông, Đại hội đồng cổ đông bầu ra hội đồng quản trị
và ban kiểm soát; bộ máy điều hành công ty gồm Tổng Giám đốc, các Tổng
Giám đốc phụ trách khối và hệ thống các phòng ban, phân xưởng, chi nhánh.
liệu
PX Lò
nung 1
PX lũ
nung 2
PX
Thành
phẩm
Phó T. giám đốc
Kỹ thuật
Phó T. giám đốc
Kinh doanh
Phõn
xng c
in
i xe
vn ti
Phòng
tiêu
thụ
Phòng
tiêu
thụ
8
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
1.4. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của Công ty cổ phần Xi măng Phú
Thọ.
1.4.1. Hình thức tổ chức công tác kế toán.
Công tác kế toán là một bộ phận của hệ thống quản lý Công ty và là công
cụ quan trọng giúp Giám đốc công ty trong việc chỉ đạo các hoạt động sản
toán
thanh
toán
Kế
toán
tiền
vay &
tiền
gửi
Kế toán
thành
phẩm &
tiêu thụ
Kế
toán
công
nợ
Thủ
quỹ
9
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
- Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận.
* Phó phòng kế toán kiêm kế toán tổng hợp:
Theo dõi tổng hợp công việc của các phần hành kế toán của công ty, trên cơ
sở đó lập các báo cáo tài chính hàng tháng, hàng quý, niên độ tài chính. Tập
hợp các khoản mục chi phí và tính giá thành sản phẩm.
* Kế toán xây dựng cơ bản và tài sản cố định:
Xác lập đối tượng ghi TSCĐ, lập bộ hồ sơ theo dõi nguyên giá, giá trị hao
mòn, giá trị còn lại, ghi thẻ TSCĐ. Lập kế hoạch sửa chữa và dựng toán chi
phí sửa chữa TSCĐ, tập hợp và phân bổ chi phí sửa chữa và chi phí kinh
phải có căn cứ chứng từ. Chứng từ kế toán là bằng chứng xác minh nội dung
nghiệp vụ kế toán, tài chính đã phát sinh. Phương pháp chứng từ kế toán là
một công việc chủ yếu của tổ chức công tác kế toán ở các đơn vị .
Công ty cổ phần Xi măng Phú Thọ đã, đang sử dụng các loại chứng từ
kế toán theo quy định hiện hành như các loại phiếu thu, phiếu chi, hóa đơn
thu mua hàng, hóa đơn bán hàng, hóa đơn GTGT, giấy tạm ứng, … Cách ghi
chép và luôn chuyển chứng từ hợp lý, thuận lợi cho việc ghi sổ kế toán, tổng
hợp số liệu, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý.
1.5.2. Vận dụng tài khoản kế toán.
Tài khoản kế toán được sử dụng để theo dõi và phản ánh tình hình và
sự biến động của từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn và từng khoản nợ phải
thu, nợ phải trả. Do vậy, để cung cấp đầy đủ thông tin cho quản lý, các doanh
nghiệp phải dùng rất nhiều tài khoản khác nhau mới có thể bảo đảm phản ánh
được toàn bộ các chỉ tiêu cần thiết .
Tùy thuộc vào quy mô, vào điều kiện kinh doanh cụ thể và vào loại
hình hoạt động, sở hữu của mình, trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán thống
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội
11
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
nhất do Nhà nước ban hành, mỗi doanh nghiệp sẽ lựa chọn những tài khoản
thích hợp để vận dụng vào công tác kế toán.
Công ty cổ phần Xi măng Phú Thọ sử dụng dựa vào “Hệ thống tài khoản kế
toán” áp dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.5.3. Vận dụng sổ sách kế toán.
Sổ kế toán là một phương tiện vật chất cơ bản, cần thiết để người làm
kế toán ghi chép, phản ánh một cách có hệ thống các thông tin kế toán theo
thời gian
cũng như theo đối tượng. Ghi sổ kế toán được thừa nhận là một giai đoạn
phản ánh của kế toán trong quá trình công nghệ sản xuất thông tin kế toán.
Công ty sử dụng phần mềm kế toán AFC, áp dụng sổ kế toán theo hình
Năm
2006
Năm
2007
Năm 2008
TH KH
1. Sản lượng sản xuất
2. Sản lượng tiêu thụ
3. Tổng doanh thu
4. Nộp ngân sách
5. Lợi nhuận ròng
6.Lươngbình quân/1cn
Nghìn tấn
Nghìn tấn
Tỷ đồng
Tỷ đồng
Tỷ đồng
Nghìn đồng
375.5
422.35
292.879
35.141
1.153
968.7
327.5
339.5
263.173
26.795
3.494
963
của máy móc thiết bị và con người.
- Sử dụng cũng như quản lý con người một cách khoa học và chặt chẽ
hơn. Bố trí lao động và thực hiện giao khoán qũy lương đến các bộ phận
nhằm tăng năng suất lao động và thu nhập cho người lao động.
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội
14
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội
15
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
PHẦN 2
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG PHÚ THỌ
2.1. Đặc điểm chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất.
2.1.1. Đặc điểm chi phí sản xuất và yêu cầu quản lý chi phí.
Trong quá trình sản xuất Xi măng các chi phí rất đa dạng nó bao gồm
các loại khác nhau như: chi phí về nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ, nhiên
liệu, nhân công … Thành phần chính của Xi măng là Clinke ngoài ra còn có
đá Silíc, sỉ, thạch cao mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng chúng là những vật liệu
không thể thiếu để sản xuất ra Xi măng.
Chất lượng của Xi măng cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào chất
lượng của nguyên vật liệu, vì vậy Công ty rất chú trọng đến chất lượng của
nguyên vật liệu đầu vào. Đặc biệt vì nguyên liệu chính là Clinke do Công ty
tự sản xuất trên dây chuyền công nghệ lò đứng và lò quay hiện đại nên chất
lượng luôn được bảo đảm trước khi đưa vào sản xuất xi măng. Clinke sau khi
ra lò được chuyển liền vào phân xưởng thành phẩm vì vậy nguyên liệu luôn
được cung cấp kịp thời để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục.
Tại phân xưởng có một hệ thống về định mức chi phí và được kiểm tra
chặt chẽ với tỉ lệ thích hợp như sau:
Bảng định mức nguyên vật liệu
xuyên tài sản cố định được xác định thông qua tập hợp chi phí ở phân xưởng Cơ
điện.
2.1.2. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định
giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là việc xác định nơi phát sinh chi phí và
nơi chịu chi phí.
Do đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty cổ
phần Xi măng Phú Thọ là khép kín, từ nguyên vật liệu thô ban đầu qua phân
xưởng nguyên liệu đến phân xưởng lò nung rồi đưa vào phân xưởng thành
phẩm tạo ra sản phẩm Xi măng. Xuất phát từ đặc điểm sản xuất trên đồng thời
đáp ứng nhu cầu về công tác tính giá thành nên đối tượng hạch toán phí sản
xuất đuợc tập hợp theo từng phân xưởng.
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội
17
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
Mỗi phân xưởng chịu trách nhiệm cho từng giai đoạn sản xuất Xi
măng. Do đó tập hợp chi phí sản xuất của từng phân xưởng cho biết những
cho phí mà phân xưởng đó bỏ ra là bao nhiêu. Ví dụ: tập hợp chi phí sản xuất
của phân xưởng lò nung sẽ cho biết đến giai đoạn sản xuất Clinke thì chi phí
sản xuất là bao nhiêu, nhằm phục vụ đắc lực cho công tác tính giá thành của
doanh nghiệp.
2.1.3. Phân loại chi phí sản xuất.
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại,
từng nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định. Có rất nhiều cách phân
loại chi phí khác nhau như phân theo nội dung kinh tế, theo công dụng, theo
vị trí, theo quan hệ của chi phí với quá trình sản xuất,…
Tại Công ty cổ phần Xi măng Phú Thọ đã áp dụng cách phân loại chi
phí theo nội dung kinh tế. Cụ thể như sau:
Thứ nhất là phân theo yếu tố chi phí:
* Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Đá vôi, đất sét…
tại phân xưởng cơ điện gồm: đá 2x4, đá Silíc, quặng sắt, than cám, đây là
những nguyên liệu thô được xử lý tại phân xưởng nguyên liệu, nguyên vật
liệu của phân xưởng lò nung là các nguyên vật liệu đã được xử lý tại phân
xưởng nguyên liệu chuyển sang, nguyên vật liệu chính tại phân xưởng thành
phẩm là Clinke được chuyển từ phân xưởng lò nung sang, ngoài ra còn có các
nguyên liệu khác như: thạch cao, sỉ, cao silíc để sản xuất ra sản phẩm cuối
cùng là Xi măng.
Nguyên tắc sử dụng nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất là xuất phát
từ nhu cầu sản xuất của từng phân xưởng, cụ thể là căn cứ vào lệnh xuất và tỷ
lệ nguyên vật liệu quy định ở từng phân xưởng. Hàng ngày căn cứ vào các
phiếu xuất kho, sau khi kiểm tra tính hợp của các loai chứng từ, kế toán tiến
hành phân loại chi phí và nhập số liệu vào máy tính chi tiết cho từng phân
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội
19
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
xưởng. Cuối kỳ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được kết chuyển sang TK
154: chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang.
Thực tế trong tháng 02/2008 có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh như sau: Đơn
vị tính (đồng).
+ Nghiệp vụ 1. Ngày 01/02/2008 xuất kho nguyên vật liệu dùng trực
tiếp sản xuất ở phân xưởng nguyên liệu ( phiếu xuất kho số PXNL-02 ngày
01/02/2008 ), trong đó:
- Đá 2x4 qua nghiền sàng: 539.152.893
- Quặng sắt: 16.545.139
- Than cám: 1.946.527.886
- Đất Silíc: 1.007.651
+ Nghiệp vụ 2. Ngày 04/02/2008, xuất kho nguyên vật liệu dùng trực
tiếp sản xuất phân xưởng thành phẩm (phiếu xuất kho số PXTP-04 ngày
04/02/2008), trong đó:
- Đá phụ gia Cao Silíc: 41.177.856
02/02 PXNL-02 01/02
Xuất kho NVLTT cho PX
Nguyên liệu
152
2.503.233.569
06/02 PXTP-04 04/02
Xuất kho NVLTT cho PX
Thành phẩm
152
2.100.350.360
06/02 PXCĐ-03 06/02
Xuất kho NLLTTT cho PX
Cơ điện
152
132.840.879
30/02 Kết chuyển CP NVLTT 154
4.736.424.808
30/02 Cộng số phát sinh 154
4.736.424.808 4.736.424.808
2.2.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản tiền lương phải trả cho
công nhân trực tiếp sản xuất, bao gồm: lương chính, lương phụ, các khoản
phụ cấp (tiền ăn ca, đi lại, phụ cấp độc hại...). Ngoài ra còn có các khoản đóng
góp cho các qũy BHYT, BHXH, KPCĐ. Do đặc điểm sản xuất hiện nay công
ty đang áp dụng trả lương theo ba hình thức là trả lương theo thời gian, theo
sản phẩm và theo lương khoán.
Thực tế tại Công ty cổ phần Xi măng Phú Thọ để tập hợp chi phí nhân
công trực tiếp kế toán sử dụng TK 622 (chi tiết cho từng phân xưởng) các
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội
Người ghi sổ Kế toán trưởng Tổng giám đốc
Tên tài khoản: Chi phí NCTT
Số hiệu TK: 622
(Đơn vị: đồng )
Ngày
tháng
Chứng từ Diễn giải
TK
đối ứng
Số phát sinh
Số hiệu
Ngày
tháng
Nợ Có
30/02
BPB tháng 2 30/02 Lương CNTT sản xuất PX Nguyên liệu 334 202.952.400
30/02
BPB tháng 2 30/02 Trích BHXH, BHYT.KPCĐ 338 35.775.000
30/02
BPB tháng 2 30/02 Lương CNTT sản xuất PX Lò nung 334 175.728.100
30/02
BPB tháng 2 30/02 Trích BHXH, BHYT, KPCĐ 338 44.632.000
30/02
BPB tháng 2 30/02 Lương CNTT sản xuất PX Thanh Phẩm 334 364.448.700
30/02
BPB tháng 2 30/02 Trích BHXH, BHYT, KPCĐ 338 67.311.000
30/02
BPB tháng 2 30/02 Lương CNTT sản xuất PX cơ điện 334 45.179.100
30/02
BPB tháng 2 30/02 Trích BHXH, BHYT, KPCĐ 338 12.208.000
30/02
chi tiết TK 6271.
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội
21
Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Minh Phương
Trong tháng 02/2008, căn cứ vào bảng phân bổ tiền lương và các khoản
trích theo lương, kế toán tiến hành ghi chép các nghiệp vụ phát sinh liên
quan đến chi phí nhân viên phân xưởng vào sổ cái TK 627, sổ chi tiết TK
6271 và lập bảng tập hợp chi phí nhân công sản xuất chung tháng 02/2008.
( Xem bảng 3 trang 26 )
*Kế toán chi phí vật liệu.
Vật liệu xuất dùng chung cho phân xưởng vào gồm các loại như: phụ tùng máy
nghiền, phụ tùng điện, dầu máy,… các loại vật liệu này xuất dùng cho phân
xưởng nào thì tính vào chi phí sản xuất chung của phân xưởng đó. Nguyên tắc sử
dụng và hạch toán tài khoản này giống như chi phí nguyên liệu trực tiếp. Các chi
phí này được tập hợp vào TK 6272, các khoản tăng giảm được theo dõi trên sổ
chi tiết trưn rài khoản này, cuối kỳ chi phí vật liêu được kết chuyển sang TK
154.
Căn cứ vào phiếu xuất kho trong tháng 02/2008 có các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh như sau:
+ NV1. Ngày 01/02/2008 xuất kho nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu chung
của phân xưởng lò nung ( phiếu xuất kho số PXLN – 05), trong đó:
- Dầu nhờn : 9.586.122
- Mỡ bơm : 5.095.000
- Phụ tùng máy nghiền :14.21.556
- Vòng bi, bu lông, bu li : 4.621.391
- Răng, phớt cao su, cu loa : 9.321.095
- Phụ tùng điện : 7.185.712
- Kim loại sắt thép các loại : 5.982.559
- Bi tấm các loại : 77.673.000
SV: Bùi Thị Lương - Lớp KT - K37PT Trường ĐHKTQD Hà Nội