Di dân tự do nông thôn đô thị với trật tự xã hội ở Hà Nội - Pdf 21

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
đinh quang hà
di dân tự do nông thôn - đô thị
với trật tự xã hội ở Hà Nội
Chuyờn ngnh
Mó s
luận án tiến sĩ xã hội học
Ngi hng dn khoa hc 1. GS.TS nguyễn đình tấn
2. PGS.Ts phạm xuân hảo
Hà nội - 2014


!"
#$%&%'()(*
#+#,#

 !"#$
%%
Trang
&'
1
()"

 !
9
1.1. Nghiên cứu về di dân trên thế giới 9
1.2. Nghiên cứu về di dân ở Việt Nam, thành phố Hà Nội 15
1.3. Nghiên cứu về di dân nông thôn - đô thị với trật tự xã hội ở Hà
Nội 28
1.4. Một số vấn đề cơ bản luận án tập trung nghiên cứu 33
()"*+, /0-/112314

1#%48H#C##IF
160
1#%;<#C#
161
@#%%
1#%#J-GD8
ANQG An ninh quốc gia
DDTD Di dân tự do
QLHC Quản lý hành chính
TTATGT Trật tự an toàn giao thông
TTATXH Trật tự an toàn xã hội
TTCC Trật tự công cộng
TTĐT Trật tự đô thị
TTXH Trật tự xã hội
1#%B8
Trang
/01 GDP bình quân đầu người của Hà Nội và cả nước 2000 - 2010 73
/21 Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nội qua các năm 76
//1 Việc làm của những người di dân tự do nông thôn - đô thị
trên địa bàn Hà Nội 88
/31 Kết quả đấu tranh, triệt phá tệ nạn xã hội của Công an
Thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013 92
/41 Những hành vi thường bị dụ dỗ, lôi kéo của người di dân
tự do trong thời gian làm ăn, sinh sống tại Hà Nội 93
/51 Hành vi phạm tội, vi phạm tệ nạn xã hội của người di dân
tự do nông thôn - đô thị trong thời gian sinh sống, làm ăn
ở Hà Nội 94
/61 Quãng thời gian di dân ra Hà Nội của di dân tự do nông
thôn - đô thị 100
/71 Mức độ vi phạm quy định giao thông đô thị tính theo

Di dân là một hiện tượng xã hội phổ biến, mang tính quốc gia và quốc
tế. Di dân diễn ra trong phạm vi không gian, thời gian với hình thái cụ thể
khác nhau. Có di dân nội vùng, nội địa, có di dân quốc tế; di dân tự do và
di dân có tổ chức, có kế hoạch. Trong các dòng di dân đó có di dân tự do
nông thôn - đô thị.
Trong những năm gần đây, cũng như một số thành phố khác trên đất
nước ta, thành phố Hà Nội là một trong những địa phương có số lượng người
di dân tự do đến tìm kiếm việc làm, sinh sống nhiều nhất. Theo kết quả Tổng
điều tra dân số, trong 10 năm (1999-2009), dân số Hà Nội tăng bình quân
hàng năm 2,11%, cao hơn mức tăng trung bình của cả nước (1,2%). Trong 5
năm gần đây, tỷ suất nhập cư của Hà Nội là 65,3%, tỷ suất xuất cư là 15,5%.
Như vậy, Hà Nội là một trong những thành phố có tỷ suất nhập cư cao trong
nước (Đồng Nai 68,4%; Thành phố Hồ Chí Minh 116,0%) [102].
Dân di cư tự do đến khu vực nội thành Hà Nội chủ yếu từ vùng nông
thôn của Hà Nội và vùng nông thôn của các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng.
Họ gồm đủ các lứa tuổi, thành phần xã hội, nghề nghiệp, trình độ học vấn;
làm đủ nghề tùy thuộc vào năng lực, sức khỏe, thói quen, truyền thống của địa
phương và mạng quan hệ xã hội của mỗi người, nhóm người di cư.
Di dân tự do tạo áp lực lớn về các vấn đề kinh tế - xã hội ở khu vực nội
thành Hà Nội. Di dân tự do làm gia tăng đột biến về dân số cơ học, về cơ cấu
dân cư, tạo những áp lực về việc làm, chỗ ở, giao thông, an sinh xã hội, Có
nghiên cứu cho rằng, những người di dân tự do gây khó khăn cho công tác
quản lý hành chính, quản lý con người, gây nên những khó khăn trong đấu
tranh phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm; là một yếu tố gây nên sự nhức
nhối, bức xúc trong xã hội đô thị, gia tăng sự mất ổn định về trật tự xã hội.
2
Nhằm đảm bảo trật tự xã hội, trong những năm vừa qua, cấp ủy đảng,
chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội và cơ quan công an các cấp của
Hà Nội đã tích cực, chủ động lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành công tác quản lý
người di cư tự do đến khu vực nội thành, tạo điều kiện cho họ về việc làm và

trên địa bàn thành phố Hà Nội.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về di dân tự do nông thôn - đô thị với trật
tự xã hội ở Hà Nội.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng về di dân tự do nông thôn - đô thị với trật
tự xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
- Phân tích những yếu tố tác động, xác định những vấn đề đặt ra và đề
xuất giải pháp cơ bản nhằm hạn chế tác động tiêu cực của di dân tự do nông
thôn - đô thị đến trật tự xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
M`Q(a"Xb_QcXPdZ["W\
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Di dân tự do nông thôn - đô với trật tự xã hội ở đô thị hiện nay.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Người dân nông thôn di cư tự do đến các quận nội thành thành phố Hà Nội.
- Cán bộ công an các phường nội thành thành phố Hà Nội.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu tương quan giữa
di dân tự do nông thôn - đô thị với công tác quản lý đô thị, trật tự giao thông,
tội phạm và các tệ nạn xã hội.
Trong các nhóm di dân tự do nông thôn - đô thị, luận án chỉ nghiên cứu
nhóm di dân tạm thời và di dân mùa vụ, trong đó di dân mùa vụ hàm chứa di
dân con lắc, không nghiên cứu nhóm di dân tự do nông thôn - đô thị đã đăng
ký hộ khẩu thường trú tại các quận nội thành Hà Nội.
4
- Phạm vi về không gian nghiên cứu. Các quận nội thành (nơi dân di cư
tự do đến): Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa.
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 đến 2012; thời điểm
khảo sát thực tiễn: năm 2013.
>M)ef]g] ^XP()"P_P] ^XP()"P_P"W\
4.1. Cơ sở lý luận, phương pháp luận

- Thu thập, phân tích các báo cáo về tình hình trật tự xã hội trên địa bàn
thành phố Hà Nội từ năm 2001 đến 2012; tập trung chủ yếu từ năm 2006 đến
năm 2012. Các báo cáo được thu thập chủ yếu từ cơ quan công an thành phố
Hà Nội và một số quận huyện.
322KO>*
- 20 cán bộ, công an phường các quận nội thành Hà Nội. Trong đó,
phỏng vấn 15 công an khu vực, những người trực tiếp quản lý nhân khẩu và
trật tự xã hội ở cơ sở tổ dân phố, đường phố; 5 cán bộ công an cấp sở, phòng.
- 20 người dân di cư tự do từ nông thôn đang làm ăn sinh sống tại chợ
đầu mối Long Biên, bến xe Lương Yên và trên đường phố quận nội thành.
32/P?(QM$
- Điều tra bằng phiếu đối với 400 người dân nông thôn di cư đến các
quận nội thành thành phố Hà Nội.
- Cách thức lấy mẫu: mỗi quận chọn 3-5 người dân ở khu vực nông thôn
di dân tự do đang có việc làm tại các quận nội thành Hoàn Kiếm, Ba Đình,
Đống Đa, Hai Bà Trưng. Số người này do cán bộ tổ dân phố, chủ nhà trọ có
đông người di dân tự do tạm trú giới thiệu để làm điểm khởi đầu điều tra. Sau
đó, từ sự giới thiệu của những người điều tra ban đầu tiến hành gặp và điều
tra đủ theo số lượng dự định điều tra. Cụ thể:
+ Điều tra ở quận Hoàn Kiếm 120 người; quận Ba Đình 80 người; quận
Đống Đa 100 người; quận Hai Bà Trưng 100 người.
+ Số lượng phiếu được xử lý 376 (24 phiếu không chứa đủ thông tin,
không được xử lý).
6
- Cơ cấu mẫu điều tra:
+ Về giới tính: Nam 181 người, chiếm 48,13%, nữ 195 người, chiếm 51,86%.
+ Về độ tuổi: Dưới 25 tuổi 30 người, chiếm 8,0%; 26 tuổi đến 30 tuổi
236 người, chiếm 62,8%; từ 31 tuổi đến 35 tuổi 83 người, chiếm 22,1%; từ 36
tuổi đến 40 tuổi 23 người chiếm 6,1%; từ 41tuổi đến 45 tuổi 2 người chiếm
0,5%; trên 45tuổi 2 người, chiếm 0,5%.

xã hội này.
5.2. Biến số
-$BM1 Giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, việc làm, hình thái di
của dân di cư tự do nông thôn - đô thị.
-$MRB1 Đăng ký nhân khẩu, hộ khẩu; Trật tự, an toàn giao thông
đô thị; Tội phạm và tệ nạn xã hội của dân di cư tự do nông thôn - đô thị.
-$M1 Điều kiện kinh tế - xã hội địa phương xuất cư và nhập
cư; Quan điểm, chính sách, quy định về di dân, quản lý di dân tự do của
Đảng, Nhà nước, thành phố Hà Nội.
5.3. Khung phân tích
#mQ_
nnlQonp
qQNXTQ rX
[O"(sn
nlQonp
-Y]$ZS!"(s
nnlQonp
1nlQonp
t"Qt5
TtQu
v"bgl
bw Xbw
x^QQoX!
Qp$"!pQt"
PdZXQYd
y
U bYbQR5yTu!P()"y OQX^P(
i
P_P
SQx()"XNe_Xz jTu[Un(X

động của di dân tới nền kinh tế của nước Mỹ, với hai quan điểm ủng hộ hoặc
phản đối. Các xuất bản phẩm về vấn đề này thường dưới dạng các bài báo, chưa
có công trình nghiên cứu tổng hợp, chuyên sâu về di dân. Ví dụ: “Nước Mỹ nên
vui mừng với hiện tượng nhập cư”, năm 1845 của Thomas L.Nichols; “Mỹ nên
giảm bớt nhập cư”, năm 1849 của Garrtt Davit [75, tr.385-389].
Vào thập kỷ 60 đến thập kỷ 80 thế kỷ XX, nghiên cứu về di dân thực sự
phát triển ở nước Mỹ. Các tác giả đều là những nhà khoa học, những giáo sư,
nhà nghiên cứu ở các trường đại học, viện nghiên cứu địa lý, viện nghiên cứu
kinh tế; một số người trong số đó: Norris Robert Eart, Corugean, C.Curtis
Roseman, U.A.V. Clark, E.C. Moore,…. Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, các
nhà khoa học đưa ra lý thuyết có giá trị trong nghiên cứu về di dân. Các nghiên
cứu đó tập trung vào các vấn đề: Phân loại di dân (tác giả: Norris Robert Eart,
Corugean); Phân tích tổng hợp những hành vi di cư và tìm hiểu chi tiết không
gian của sự di chuyển (tác giả: C.Curtis Roseman); Đo lường và giải thích sự di
chuyển (tác giả: U.A.V. Clark, E.C. Moore) [75, tr.385-389].
Nếu ở nước Mỹ có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về di dân, nhất
là di dân đô thị, thì ở nước Anh có nhiều công trình nghiên cứu di dân nông
10
thôn - đô thị. Năm 1876, E.G.Ravenstein đã đưa ra học thuyết về di dân trên
cơ sở nghiên cứu trào lưu di dân từ nông thôn ra đô thị ở nước Anh. Với công
trình “Những luật về di dân”, Ông đã tổng kết quy luật của sự di dân, nguyên
nhân và một vài đặc trưng của quá trình di dân, qua đó hình thành lý thuyết về
di dân [Trích theo 6].
Năm 1966, dựa trên cơ sở lý thuyết của E.G.Ravenstein, E.G.Evertt Lee
đã đưa ra mô hình di cư trong nghiên cứu về di dân [Trích theo 6]. Năm 1970,
trên cơ sở kết hợp ý tưởng của E.G.Evertt Lee, M.Todaro đã đưa ra lý thuyết
về “lực hút” trong mô hình giải thích về di dân [Trích theo 6]. Mô hình của
Ông có giá trị lớn trong việc giải thích hiện tượng di cư theo quy mô không
gian. Lý thuyết về “lực hút” đã và đang được tiếp nhận và vận dụng trong
nghiên cứu về di dân. Vấn đề này sẽ được trình bày kỹ trong nội dung các lý

chức quốc tế.
Dân số là một nội dung, vấn đề nghiên cứu của xã hội học, hình thành
một chuyên ngành xã hội học về dân số. Trong nội dung, hướng nghiên cứu
về dân số, xã hội học thường hướng vào vấn đề di dân, nhập cư để làm rõ các
hiện tượng xã hội của quá trình này. Sách: SAB, của John & Macionis
[67, tr.66-702], có nội dung bàn về sự di cư và đô thị hóa. Giải thích về di cư
là sự mô tả bằng thuật ngữ yếu tố kéo - đẩy. Sự nghèo đói ở các ngôi làng
nông thôn là một “yếu tố đẩy quan trọng”, cuộc sống sung túc ở thành phố là
yếu tố kéo; ngoài ra, có thể còn có sự can thiệp của yếu tố đối lập chính trị,
tôn giáo hoặc là sự đi tìm “bầu không khí dễ chịu” để định cư. Sách đã giới
thiệu $9$M#@T với quan niệm: “các mẫu dân số liên
quan đến trình độ phát triển công nghệ của xã hội”. Theo đó, sự gia tăng dân
số biến động theo tính chất, trình độ công nghiệp hóa. Tính chất và trình độ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa càng cao thì sự sụt giảm quy mô dân số càng
lớn. Với quan niệm này gợi mở cho sự liên tưởng về mối quan hệ giữa công
nghiệp hóa và di dân.
12
Sách SAB, của Richard T. Schaefeer [75, tr.668-696], Chương 21.
Dân số và môi trường, có mục Dân số và nhập cư (Tr. 668-696), đề cập đến
hai khía cạnh: nhập cư trên thế giới và di dân trong nước (nước Mỹ). Cuốn
sách chỉ rõ: nhập cư là một hiện tượng xã hội phức tạp và là kết quả của đủ
loại yếu tố, trong đó yếu tố kinh tế là nổi trội; ở nước Mỹ, trong những tập kỷ
gần đây, lượng người nhập cư chiếm 20-30% mức tăng trưởng dân số; ở Hy
Lạp và Áo, trong một thập kỷ vừa qua, 80% mức tăng trưởng dân số do nhập
cư; hiện nay, có khoảng 20 triệu người nhập cư hợp pháp, khoảng 2 triệu
người nhập cư trái phép vào các nước Tây Âu. Về di dân trong nước, cuốn
sách chỉ ra rằng, di dân sẽ tạo ra “sự ngoại ô hóa” và “cuộc sống nông thôn
bật dậy”. Sách chỉ rõ: giai đoạn 1980-1990, ở nước Mỹ, các hạt ngoại ô đã
tăng trưởng về dân số lên đến 14% trong khi tổng dân số Mỹ chỉ tăng 10% và
tỷ lệ dân số sống ở các trung tâm thành phố vẫn bất biến, khoảng 1/3 dân số

họ bất lợi về nhiều mặt so với người bản địa. Sự bất lợi đó càng tăng khi mà
chủ nghĩa phân biệt chủng tộc còn rơi rớt, chi phối các quan hệ xã hội. Như
vậy, các cuốn sách đó cho thấy, sự bất lợi, bất bình đẳng xã hội, phân hóa xã
hội và kỳ thị xã hội đối với người nhập cư là vấn đề xã hội nổi trội, đáng chú
ý trong nghiên cứu về di cư nông thôn - đô thị. Với những nghiên cứu về hành vi
sai lệch chuẩn mực đối với người dân di cư nông thôn - đô thị, các kết luận mang
tính “tổng kết thực tiễn” đó gợi mở cơ sở cho việc mô tả hiện tượng, lý giải
nguyên nhân vi phạm trật tự an toàn xã hội của người nhập cư vào thành phố.
Từ các nghiên cứu về di dân trên thế giới, có thể rút ra một số vấn đề:
*1 Kết quả nghiên cứu về di dân ở một số nước như Mỹ, Anh,
Thụy sĩ, đã hình thành =$AB,>?UU Năm 1885,
E.G.Ravenstein đã xây dựng lý thuyết xã hội học về di dân trên cơ sở nghiên
cứu trào lưu di dân từ nông thôn ra thành thị ở nước Anh. 1950, Hawley cho
rằng, áp lực đất nông nghiệp đối với cư dân nông nghiệp là nhân tố quan
14
trọng “tạo lực đẩy” dân nông thôn ra khu vực đô thị sinh sống. 1954, Lewin
cho rằng, sự khác biệt về cơ hội việc làm và mức thu nhập giữa nông thôn và
thành thị đã khuyến khích di dân từ nông thôn ra đô thị. 1966, Evenretts Lee
đã xây dựng lý thuyết “hút - đẩy” trên cơ sở tổng kết quy luật di dân. Về cơ
bản, các lý thuyết về di dân, nhất là lý thuyết “hút - đẩy” được ứng dụng phổ
biến trên thế giới trong các nghiên cứu về di dân hiện nay.
1 Nghiên cứu về di dân trên thế giới ở thế kỷ XIX, XX đã đặt nền
móng cho sự >M9AB,>?
UU Các nghiên cứu về di dân thường được đặt trong mối quan hệ với tôn
giáo, tộc người, quan hệ giữa dân chính cư và dân nhập cư, dưới cái nhìn
công bằng, bình đẳng, phân tầng xã hội. Nghiên cứu về di dân được mặc định
về nội dung cho những nghiên cứu về phân tầng xã hội, bình đẳng xã hội,
hướng mạnh vào nghiên cứu di dân trong sự liên hệ với sự ổn định và phát
triển xã hội.
Các nghiên cứu về di dân được đặt trong mối quan hệ giữa các quốc gia

nghiên cứu đó là tìm lời giải cho việc hoạch định các chính sách nhằm kiểm
soát chặt chẽ tình hình di dân nông thôn - đô thị và thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ an sinh xã hội đối với cư dân đô thị, cư dân nông thôn.
Nhiều nhà nghiên cứu các chuyên ngành dân số học, xã hội học, quản lý
kinh tế như: Tương Lai, Đặng Cảnh Khanh, Trịnh Duy Luân, Đặng Nguyên
Anh, Hoàng Văn Chức, Trần Hữu Quang, Nghiêm Xuân Đạt, Đồng Bá
Hướng, Lê Bạch Dương, Thân Văn Liên, Lê Đăng Giang, v.v… đã có các
công trình nghiên cứu, bài luận khoa học về di dân, tác động của di dân đến
các vấn đề thuộc về an sinh xã hội, kiến nghị thiết lập các chính sách để quản
lý quá trình di dân. Một số công trình nghiên cứu trong số đó:
Đề tàiVUFW>RDX>.MMdo Lê
Đăng Giảng chủ nhiệm [36] đã làm rõ: di dân theo mùa vụ gần sát nghĩa với
16
di dân “con lắc” và di dân tạm thời; di dân theo mùa vụ diễn ra vào thời kỳ
nông dân không “bận việc”, những ngày người nông dân “không có việc
làm”, thời điểm “nông nhàn”; nguyên nhân chủ yếu của di dân theo mùa vụ là
tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập, bảo đảm cuộc sống. Đề tài có những nghiên
cứu sâu về hiện trạng di dân theo mùa vụ vào thành phố, chỉ ra mặt tích cực,
tiêu cực và kiến nghị các giải pháp hạn chế, quản lý di cư theo mùa vụ nông
thôn - đô thị. Về các tác động tiêu cực, đề tài chỉ ra, di dân theo mùa vụ nông
thôn - đô thị gây ra sự lộn xộn về trật tự xã hội, gây ách tắc giao thông,… “tạo
sức ép về mặt xã hội, an ninh của thành phố”. Với một vài số liệu, đề tài đã
cho thấy mức độ, loại hình tệ nạn xã hội, tội phạm của những người nông dân
vào thành phố, lang thang kiếm sống. Đề tài đưa ra dẫn chứng, phân tích 4958
người lang thang thu gom được trong các năm ở Hà Nội trong các năm 1989,
1990, 1991, cho con số: trộm cắp 357 người, mại dâm 435 người, lừa đảo 190
người, buôn bán vé, chèo kéo khách đi ô tô 49 người, Con số đó cho thấy,
mại dâm và trộm cắp là hai hiện tượng nổi trội trong nhóm người từ nông
thôn vào thành phố Hà Nội kiếm sống. Số liệu và một vài nhận định về tác
động tiêu cực của di dân theo mùa vụ từ nông thôn vào thành phố là những tài

trạng người di cư và không di cư tại nơi chuyển đến. Thông tin thu được từ
cuộc điều tra cũng sẽ giúp đưa ra các khuyến nghị về chính sách phát triển
nông thôn để giảm bớt xuất cư, về kế hoạch phát triển vùng có thể ảnh hưởng
đến quá trình di cư, và về việc làm thế nào để cải thiện điều kiện sống của
người di cư ở nơi đến.
Kết quả điều tra cho thấy, người di cư có độ tuổi trẻ, khoảng 60% người
di cư là nam, 66% người di cư là nữ trong độ tuổi từ 15-29; hầu hết người di
cư không có nhà ở phải đi thuê và đăng ký hộ khẩu tạm trú (ở khu vực Hà Nội
chủ yếu KT3 và không đăng ký tạm trú); người di cư đến Hà Nội và khu công
nghiệp Đông Bắc chủ yếu đến từ các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, người
18
di cư đến thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nguyên không thuộc vùng
nào nổi trội; nhân tố chủ yếu thúc đẩy di cư là kinh tế, tìm kiếm việc làm;
nhìn chung, người di cư gặp những bất lợi về chăm sóc sức khỏe, an sinh xã
hội. Những số liệu, nhận định trong “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004” do
Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên Hợp quốc thực hiện là tài liệu tham
khảo tốt trong quá trình thực hiện luận án. Nhận định: người di cư đến Hà Nội
và khu công nghiệp Đông Bắc chủ yếu đến từ các tỉnh vùng đồng bằng sông
Hồng là cứ liệu củng cố thêm tính xác thực cho nghiên cứu về tác động của di
dân nông thôn - đô thị đến trật tự, an toàn xã hội của thành phố Hà Nội trong
quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Năm 2009, nước ta tiến hành Tổng Điều tra dân số.]$Z.[P?
UT)_!a2;;8[99] đã cho bức tranh khá chi tiết về di
cư. Nhìn chung, dân số di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng tăng, từ 1,3
triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và tăng lên 3,4 triệu người
năm 2009. Số liệu Tổng Điều tra dân số cho bằng chứng về các vấn đề xã hội:
hiện tượng “nữ hóa di cư”, dân số nữ di cư chiếm khoảng một nửa tổng số
dân di cư và tỷ lệ dân số nữ di cư trên tổng số dân di cư liên tục tăng trong hai
thập kỷ qua; đa số dân di cư, đặc biệt di cư liên tỉnh, là những người trẻ, tập
trung trong nhóm 15-29 tuổi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status