Các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam pot - Pdf 21

Các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam
Việt Nam - Tổ quốc của nhiều dân tộc. Các dân tộc cùng là con cháu của Lạc Long Quân
- Âu Cơ, nở ra từ trăm trứng, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống biển, cùng mở
mang gây dựng non sông "Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền", với rừng núi trùng điệp,
đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dãi từ chỏm
Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo
Trường Sa (Đông).
Danh sách các dân tộc Việt Nam
Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn
kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, suốt quá trình lịch sử
dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước.
Lịch sử chinh phục thiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo và sức sống
mảnh liệt, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên để sản xuất, tồn tại và
phát triển của từng dân tộc. Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu )
khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khác nhau.
Ở đồng bằng và trung du, các dân tộc làm ruộng, cấy lúa nước, dựng nên nền văn hóa
xóm làng với trung tâm là đình làng, giếng nước cây đa, bao bọc bởi lũy tre xanh gai góc
đầy sức sống dẻo dai. Đồng bằng, nghề nông, xóm làng là nguồn cảm hứng, là 'bột' của
những tấm áo mớ ba mớ bảy, của dải yếm đào cùng nón quai thao, của làn điệu dân ca
quan họ khoan thai mượt mà và của khúc dân ca Nam Bộ ngân dài chan chứa sự mênh
mông của đồng bằng sông Cửu Long. ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa
nước kết hợp sản xuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây
công nghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế ), thay thế cho rừng tự nhiên. Họ sống trên
những nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa
rừng, thú rừng. Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình cảm cộng đồng sâu sắc.
Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởi tình người.
Ở vùng cao Việt Bắc, Tây Nguyên, đồng bào chọn phương thức phát rừng làm rẫy - là
cách ứng xử thiên nhiên ở thời đại tiền công nghiệp. Vùng cao, khí hậu á nhiệt đới, việc
trồng trọt chủ yếu thực hiện trong mùa hè thu. Để tranh thủ thời tiết và quay vòng đất, từ
ngàn xưa người vùng cao đã phát triển xen canh gối vụ, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ đất
khỏi bị xói mòn bởi những cơ mưa rào mùa hạ. Bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của

tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biết tiếng các dân tộc có quan hệ
hàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hóa với nhau, nhưng các dân tộc
vẫn lưu giữ được bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình. Ở đây cái đa dạng của văn hóa
các dân tộc được thống nhất trong qui luật chung - qui luật phát triển đi lên của đất nước,
như cái riêng thống nhất trong cái chung của cặp phạm trù triết học.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với tổng số 54 dân tộc. Dân tộc Việt (Kinh) chiếm
87% dân số cả nước, sống tập trung chủ yếu trong vùng châu thổ sông Hồng, các đồng
bằng ven biển miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long và các thành phố lớn. 53 dân tộc
khác, tổng cộng hơn 8 triệu người, phân bổ chủ yếu trên các vùng núi (chiếm 2/3 lãnh
thổ) trải dài từ Bắc vào Nam .
Trong số các dân tộc thiểu số, đông nhất là Tày, Thái, Mường, Hoa, Khơ-me, Nùng
mỗi dân tộc trên dưới một triệu người; nhỏ nhất là Brau, Romam, O-du chỉ vài trăm
người.
Dân tộc Việt ngay từ thế kỷ thứ 10 đã thiết lập được một nền quân chủ tập trung. Người
Chăm đã từng sớm có một nền văn hoá rực rỡ. Người Tày, Nùng và Khơ-me đã đạt đến
một giai đoạn phát triển cao với sự xuất hiện các tầng lớp xã hội khác nhau. Người
Mường, Mông, Dao, Thái tập trung dưới quyền giám hộ của tù trưởng địa phương.
Nhiều dân tộc còn chia thành đẳng cấp, đặc biệt là các bộ tộc sống trên các vùng núi.
Một số dân tộc ít người đã biết các kỹ thuật canh tác khá thành thục. Họ đã sớm canh tác
lúa trên ruộng ngập nước và tiến hành tưới tiêu. Số khác tiến hành săn bắn, đánh cá, hái
lượm và sống bán du mục. Mỗi nhóm dân tộc đều có nền văn hoá riêng biệt, giàu có và
độc đáo. Tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc cũng hết sức khác biệt.
Tuy nhiên, bên trên của sự khác biệt này đã hình thành sự đoàn kết căn bản giữa các dân
tộc, kết quả của một quá trình hợp tác qua nhiều thế kỷ trên cùng mảnh đất Việt Nam.
Ngay từ thế kỷ đầu tiên của thời kỳ lịch sử, đã hình thành quá trình bổ sung lẫn nhau
trong quan hệ kinh tế giữa nhân dân đồng bằng và các dân tộc miền núi. Tình đoàn kết
này không ngừng được củng cố qua các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ
quốc. Thông qua cuộc đấu tranh chung để bảo vệ và xây dựng đất nước và quá trình hỗ
trợ lẫn nhau để tồn tại và phát triển, một cộng đồng chung giữa người Việt và các dân tộc
ít người đã hình thành và không ngừng được củng cố và phát triển.

Câu nói truyền miệng của nhân dân ta từ bao đời nay là đất nước ta có ''Rừng vàng biển
bạc''.
+ Về kinh tế.
- Hải sản: Ở vùng biển nước ta đến nay có khoảng 2.040 loài cá gồm nhiều bộ, họ khác
nhau, trong đó có giá trị kinh tế cao khoảng 110 loài. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta
khoảng 3 triệu tấn/năm. Ở biển Việt Nam có khoảng trên l .500 loài nhiễm thể, riêng tôm
có trên l00 loài.
- Chim biển: Các loại chim biển ở nước ta cũng rất phơng phú: hải âu, bồ nông, chim rẽ,
hải yến. Theo tính toán của các nhà khoa học phân chim tích tụ từ lâu đời trên các đảo
cho trữ lượng phân bón tới chục triệu tấn.
- Rong biển: Trên biển nước ta có trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn có dinh dưỡng
cao và là nguồn dược liệu phong phú.
- Khoáng sản: Dưới đáy biển nước ta có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, ti tan, đi-ri-
con, thạch anh, nhôm, sắt, măng gan, đồng, kền và các loại đất hiếm. Muối ăn chứa trong
nước biển bình quân 3.500gr/m2.
- Dầu mỏ: Vùng biển Việt Nam rộng hơn l triệu km2 trong đó có 500.000km2 nằm trong
vùng triển vọng có dầu khí. Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể
chiếm 25% trrữ lượng dầu dưới đáy biển Đông. Có thể khai thác từ 30-40 ngàn
thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/năm. Trữ lượng dầu khí dự báo của
toàn thềm lục địa Vict Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu Việt Nam còn có khí
đốt với trữ lượng khoảng ba nghìn tỷ m3/năm.
- Giao thông: Bờ biển nước ta chạy dọc từ Bắc tới Nam theo chiều dài đất nước, với
3.260km bờ biển có nhiều cảng, vịnh, vụng rất thuận liện cho giao thông, đánh bắt, hải
sản. Nằm liên trục giao thông đường biển quốc tế từ Thái Bình Dương sang Đại Tây
Dương, trong tương lai sẽ là tiềm năng cho ngành kinh tế dịch vụ trên biển (đóng làu, sửa
chữa tàu, tìm kiếm cứu hợ, thơng tin dẫn dắt ).
- Du lịch: Bờ biển đài có nhiều bãi cát, vụng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, là liềm năng
du lịch lớn của nước ta.
+ Quốc phòng, an ninh:
Biển nước ta nằm trên đường giao thông quốc tế từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam vì

+ Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo trong vùng biển rộng khoảng 15.000 km2, trực
thuộc Đà Nẵng.
+ Năm 1956 Trung Quốc chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Tháng l-1974,
trong lúc nhân và dân ta đang tập trung sức tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung
Quốc đã đưa quân ra đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
- Quần đảo Trường Sa:
+ Cách quần đảo Hoàng Sa khoảng trên 200 hải lý về phía Đông Nam.
+ Quần đảo Trường Sa bao gồm hơn 100 đảo nhỏ, bãi ngầm, bãi san hô nằm trải rộng
trong một vùng biển khoảng 180.000km2, trực thuộc Khánh Hòa.
+ Chiều Đông Tây của quần đảo Trường Sa là 325 hải lý, chiều Bắc Nam là 274 hải lý.
Cách Cam Ranh 248 hải lý, cách đảo Hải Nam Trung Quốc 595 hải lý.
+ Tại quần đảo Trường Sa, đang diễn ra tình trạng có một số nước tranh chấp chủ quyền
với ta. Hiện nay: Philippln chiếm 8 đảo, Malaixia chiếm 3 đảo, Đài Loan chiếm l đảo,
Trung Quốc chiếm 9 bãi đá ngầm. Việt Nam đang có mặt và bảo vệ 21 đảo và bãi đá
ngầm trên quần đảo Trường Sa.
- Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc ta.
4- Vịnh Bắc Bộ
- Nằm ở Tây Bắc Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam và Trung Quốc.
- Diện tích khoảng 126.250km2, chiều ngang, nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp
nhất khoảng 220km. Hiệp Định Phân định Vịnh Bắc Bộ ký tháng 12/2000 giữa Việt Nam
và Trung Quốc đã xác định biên giới lãnh hải của hai nước ở ngoài cửa sông Bắc Luân,
cũng như giới hạn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta và Trung Quốc ở trong
Vịnh Bắc Bộ. Về diện tích tổng thể theo mực nước trung bình thì ta được 53,23%, Trung
Quốc được 46,77% diện tích Vịnh.
- Là vịnh nông, nơi sâu nhất khoảng l00m.
Thềm lục địa Việt Nam khá rộng, độ dốc thoải và có một lòng máng sâu trên 70m gần
đảo Hải Nam của Trung Quốc.
-Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 3.000 đảo lớn nhỏ, đảo Bạch Long Vĩ diện tích

Sau giai đoạn chống Bắc thuộc có đặc trưng chủ yếu là song song tồn tại hai xu hướng
Hán hoá và chống Hán hoá, giai đoạn Đại Việt (từ thế kỉ 10 đến 15) là đỉnh cao thứ hai
của văn hoá Việt Nam. Qua các triều đại nhà nước phong kiến độc lập, nhất là với hai cột
mốc các triều Lý-Trần và Lê, văn hoá Việt Nam được gây dựng lại toàn diện và thăng
hoa nhanh chóng có sự tiếp thu ảnh hưởng to lớn của Phật giáo và Nho giáo.
Sau thời kì hỗn độn Lê-Mạc và Trịnh-Nguyễn chia cắt đất nước, rồi từ tiền đề Tây Sơn
thống nhất đất nước và lãnh thổ, nhà Nguyễn tìm cách phục hưng văn hoá dựa vào Nho
giáo, nhưng lúc ấy Nho giáo đã suy tàn và văn hoá phương Tây bắt đầu xâm nhập nước
ta. Kéo dài cho tới khi kết thúc chế độ Pháp thuộc là sự xen cài về văn hoá giữa hai xu
hướng Âu hoá và chống Âu hoá, là sự đấu tranh giữa văn hoá yêu nước với văn hoá thực
dân.
Giai đoạn văn hoá Việt Nam hiện đại được hình thành kể từ những năm 20-30 của thế kỷ
này, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Mác-Lênin. Với sự hội nhập
ngày càng sâu rộng vào nền văn minh thế giới hiện đại, đồng thời giữ gìn, phát huy bản
sắc dân tộc, văn hoá Việt Nam hứa hẹn một đỉnh cao lịch sử mới.
Có thể nói xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam, đã có ba lớp văn hoá chồng lên nhau:
lớp văn hoá bản địa, lớp văn hoá giao lưu với Trung Quốc và khu vực, lớp văn hoá giao
lưu với phương Tây. Nhưng đặc điểm chính của Việt Nam là nhờ gốc văn hoá bản địa
vững chắc nên đã không bị ảnh hưởng văn hoá ngoại lai đồng hoá, trái lại còn biết sử
dụng và Việt hoá các ảnh hưởng đó làm giầu cho nền văn hoá dân tộc.
Văn hoá dân tộc Việt Nam nảy sinh từ một môi trường sống cụ thể: xứ nóng, nhiều sông
nước, nơi gặp gỡ của nhiều nền văn minh lớn. Điều kiện tự nhiên (nhiệt, ẩm, gió mùa,
sông nước, nông nghiệp trồng lúa nước ) đã tác động không nhỏ đến đời sống văn hoá
vật chất và tinh thần của dân tộc, đến tính cách, tâm lý con người Việt Nam. Tuy nhiên
điều kiện xã hội và lịch sử lại là những yếu tố chi phối rất lớn đến văn hoá và tâm lý dân
tộc. Cho nên cùng là cư dân vùng trồng lúa nước, vẫn có những điểm khác biệt về văn
hoá giữa Việt Nam với Thái Lan, Lào, Indonesia, Ấn Độ v.v Cùng cội nguồn văn hoá
Đông Nam á, nhưng do sự thống trị lâu dài của nhà Hán, cùng với việc áp đặt văn hoá
Hán, nền văn hoá Việt Nam đã biến đổi theo hướng mang thêm các đặc điểm văn hoá
Đông Á.

Ở các triều đại chuyên chế quan liêu, tư tưởng phong kiến nặng nề đè nén nông dân và
trói buộc phụ nữ, nhưng nếp dân chủ làng mạc, tính cộng đồng nguyên thuỷ vẫn tồn tại
trên cơ sở kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc. Cắm rễ sâu trong xã hội nông nghiệp Việt
Nam là tư tưởng nông dân có nhiều nét tích cực và tiêu biểu cho con người Việt Nam
truyền thống. Họ là nòng cốt chống ngoại xâm qua các cuộc kháng chiến và nổi dậy. Họ
sản sinh ra nhiều tướng lĩnh có tài, lãnh tụ nghĩa quân, mà đỉnh cao là người anh hùng áo
vải Quang Trung-Nguyễn Huệ cuối thế kỷ 18.
Chính sách trọng nông ức thương, chủ yếu dưới triều Nguyễn, khiến cho ý thức thị dân
chậm phát triển. Việt Nam xưa kia coi trọng nhất nông nhì sĩ, hoặc nhất sĩ nhì nông,
thương nhân bị khinh rẻ, các nghề khác thường bị coi là nghề phụ, kể cả hoạt động văn
hoá.
Thế kỷ 19, phong kiến trong nước suy tàn, văn minh Trung Hoa suy thoái, thì văn hoá
phương Tây bắt đầu xâm nhập Việt Nam theo nòng súng thực dân. Giai cấp công nhân
hình thành vào đầu thế kỉ 20 theo chương trình khai thác thuộc địa. Tư tưởng Mác-Lênin
được du nhập vào Việt Nam những năm 20-30 kết hợp với chủ nghĩa yêu nước trở thành
động lực biến đổi lịch sử đưa đất nước tiến lên độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Tiêu
biểu cho thời đại này là Hồ Chí Minh, anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng và danh nhân văn
hoá được quốc tế thừa nhận. Giai cấp tư sản dân tộc yếu ớt chỉ tiến hành được một số
cuộc cải cách bộ phận ở nửa đầu thế kỉ 20.
Như vậy, Việt Nam không có một hệ thống lý luận triết học và tư tưởng riêng, thiếu triết
gia tầm cỡ quốc tế. Nhưng không có nghĩa là không có những triết lý sống và những tư
tưởng phù hợp với dân tộc mình.
Xã hội nông nghiệp có đặc trưng là tính cộng đồng làng xã với nhiều tàn dư nguyên thuỷ
kéo dài đã tạo ra tính cách đặc thù của con người Việt Nam. Đó là một lối tư duy lưỡng
hợp (dualisme), một cách tư duy cụ thể, thiên về kinh nghiệm cảm tính hơn là duy lý, ưa
hình tượng hơn khái niệm, nhưng uyển chuyển linh hoạt, dễ dung hợp, dễ thích nghi. Đó
là một lối sống nặng tình nghĩa, đoàn kết gắn bó với họ hàng, làng nước (vì nước mất nhà
tan, lụt thì lút cả làng). Đó là một cách hành động theo xu hướng giải quyết dung hoà,
quân bình, dựa dẫm các mối quan hệ, đồng thời cũng khôn khéo giỏi ứng biến đã từng
nhiều lần biết lấy nhu thắng cương, lấy yếu chống mạnh trong lịch sử.

với thiên nhiên.
Phương tiện đi lại cổ truyền chủ yếu là đường thuỷ. Con thuyền các loại là hình ảnh thân
quen của cảnh quan địa lý-nhân văn Việt Nam, cùng với dòng sông, bến nước.
Các phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hội của Việt Nam đều gắn với tính cộng đồng
làng xã. Hôn nhân xưa không chỉ là nhu cầu đôi lứa mà còn phải đáp ứng quyền lợi của
gia tộc, gia đình, làng xã, nên kén người rất kỹ, chọn ngày lành tháng tốt, trải qua nhiều
lễ từ giạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu đến tơ hồng, hợp cẩn, lại mặt, và phải nộp cheo để chính
thức được thừa nhận là thành viên của làng xóm. Tục lễ tang cũng rất tỉ mỉ, thể hiện
thương xót và tiễn đưa người thân qua bên kia thế giới, không chỉ do gia đình lo mà hàng
xóm láng giềng tận tình giúp đỡ.
Việt Nam là đất nước của lễ hội quanh năm, nhất là vào mùa xuân, nông nhàn. Các tết
chính là tết Nguyên đán, tết Rằm tháng Giêng, tết Hàn thực, tết Đoan ngọ, tết Rằm tháng
Bảy, tết Trung thu, tết Ông táo Mỗi vùng thường có lễ hội riêng, quan trọng nhất là các
lễ hội nông nghiệp (cầu mưa, xuống đồng, cơm mới ), các lễ hội nghề nghiệp (đúc đồng,
rèn, pháo, đua ghe ). Ngoài ra là các lễ hội kỉ niệm các bậc anh hùng có công với nước,
các lễ hội tôn giáo và văn hoá (hội chùa). Lễ hội có 2 phần: phần lễ mang ý nghĩa cầu xin
và tạ ơn, phần hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng gồm nhiều trò chơi, cuộc thi dân gian.
3. Tín ngưỡng và tôn giáo
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ cổ xưa đã bao hàm:
Tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người.
Con người cần sinh sôi, mùa màng cần tươi tốt để duy trì và phát triển sự sống, nên đã
nảy sinh tín ngưỡng phồn thực. ở Việt Nam, tín ngưỡng đó tồn tại lâu dài, dưới hai dạng
biểu hiện: thờ sinh thực khí nam và nữ (khác với ấn Độ chỉ thờ sinh thực khí nam) và thờ
cả hành vi giao phối (người và thú, ngay ở Đông Nam á cũng ít có dân tộc thờ việc này).
Dấu tích trên còn để lại ở nhiều di vật tượng và chân cột đá, trong trang trí các nhà mồ
Tây Nguyên, trong một số phong tục và điệu múa, rõ nhất là ở hình dáng và hoa văn các
trống đồng cổ.
Nông nghiệp trồng lúa nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên đã đưa đến tín ngưỡng
sùng bái tự nhiên. ở Việt Nam, đó là tín ngưỡng đa thần và coi trọng nữ thần, lại thờ cả
động vật và thực vật. Một cuốn sách nghiên cứu (xuất bản năm 1984) đã liệt kê được 75

vẫn có tới 3 triệu tín đồ xuất gia và khoảng 10 triệu người thường xuyên vãn chùa lễ Phật.
Thời Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam, đến năm 1070 Lý
Thái Tổ lập Văn Miếu thờ Chu Công-Khổng Tử mới có thể xem là được tiếp nhận chính
thức. Thế kỉ 15, do nhu cầu xây dựng đất nước thống nhất, chính quyền tập trung, xã hội
trật tự, Nho giáo thay chân Phật giáo trở thành quốc giáo dưới triều Lê. Nho giáo, chủ
yếu là Tống Nho, bám chắc vào cơ chế chính trị-xã hội, vào chế độ học hành khoa cử,
vào tầng lớp nho sĩ, dần chiếm lĩnh đời sống tinh thần xã hội. Nhưng Nho giáo cũng chỉ
được tiếp thụ ở Việt Nam từng yếu tố riêng lẻ - nhất là về chính trị-đạo đức, chứ không
bê nguyên xi cả hệ thống.
Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam khoảng cuối thế kỉ 2. Do thuyết vô vi mang tư tưởng
phản kháng bọn thống trị, nó được người dân dùng làm vũ khí chống phong kiến phương
Bắc. Nó lại có nhiều yếu tố thần tiên, huyền bí, nên hợp với tiềm thức con người và tín
ngưỡng nguyên thuỷ. Nhiều nhà nho cũ mộ khuynh hướng ưa thanh tĩnh, nhàn lạc của
Lão-Trang. Nhưng từ lâu Đạo giáo như một tôn giáo không tồn tại nữa, chỉ còn để lại di
sản trong tin ngưỡng dân gian.
Ki-tô giáo đến Việt Nam vào thế kỉ 17 như một khâu môi giới trung gian của văn hoá
phương Tây và của chủ nghĩa thực dân. Nó tranh thủ được cơ hội thuận lợi: chế độ phong
kiến khủng hoảng, Phật giáo suy đồi, Nho giáo bế tắc, để trở thành chỗ an ủi tinh thần
cho một bộ phận dân chúng nhưng trong một thời gian dài không hoà đồng được với văn
hoá Việt Nam. Trái lại, nó buộc phải để giáo dân lập bàn thờ trong nhà. Chỉ khi hoà Phúc
âm trong dân tộc, nó mới đứng được ở Việt Nam. Năm 1993 có khoảng 5 triệu tín đồ
công giáo và gần nửa triệu tín đố Tin Lành.
Các tôn giáo bên ngoài du nhập vào Việt Nam không làm mất đi tín ngưỡng dân gian bản
địa mà hoà quyện vào nhau làm cho cả hai phía đều có những biến thái nhất định. Ví dụ
Nho giáo không hạ thấp được vai trò người phụ nữ, việc thờ Mẫu ở Việt Nam rất thịnh
hành. Tính đa thần, dân chủ, cộng đồng được thể hiện ở việc thờ tập thể gia tiên, thờ
nhiều cặp thần thánh, vào một ngôi chùa thấy không chỉ thờ Phật mà thờ cả nhiều vị
khác, thấn linh có mà người thật cũng có. Và có lẽ chỉ ở Việt Nam mới có chuyện con
cóc kiện cả ông Trời, cũng như môtíp người lấy tiên trong các chuyện cổ tích. Đây chính
là những nét riêng của tín ngưỡng Việt Nam.

hai thành phần là văn học dân gian và văn học viết. Văn học dân gian chiếm vị trí quan
trọng ở Việt Nam, có công lớn gìn giữ phát triển ngôn ngữ dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn
nhân dân. Sáng tác dân gian gồm thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười,
câu đố, tục ngữ, ca dao với nhiều màu sắc các dân tộc ở Việt Nam.
Văn học viết ra đời từ khoảng thế kỉ 10. Cho đến đầu thế kỉ 20 cũng có hai bộ phận song
song tồn tại: chữ Hán (có thơ, văn xuôi, thể hiện tâm hồn, hiện thực Việt Nam nên vẫn là
văn chương Việt Nam) và chữ Nôm (hầu như chỉ có thơ, lưu truyền lại nhiều tác phẩm
lớn). Từ những năm 20 của thế kỉ 20, văn học viết chủ yếu sáng tác bằng tiếng Việt qua
chữ quốc ngữ, có sự cách tân sâu sắc về các hình thức thể loại như tiểu thuyết, thơ mới,
truyện ngắn, kịch và sự đa dạng về xu hướng nghệ thuật, đồng thời phát triển với tốc độ
nhanh, nhất là sau Cách mạng tháng Tám đi theo đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, hướng về cuộc sống chiến đấu và lao động của nhân dân.
Có thể nói ở Việt Nam, hầu như cả dân tộc sính thơ, yêu thơ, làm thơ - từ vua quan,
tướng lĩnh, sư sãi, sĩ phu đến sau này nhiều cán bộ cách mạng - và một cô thợ cấy, một cụ
lái đò, một anh lính chiến đều thuộc dăm câu lục bát, thử một bài vè.
Về nội dung, chủ lưu là dòng văn chương yêu nước bất khuất chống ngoại xâm ở mọi
thời kỳ và dòng văn chương phản phong kiến thường thông qua thân phận người phụ nữ.
Phê phán các thói hư tật xấu của xã hội cũng là mảng đề tài quan trọng. Các thi hào dân
tộc lớn đều là những nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.
Văn học Việt Nam hiện đại phát triển từ lãng mạn đến hiện thực, từ âm hưởng chủ nghĩa
anh hùng trong chiến tranh đang chuyển sang mở rộng ra toàn diện cuộc sống, đi vào đời
thường, tìm kiếm các giá trị đích thực của con người.
Văn học cổ điển đã tạo nên những kiệt tác như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Cung oán
ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Quốc âm thi tập
(Nguyễn Trãi) Việt Nam từ mấy thế kỉ trước đã có những cây bút nữ độc đáo: Hồ Xuân
Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà huyện Thanh Quan.
Văn xuôi hiện đại có những tác giả không thể nói là thua kém thế giới: Nguyễn Công
Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nam Cao Bên cạnh
đó là những nhà thơ đặc sắc như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế
Lan Viên, Tố Hữu Tiếc rằng hiện nay chưa có những tác phẩm lớn phản ánh đầy đủ,

Tôn Nữ Nguyệt Minh (Giải âm nhạc Tchaikovski). Tính đến đầu năm 1997, cả nước có
191 đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp và 26 xưởng phim, hãng phim, kể cả trung ương và
địa phương. Đã có 28 phim truyện, 49 phim thời sự-tài liệu và khoa học được nhận giải
thưởng quốc tế ở nhiều nước.
Văn hoá dân tộc cổ truyền hiện đứng trước sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá,
đứng trước những thách thức gay gắt của kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hoá. Nhiều
ngành văn hoá nghệ thuật đang có phần chững lại, tìm đường và tự cách tân. Hơn bao giờ
hết đặt ra vấn đề bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc, vấn đề lựa chọn các giá trị cũ, xây
dựng các giá trị mới. Bảo tồn nhưng vẫn phải là một nền văn hoá mở. Hiện đại nhưng
không xa rời dân tộc. Công cuộc đổi mới văn hoá đang tiếp tục
Vào WTO, nông nghiệp phải đổi mới
Một cơn lốc hàng ngoại nhập sẽ tràn vào thị trường khi VN gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO). Sản phẩm nông nghiệp là lĩnh vực được dự báo sẽ chịu ảnh hưởng
nhiều nhất trong khi sức cạnh tranh của nông sản VN quá thấp, nông dân thì yếu thế.
"Gia nhập WTO, chúng ta có thể thâm nhập thị trường nông sản thế giới với kim ngạch
548 tỷ USD/năm. Nông sản, thủy sản xuất khẩu của VN sẽ chịu mức thuế thấp nhất,
nhiều hàng rào phi thuế quan sẽ được bãi bỏ Thế nhưng nông dân sẽ là người chịu khổ
nhiều nhất", đó là nhận định của một chuyên gia kinh tế khi dự báo về tương lai của nông
sản VN.
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), việc giảm thuế nhập khẩu hàng
nông sản theo thỏa thuận với Mỹ mà trước hết là thịt bò, thịt heo sẽ khiến sản phẩm trong
nước cạnh tranh rất khó khăn, bởi giá thành chăn nuôi trong nước hiện rất cao. Hàng loạt
mặt hàng nông sản chế biến từ nhiều nước khác, nhất là từ Trung Quốc cũng có thể làm
cho nông sản nước ta cũng khó "địch" nổi ngay trên sân nhà.
Tiến sĩ Võ Mai, Chủ tịch Hiệp hội Trái cây VN nhận định: "Nông dân hiện nay hầu như
chưa có khái niệm gì về WTO, họ chỉ nghĩ đơn giản đó là công việc của Nhà nước. Như
vậy làm sao có thể cạnh tranh khi hội nhập? Muốn cạnh tranh, trước hết phải bắt đầu từ
chất lượng sản xuất, phải có sản phẩm chất lượng cao thì mới cạnh tranh được. Trong khi
đó thực trạng hiện nay của VN là sản xuất manh mún, chất lượng quá kém. Ngay khi
chưa gia nhập WTO, hiện nay trái cây VN đã bị lấn sân bởi trái cây ngoại rồi".

trị giá 600 triệu đồng, nếu VN thực hiện cam kết bỏ hỗ trợ xuất khẩu nông sản thì tôi nghĩ
không ảnh hưởng gì nhiều".
Theo bà Phạm Chi Lan, nguyên Phó chủ tịch VCCI: "Tôi nghĩ không nên quá lo ngại về
việc cắt trợ cấp xuất khẩu đối với nông nghiệp. Vì lâu nay khoản trợ cấp này có bao
nhiêu đâu, mà cách làm cũng không hiệu quả, thưởng thì chưa thỏa đáng mà thủ tục lại
phức tạp
Đây là dịp để chúng ta nhìn lại và làm cho cơ bản hơn. Chẳng hạn, Nhà nước phải đầu tư
nhiều cho công tác nghiên cứu phát triển mới mong có được những loại cây hay con
giống đủ khả năng cạnh tranh. Phải đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu thị trường.
Doanh nghiệp tham gia thị trường còn rất thiếu những thông tin loại này để lường được
chi phí, cách tiếp cận cho phù hợp Một điều tôi muốn nói nữa là lâu nay hỗ trợ của Nhà
nước nếu có cũng chủ yếu chảy vào các công ty nhà nước nhưng điều oái ăm là những
công ty này lại làm ăn không hiệu quả".
Cộng đồng kinh tế Asean và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam
Các nước ASEAN đã nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề hợp tác kinh tê khu vực
và đã có những nỗ lực để thực hiện sự hợp tác đó, tại Hội nghị cấp cao ASEAN tổ chức
tại Inđônêsia tháng 10-2003, các nhà lãnh đạo 10 nước ASEAN đã ký Tuyên bố hoà hợp
ASEAN II về xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN, cộng đồng an ninh ASEAN, cộng
đồng văn hoá ASEAN. Quyết tâm đưa ASEAN trở thành 1 cộng đồng kinh tế khu vực thể
hiện một sự hợp tác sâu hơn, mạnh hơn của các nước thành viên trong khu vực. Bài viết
này tập trung vào tìm hiểu đánh giá xem xét lộ trình hình thành cộng đồng kinh tế
ASEAN (ASEAN Economic Community-AEC) và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam.
Cơ hội triển vọng và thách thức của AEC
Hiện thực hoá AEC là mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế quốc tế trong Tầm nhìn
ASEAN 20020, nhằm tạo dựng khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả
năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hoá, dịch vụ, đầu tư sẽ được chu chuyển tự do, kinh
tế phát triển đồng đều, đói nghèo và chênh lệch kinh tế-xã hội giữa các nước được giảm
bớt. Nằm trong xu thế hợp tác toàn cầu, việc hình thành AEC là tất yếu của quá trình hội
nhập kinh tế sâu rộng của ASEAN, đồng thời là sự phản ứng của ASEAN trước những
biến động của tình hình khu vực và thế giới sau các khó khăn của vòng đàm phán Doha.

một thị trường chung Đông Á ? Điều đó đặt ra cho các nước ASEAN nguy cơ tiềm ẩn bị
hoà tan trong dòng chảy hội nhập.
Bốn là, xu hướng thành lập các cộng đồng kinh tế của các khu vực trên thế giới. Một EU
đang dần lấy lại vị thế của một đối trọng với Hoa Kỳ, khối thị trường chung Nam Mỹ
(MERCOSUR) đang chấn hưng và phát triển Điều này đòi hỏi các nước ASEAN phát
triển dựa vào nội lực là chủ yếu, trong bối cảnh đó AEC là một biện pháp để phát huy
tính năng động của các nền kinh tế khu vực, thu hút đầu tư nước ngoài, hỗ trợ các nước
thành viên trong khu vực. Hơn nữa trong bối cảnh nền kinh tế của khu vực bị ảnh hưởng
nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997-1998 đã chỉ ra cho các nước trong khu
vực thấy được rằng sự giàu có và thịnh vượng của các quốc gia tuỳ thuộc vào sự hợp tác
chặt chẽ của các quốc gia với nhau, tạo thành một thể thống nhất trong xu thế toàn cầu
hoá đang diễn ra mạnh mẽ.
Năm là, ASEAN không có trụ lực trung tâm hay còn gọi là “đầu tàu của khối” ASEAN
không có quốc gia và đồng tiền mạnh giữ vai trò dẫn dắt tiến trình hội nhập khu vực. Đây
là một yếu tố không thuận lợi trong tiến trình hội nhập của ASEAN so với các liên kết
kinh tế khác như Cộng đồng kinh tế châu Âu EU (trước khi hoà hợp chính thức sử dụng
đồng EURO) có Đức- đồng DEM và Pháp - đồng Fr, hay Khu vực mậu dịch tự do Bắc
Mỹ có Mỹ - đông USD. Ý tưởng cho ra đời một đồng tiền chung khu vực sẽ giải quyết
được phần nào vấn đề trên, đây thực sự là một thách thức cho các nước ASEAN vì các
nước này đều mang tính dân tộc rất cao trong lựa chọn hình ảnh đại diện của khối trên
đồng tiền.
Sáu là, sau sự kiện 11-9 diễn ra tại Mỹ, phong trào khủng bố đã lan rộng và các nước
ASEAN nơi tập trung cộng đồng người Hồi giáo lớn cũng nằm trong điểm ngắm của các
phần tư hồi giáo cực đoan mượn tôn giáo để phục vụ các mục đích kinh tế chính trị khác
nhau. Điều này đòi hỏi các nước trong khu vực ASEAN phải hợp tác xây dựng thành một
cộng đồng vững chắc để giải quyết các mâu thuận nội tại diễn ra trong nội bộ khối, trong
đó vấn đề kinh tế là vấn đề then chốt, đem lại lợi ích cho các thành viên cũng như cho cả
khu vực. Sự ra đời của AEC chắc chắn sẽ có tác động sâu rộng về nhiều mặt đối với
ASEAN và các nước thành viên, trong đó có Việt Nam.
Những vấn đề đạt ra đối với Việt Nam
Người thực hiện: Lê Phương Linh - K50A
Người hướng dẫn: PGS.TS .Đặng Văn Đức
Nghiên cứu về: "Phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lý KT – XH
Việt Nam (Địa lý 12 – THPT)" là rất cần thiết, có ý nghĩa to lớn về mặt khoa học
và thực tiễn.
Mục đích của đề tài là vận dụng các phương pháp thích hợp để khai thác kênh hình
trong dạy học Địa lý lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo
của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Địa lý ở trường THPT.
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng kênh hình trong dạy học
Địa lý lớp 12 ở trường THPT.
+ Hệ thống một số kỹ năng khai thác kênh hình cần rèn luyện cho học sinh trong học
tập Địa lý KT – XH Việt Nam.
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm để chứng minh tính hiệu quả của phương pháp sử
dụng kênh hình trong dạy học Địa lý.
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã xác định được cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc sử dụng kênh hình cho học sinh lớp 12 – THPT. Muốn sử dụng kênh hình các em
phải hiểu kênh hình là gì, kênh hình có vai trò như thế nào trong quá trình học tập
địa lý? Các em cần có các kỹ năng khai thác bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh,v.v
Đối với việc rèn luyện kỹ năng sử dụng kênh hình cho học sinh có nhiều hình thức
khác nhau như trong truyền thụ kiến thức mới, ôn tập, củng cố bài ở trên lớp và làm
bài tập ở nhà Chúng tôi đưa ra các phương pháp sử dụng kênh hình nhằm giúp các
em khai thác được một cách triệt để nhất các kiến thức địa lý thông qua hệ thống
kênh hình. Lúc này kênh hình không chỉ là phương tiện trực quan nữa mà còn là
nguồn kiến thức quan trọng như cuốn SGK Địa lý thứ hai của học sinh.
Để biết được tính hiệu quả của phương pháp trên, chúng tôi đã tiến hành thực
nghiệm sư phạm ở một số trường phổ thông. Kết quả thu được cho thấy nhờ có
phương pháp sử dụng kênh hình mà chất lượng giảng dạy và học tập địa lý đựơc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status