Tiểu luận phân tích môi trường vĩ mô trong kinh doanh quốc tế potx - Pdf 21

Báo cáo chuyên đề
Chuyên đề 1:Môi trường văn hoá,môi trường chính trị,pháp luật trong kinh doanh quốc
tế.

Trong xu hướng toàn cầu hoá,một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường
quốc tế phải đối mặt với vô số những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của mình.
Trong những yếu tố đó văn hoá, chính trị và luật pháp là những vấn đề đáng quan
tâm . Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh quốc tế phụ
thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu về văn hoá hay các chính sách, các luật
lệ của nước sở tại hay không. Cho dù doanh nghiệp đóng ở đâu cũng bị ảnh hưởng
của nền văn hoá quốc gia và hệ thống luật pháp,các chính sách của chính phủ nước
đó. Vì vậy,ta phải có những hiểu biết rõ ràng về môi trường văn hoá,chính trị,pháp
luật trong kinh doanh quốc tế trước khi tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm
giảm bớt những rủi ro gặp phải.
Kinh doanh quốc tế luôn tiền ẩn nhiều rủi ro.
1,Môi trường văn hoá:
Khi tham gia kinh doanh quốc tế, các công ty thường phải đối mặt với việc đưa ra quyết
định có liên quan đến tiêu chuẩn hóa hay thích nghi hóa. Việc này sẽ có liên quan đến
việc điều chỉnh sản phẩm và hoạt động của họ cho phù hợp với những điều kiện địa
phương .
Vậy văn hoá là gì? Và vì sao phải cần thiết nghiên cứu văn hoá địa phương?
Trước khi giải quyết vấn đề này ta hãy đến với câu chuyện của Disney tại Pháp.
Cho tới năm 1992 Walt Disney Company luôn thành công với các công viên chủ đề
Disneyland ở Anaheim, California (1955), ở Florida (1970) và ở Tokyo (1983). Sau
thành công ở Tokyo, năm 1986 những người điều hành Disney nhắm tới Paris, trung tâm
văn hóa và lối sống châu Âu. Khi mới nghe phong phanh ý định mở một công viên chủ
đề khác của Disney, hơn 200 địa phương trên toàn thế giới đã đề nghị Disney đặt công
viên tại thành phố quê hương mình. Paris đã được chọn vì hơn 17 triệu dân châu Âu sống
trong vòng bán kính hai giờ xe hơi tới Paris, 310 triệu người khác có thể bay tới đó trong
quãng thời gian đó trở xuống. Hơn nữa, chính phủ Pháp đã lôi kéo Disney bằng đủ mọi
biện pháp khuyến khích với tổng giá trị hơn 1 tỷ USD vì hy vọng rằng dự án sẽ tạo ra

đều đổ xô đi ăn vào đúng 12:30 làm nhà hàng đông nghẹt. Nhân viên của Disney phải cố
trấn tĩnh đám đông cáu kỉnh và đề nghị họ điều chỉnh giờ ăn vì nhà hàng phục vụ từ 1:00
đến 14:00.
Ngay cả đối với đội ngũ nhân viên, việc Disney phớt lờ văn hoá châu Âu và những chuẩn
mực làm việc của Pháp đã gây thêm nhiều vấn đề nữa. Công ty này, vốn rất tự hào về
ngoại hình sạch bong kiểu Mỹ của nhân viên, đã đưa ra một quy định ngặt nghèo về trang
phục cho nhân viên bản địa, mày râu nhẵn nhụi, áp đặt độ dài tối đa của móng tay, hạn
chế kích thước của khuyên tai. Nhân viên và công đoàn đã phản đối quy định này, coi đó
là sự can thiệp trang phục thường ngày của người Pháp. Tinh thần mọi người đều bị sụt
giảm. Chỉ trong vòng chín tuần đầu tiên với khoảng 1.000 nhân viên ( chiếm 10% tổng
số) đã bỏ việc. Họ nói rằng việc huấn luyện cứ như là “tẩy não” và mấy người Mỹ chẳng
hiểu gì về người châu Âu cả. tuy nhiên vấn đề lớn nhất của Euro Disneyland là người
châu Âu dường như chỉ coi công viên là nơi đi chơi trong ngày chứ không phải chốn nghỉ
ngơi nên họ thường chỉ ở 1 – 2 ngày. Trong khi đó Disney dự tính khách đến nghỉ dài
ngày nên đã đầu tư hàng tỷ USD xây những khách sạn sang trọng gần công viên và hầu
như lúc nào khoảng một nửa số phòng khách sạn là trống. số khách tham quan người
Pháp cũng không đông như Disney dự tính : năm 1994 chỉ chiếm 40% trên tổng số. nhiều
khách du lịch lại là người Mỹ sống ở châu Âu và người Nhật đi nghỉ ở châu Âu !
Kết quả là tính đến cuối năm 1994, Euro – Disneyland lỗ tổng cộng 2 tỷ USD.
Vậy nguyên nhân dẫn đến những thất bại của Disney tại Pháp là gì?
Một nhà phân tích chứng khoán Mỹ chuyên theo dõi công ty này nói rằng “bình thường
Disney không mắc quá nhiều chi tiết sai lầm như thế, có lẽ rốt cuộc thì thế giới không
hoàn toàn nhỏ như người ta vẫn nói. Sự thiếu nhạy cảm về mặt văn hóa của công ty đã
khiến họ phải tốn rất nhiều tiền và mất đi thiện chí. Tôi nghĩ đây là một lời nhắc nhở tốt
cho bất kỳ công ty hay cá nhân nào làm ăn kinh doanh ở nước ngoài- hiểm hoạ thường
nằm trong những chi tiết văn hóa. Chúng có thể khiến bạn thành công hay thất bại”. Đối
với Disney cuối cùng thì rồi mọi việc cũng kết thúc tốt đẹp. Sau khi thực hiện một số
“điều chỉnh văn hóa” lớn, EuroDisney không còn bị thua lỗ nữa.
Rốt cuộc Văn hóa là gì? Thế nào là văn hóa và nền văn hóa?
* Văn hóa là một phạm trù dùng để chỉ các giá trị, tín ngưỡng, luật lệ và thể chế do một

trên thế giới gặp gỡ nhau, họ mang theo các nền tảng giá trị, kỳ vọng và các cách thức
giao tiếp khác nhau. Sự khác nhau này sẽ dẫn đến các xung đột về văn hóa và do đó gây
ra những cú sốc trước khi có thể thích nghi được với một nền văn hóa mới. Hiểu nền văn
hóa là quan trọng khi công ty kinh doanh trong nền văn hóa đó. Điều đó càng trở nên
quan trọng hơn khi công ty hoạt động ở nhiều nền văn hóa khác nhau.
Các thành tố của văn hóa
a. Thẩm mỹ
Thẩm mỹ là những gì một nền văn hóa cho là đẹp khi xem xét đến các khía cạnh
như nghệ thuật (bao gồm âm nhạc, hội họa, nhảy múa, kịch nói và kiến trúc); hình ảnh
thể hiện gợi cảm qua các biểu hiện và sự tượng trưng của các màu sắc.
b. Giá trị và thái độ
* Giá trị
Là những gì thuộc về quan niệm, niềm tin và tập quán gắn với tình cảm của con
người. Các giá trị bao gồm những vấn đề như trung thực, chung thủy, tự do và trách
nhiệm.
Các giá trị là quan trọng đối với kinh doanh vì nó ảnh hưởng đến ước muốn vật
chất và đạo đức nghề nghiệp của con người
* Thái độ
Là những đánh giá, tình cảm và khuynh hướng tích cực hay tiêu cực của con
người đối với một khái niệm hay một đối tượng nào đó.
Ví dụ, một người Mỹ thể hiện thái độ nếu họ nói: “ Tôi không thích làm việc cho
công ty Nhật vì tại đó tôi không được ra quyết định một cách độc lập”. Thái độ phản ánh
các giá trị tiềm ẩn. Trong trường hợp này, thái độ của người Mỹ xuất phát từ sự coi trọng
tự do cá nhân.
- Thái độ đối với thời gian
Người dân ở nhiều nước Mỹ- Latinh và khu vực Địa Trung Hải thường không coi
trọng vấn đề thời gian. Các kế hoạch của họ đều khá linh hoạt, họ thích hưởng thụ thời
gian hơn là tiêu tốn nó cho những kế hoạch cứng nhắc. Ngược lại, đối với người Mỹ, thời
gian chính là nguồn của cải quý giá giống như nước và than đá, những thứ mà con người
có thể sử dụng tốt và cũng có thể sử dụng không tốt: “Thời gian là tiền bạc”, “Cuộc đời

thuật hay sự chết chóc ở các nước Châu Phi.
=> Với những quốc gia khác nhau thì phong tục, tập quán, thói quen, giá trị và giá trị kỳ
vọng về mặt xã hội cũng sẽ rất khác nhau. Điều đó tạo nên những rào cản trong thương
mại quốc tế và đôi khi cũng làm mất tác dụng của những chiến dịch thâm nhập thị trường
bài bản.
* Một hãng bột giặt dùng bức tranh quảng cáo: Hộp bột giặt ở giữa, quần áo sạch bên
phải, quần áo bẩn bên trái. Loại bột giặt này không bán được ở Trung Đông vì họ quên
mất rằng người dân địa phương đọc từ phải qua trái.
* Một ví dụ khác: quảng cáo nước tẩy rửa có nội dung một cô gái nhỏ nhắn đang dọn dẹp
đống đồ bừa bộn do anh trai của mình bày ra rất nhanh và sạch sẽ. Nhưng quảng cáo này
đã bị phản đối kịch liệt ở Canada vì với họ, như thế là phân biệt đối xử, là trọng nam
khinh nữ.
* Hay như một hãng máy bay nọ đưa quảng cáo trên tờ báo Ả-rập Saudi là sẽ bố trí các
nữ nhân viên trẻ đẹp phục vụ rượu cho khách. Kết quả là phần lớn các hành khách tại đây
đã hủy bỏ chuyến bay ngay lập tức với lý do rất đơn giản: Phụ nữ bỏ mạng che mặt
không được ở cùng với đàn ông và rượu là điều cấm kỵ đối với người Ả-rập.
d. Cấu trúc xã hội
Cấu trúc xã hội thể hiện cấu tạo nền tảng của một nền văn hóa, bao gồm các nhóm
xã hội, các thể chế, hệ thống địa vị xã hội, mối quan hệ giữa các địa vị này và quá trình
qua đó các nguồn lực xã hội được phân bổ.
* Các nhóm xã hội
Con người trong tất cả các nền văn hóa tự hội họp với nhau thành các nhóm xã
hội rất đa dạng. Những tập hợp do hai hay nhiều người xác định nên và có ảnh hưởng qua
lại với người khác. Các nhóm xã hội đóng góp vào việc xác định từng cá nhân và hình
ảnh của bản thân họ. Hai nhóm đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ảnh hưởng đến
các hoạt động kinh doanh ở mọi nơi là gia đình và giới tính.
* Địa vị xã hội
Một khía cạnh quan trọng khác của cấu trúc xã hội là cách thức một nền văn hóa
phân chia dân số dựa theo địa vị xã hội (theo những vị trí trong cấu trúc). Có nền văn hóa
chỉ có một số ít địa vị xã hội, những cũng có nền văn hóa có nhiều địa vị xã hội. Quá

trên trái đất, coi cái gì đến sẽ đến mà cụm từ này thể hiện đã được đưa vào mọi thứ từ lịch
trình máy bay cho tới tốc độ các cuộc đàm phán thương mại.
Ví dụ Như trường hợp của một chủ ngân hàng người Đức kể lại thất bại của mình trong
chuyến đi gần đây sang Việt Nam để đàm phán một thỏa thuận tài chính cho một nhà
máy chế tạo ở nước ta.
Người chủ ngân hàng nói “người đàm phán với tôi rất tự hào về thân thế cộng sản của
mình, nhưng đồng thời cũng tuyên bố mình là con người của thập niên 90, đã chuyển
mình theo phong cách kinh doanh phương Tây. Các cuộc đàm phán dường như phải kéo
dài hàng tháng và không một ai sẵn sàng đưa ra quyết định. Tôi chỉ cho rằng đó là sự
không hiệu quả của những người cộng sản. Tôi bắt đầu mất kiên nhẫn. Dường như họ
không hiểu được rằng thoả thuận này có thể đem lại rất nhiều tiền cho nhà máy của họ,
cũng như cho ngân hàng của tôi và cho tôi. Tôi lớn tiếng bày tỏ quan điểm của mình. Tôi
đập mạnh nắm đấm xuống bàn, tôi mất kiểm soát. Những ngày sau đó bên Việt Nam
ngừng đàm phán và gợi ý tôi nên về nước. Thật là những người cộng sản điển hình, tôi
nghĩ, họ sẽ không được gì cả”.
Nhưng không phải chủ nghĩa cộng sản hay thậm chí cũng không phải sự không hiệu quả
trong cách làm việc của người Việt Nam đã phá hoại chuyến đi này. Mà chính là sự khác
biệt về văn hoá,tư tưởng. Do nước ta chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi triết lý Khổng Tử tồn
tại từ nhiều thế kỷ, người dân Việt Nam luôn hướng vào sự hoà thuận coi sự hài hoà, cân
bằng có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Người chủ ngân hàng Đức cũng đã nhận định chính việc không hiểu được văn hoá Việt
Nam, ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử đối với nhận thức của người Việt Nam là
nguyên nhân dẫn đến thất bại của ông. Ở Việt Nam việc ra quyết định thường chậm một
phần là do mọi người thường đưa ra quyết định theo nguyên tắc đồng thuận. Sự kiên nhẫn
và bình tĩnh là rất cần thiết trong các tình huống khó khăn-và các cuộc nói chuyện liên
quan đến hợp đồng. Cuối cùng, người Việt Nam thường không đề cao những người mất
kiên nhẫn (sai lầm thứ nhất của người chủ ngân hàng Đức) hoặc có vẻ bề ngoài ích kỷ
(sai lầm thứ hai của người chủ ngân hàng Đức-thông qua việc nhấn mạnh việc sẽ kiếm
được bao nhiều tiền nếu như thoả thuận được ký kết). Nếu người chủ nhà băng chịu
nghiên cứu trước một chút về bối cảnh văn hóa Việt Nam thì có thể anh ta đã đạt được

trực tiếp với nhau. Nếu không hiểu bối cảnh văn hóa trong đó những cuộc giao tiếp phi
ngôn ngữ dạng này xảy ra, ta không những có thể gặp phải rủi ro là không hiểu được
người đối thoại với mình mà còn có thể phát đi những tín hiệu hoàn toàn sai lạc.
Điều này có thể đúng thậm chí trong những tình huống mà hai người nói gần như
một ngôn ngữ-như trường hợp sau đây giữa một doanh nhân nữ người Mỹ và một doanh
nhân nam người Anh.
Nữ doanh nhân người Mỹ nói “ chúng tôi dường như đã rất hiểu nhau qua điện
thoại. Thật là một sự giải thoát sau những năm phải sống ở Đông Âu để giờ đây được
thực sự làm ăn với người Anh. ít nhất chúng tôi cũng nói cùng một ngôn ngữ, chúng tôi
suy nghĩ giống nhau. Tôi đã tin tưởng anh ta”.
Mọi việc diễn ra xuôn sẻ cho tới khi doanh nhân người Mỹ bay tới Luân đôn gặp
trực tiếp anh chàng đồng nghiệp người Anh để ký một hợp đồng nghiên cứu và phát triển.
Cuộc gặp đầu tiên đã không diễn ra một cách suôn sẻ. Cô nói “có điều gì đó không ổn,
trong suốt buổi thuyết trình, không một ai trong số những đối tác Anh, kể cả người mà tôi
đã thường xuyên gọi điện thoại, nhìn vào mắt chúng tôi. Dường như họ đang che giấu
điều gì. Sau rất nhiều cuộc thảo luận nội bộ, chúng tôi đã quyết định ký hợp đồng, nhưng
rất nhiều người trong số chúng tôi cảm thấy không được thoải mái. Thậm chí ngay cả khi
chúng tôi nói chuyện điện thoại sau đó, tôi vẫn không thể quên được việc họ đã không
nhìn vào mắt mình. Việc này gần như đã phá huỷ mối quan hệ giữa chúng tôi và suýt nữa
thì làm hỏng công việc”.
Tất cả những nghi ngờ này có thể tránh được nếu như doanh nhân người Mỹ nhận
thức được một sự khác biệt tinh tế về văn hóa: Trong khi người Mỹ cho rằng nhìn trực
tiếp vào mắt người nào đó trong các cuộc đàm phán thể hiện sự chân thành và thành thực,
người Anh lại cho rằng khi chưa thiết lập được một mối quan hệ quen thuộc hơn thì hành
động này thể hiện sự bất lịch sự.
Ngoài ra,những cử chỉ, điệu bộ trong giao tiếp cũng có ý nghĩa khác nhau ở mỗi nước.
Ví dụ :
• Một cái gật đầu nghĩa là không ở Bun-ga-ri và bắt tay từ phía này sang phía khác có
nghĩa là đồng ý/có.
* Ký hiệu “okay” (đồng ý/tán thành) thường được sử dụng ở Mỹ (ngón cái và

vào thương mại quốc tế. Điều này chứng tỏ rằng ngôn ngữ dành cho quảng cáo là con
dao hai lưỡi, chỉ cần doanh nghiệp mắc phải những điều tối kỵ trong ngôn ngữ một vùng
thì dù ý đồ quảng cáo của doanh nghiệp ấn tượng đến mấy cũng sẽ bị phá sản khi chuyển
sang ngôn ngữ vùng đó. Cách tốt nhất để có thể vượt qua rào cản này là doanh nghiệp
nên tìm người quản lý hiểu rõ ngôn ngữ và tập quán của nước "chủ nhà," nhưng điều này
cũng không phải là dễ.
Như vậy, hiểu và lưu ý những sự khác biệt về văn hóa là những điều kiện tối quan trọng
để tìm kiếm sự thành công trong những hoạt động thương mại quốc tế và những chuyến
đi nước ngoài vì mục tiêu kinh doanh. Thiếu sự hiểu biết sâu sắc về thực tế kinh doanh,
tập quán xã hội và nghi thức của một quốc gia có thể làm giảm vị trí của công ty trên thị
trường, khó thực hiện được thành công các mục tiêu và cuối cùng là dẫn đến thất bại.
h. Giáo dục
* Trình độ giáo dục mỗi nước là rất khác nhau. Tìm hiểu kĩ vấn đề này sẽ giúp ta có
những kế hoạch,chiến lược phù hợp trước khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại
một quốc gia,như chiến lược nguồn nhân lực.
* Hiện tượng “chảy máu chất xám”.
Một số nền văn hóa coi trọng giáo dục chính qui hơn các hình thức giáo dục khác. Hiểu
được thái độ này và điều chỉnh một bài thuyết trình hay thậm chí thiết kế một chiếc danh
thiếp kinh doanh (liệt kê các chứng chỉ giáo dục và những bằng cấp cao) có thể ngay lập
tức khiến cho các nhà kinh doanh giành được sự kính trọng. Tuy nhiên, nếu ta hãnh diện
về bằng cấp trong một nền văn hóa kinh doanh không quan tâm nhiều lắm tới những yếu
tố này, ta có nguy cơ bị coi là một người ba hoa kiêu căng. Hiểu một xã hội đánh giá giáo
dục như thế nào có thể giúp bạn xác định một đối tác kinh doanh xử lý thông tin như thế
nào và bạn cần phải chuẩn bị một bài thuyết trình hoặc một đoạn rao hàng như thế nào.
Một công ty xuất thân từ một xã hội coi trọng giáo dục cũng rất có thể quan tâm đến loại
hình đào tạo đặc biệt mà một doanh nghiệp nước ngoài có thể cung cấp.
Môi trường tự nhiên và văn hóa vật chất
* Môi trường tự nhiên
Mặc dù văn hóa bị ảnh hưởng bởi môi trường tự nhiên, nhưng điều đó không
được xác định một cách trực tiếp. Hai khía cạnh của môi trường tự nhiên (khí hậu và địa

b. Phân loại hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị trên thế giới bao gồm 3 hệ ý thức chính trị cơ bản. Mỗi ý thức
hệ chính trị có những đặc thù riêng và có những quan điểm nhất định đối với xã hội và
các hoạt động kinh tế.
Một thái cực là chủ nghĩa vô chính phủ: Theo thái cực này chỉ có các cá nhân và
các nhóm người kiểm soát toàn bộ hoạt động chính trị của một dân tộc. Nó cho rằng sự
tồn tại của Chính phủ là không cần thiết vì làm tổn hại đến tự do cá nhân.
Một thái cực khác là chế độ chuyên chế: Cho rằng mọi hoạt động trong cuộc sống
của con người phải được kiểm soát có hiệu quả bởi một hệ thống chính trị của một quốc
gia. Chế độ chuyên chế không quan tâm đến tự do cá nhân.
Ở thái cực khác là hệ thống chính trị đa nguyên: Cá nhân và các tổ chức xã hội
đều đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chính trị quốc gia. Mỗi một nhóm bao gồm
những người với sự khác nhau về màu da, dân tộc, tầng lớp, lối sống. họ tham gia vào
chính trị với mục đích chia sẻ quyền lực với nhóm người khác.
* Chế độ dân chủ
Chế độ dân chủ là một hệ thống chính trị mà ở đó những người đứng đầu chính
phủ được bầu cử trực tiếp bởi người dân hoặc những đại cử tri. Nền tảng của chế độ dân
chủ được bắt nguồn từ người Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp cố gắng đạt được nền dân
chủ thuần túy, ở đó mọi người dân được tự do và tích cực tham gia vào chính trị
Tất cả những nền dân chủ đại nghị thỏa mãn 5 quyền tự quyết:
• Quyền phát ngôn: Trong hầu hết nền dân chủ, quyền tự do ngôn luận cho phép
người ta có quyền bày tỏ quan điểm một cách tự do và không sợ bị trừng phạt.
• Bầu cử theo nhiệm kỳ: Mỗi người bầu ra phục vụ trong một thời gian nhất định.
• Quyền của các dân tộc thiểu số: Nền dân chủ cố gắng duy trì hòa bình giữa các
nhóm người khác nhau về văn hóa, tôn giáo và màu da.
• Quyền sở hữu và quyền công dân: Quyền công dân bao gồm quyền tự do ngôn
luận, quyền tự do chính trị, quyền được đối xử công bằng. Quyền sở hữu là những đặc
quyền và trách nhiệm về tài sản (nhà cửa, ô tô, kinh doanh…)
• Quyền tự quyết: Là một quyền của Chính phủ thực thi những đạo luật đã được
thông qua. Những người làm chính trị, có xu hướng thực hiện những quyết định theo

- Sự liên kết kém chặt chẽ giữa các quốc gia.
Ví dụ cuộc khủng hoảng chính trị tại Thái Lan năm 2008 cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt
động kinh doanh của ngành du lịch và ngành hàng không Việt Nam.Cùng với số hành
khách VN bị tắc ở Bangkok không về được, rất nhiều khách du lịch quốc tế quá cảnh tại
đây cũng hủy tour vào VN. Số khách đang du lịch ở VN cũng nháo nhào đề nghị phía lữ
hành đổi vé, bay sang Singapore, Malaysia để về nước. Khủng hoảng chính trị tại Thái
Lan khiến ngành du lịch và hàng không VN thiệt hại không nhỏ.
Công ty lữ hành Hanoitourist, mạnh nhất nhì Hà Nội về tour hàng không từ Bangkok
sang, thời điểm đó cũng có đoàn gần 20 khách bị mắc kẹt lại,không về nước được theo
đúng chương trình.Đồng thời, gần 100 khách của Hanoitourist chuẩn bị từ Bangkok sang
cũng báo hủy vô thời hạn vì chẳng ai còn tâm lý chơi bời trong lúc trị an vô cùng rối ren.
2.2. Hệ thống luật pháp :
Luật pháp là một trong những yếu tố nan giải nhất trong kinh doanh quốc tế.Thất bại
trong việc nghiên cứu yếu tố môi trường pháp luật và các ảnh hưởng của nó đến các hoạt
động kinh doanh của mình sẽ dẫn đến những hậu quả không lường trên thị trường quốc
tế. Trên thực tế đã có nhiều bài học đau đớn xảy ra đối với các doanh nghiệp làm công
tác xuất khẩu không nghiên cứu kỹ môi trường pháp luật:
Những viễn cảnh về thị trường luôn là sức hút
đối với các công ty nhưng
Thời báo Kinh tế Việt Nam số ra ngày 12.1.2001 đưa tin: Đêm ngày 5.1.2001 cảnh sát
Indonesia đã bắt giữ 3 giám đốc điều hành của công ty bột ngọt lớn nhất của Nhật đóng
tại Indonesia PT Ajinomoto vì đã sử dụng một loại enzim của lợn để sản xuất mì chính,
vi phạm quy định về thực phẩm của đạo Hồi. Công ty này đã bị đình chỉ hoạt động trong
3 tuần. Chính phủ Indonesia và Hội đồng Hồi giáo Ulamad Indonesia (MUI) đã quyết
định buộc công ty PT Ajnomoto phải mua lại toàn bộ số mì chính đang lưu hành trên thị
trường (khoảng 3.000 tấn). Vụ này đã gây thiệt hại cho công ty hàng chục tỷ Rupiad và
còn bị đe doạ rút giấy phép hoạt động tại Indonesia và vào thời điểm đó giá cổ phiếu của
hãng Ajinomoto tại thị trường chứng khoán Tokyo đã sụt tới 30 điểm.
Một bài học khá đau đớn đối với một công ty XNK Đà Nẵng là khi xuất khẩu một lô
hàng mây tre đan sang Australia mà không biết quy định về pháp lý là hàng hoá phải

- Các tiền lệ: Các quy ước có tính chất bắt buộc xuất hiện trước khi có tòa án.
- Cách sử dụng: Là những cách mà theo đó luật pháp được áp dụng cho một tình
huống cụ thể.
* Luật dân sự
Luật dân sự xuất hiện ở Rome vào thế kỷ XV trước công nguyên, nó là bộ luật ra
đời và thông dụng nhất trên thế giới. Luật dân sự dựa trên các quy định chuẩn tắc bằng
văn bản.
* Luật mang tính chất tôn giáo
Luật dựa trên nền tảng tôn giáo được gọi là luật thần quyền. Có 3 luật thần quyền
nổi lên đó là Luật Đạo Hồi, đạo Hin-đu, luật Do Thái.
b.Các vấn đề pháp luật toàn cầu
* Tiêu chuẩn hóa
Bởi vì hệ thống là khác nhau ở mỗi nước cho nên các công ty thường thuê các
chuyên gia pháp luật ở những nước mà họ kinh doanh. Điều này có thể làm tăng chi phí.
Nhưng có một điều thuận lợi, hệ thống luật pháp giữa các nước đều có chuẩn mực chung,
tuy nhiên, chuẩn mực đó không phải hoàn toàn đồng nhất.
Ví dụ: Trường hợp 480 tấn dưa hấu của Việt Nam xuất khẩu sang Indonesia bị trả lại
cũng là do không biết về quy định pháp lý đối với hàng hoá tươi sống nhập khẩu vào
Indonesia. Hàng hoá tươi sống nhập khẩu vào Indonesia phải có giấy chứng nhận của
Công ty giám định Thuỵ Sĩ (SGS). Nhưng khi đưa dưa hấu vào Indonesia, Việt Nam lại
lấy chứng nhận của Công ty giám định Việt Nam VINACONTROL.
* Quyền sở hữu trí tuệ
.Tài sản là kết quả do hoạt động trí tuệ của con người và những nguồn lực đó gọi là tài
sản trí tuệ. Nó bao gồm: tiểu thuyết, phần mềm máy tính, các bản thiết kế vè máy móc và
các bí quyết như công thức làm nước giải khát của hãng Coca-cola. Xét về mặt kỹ thuật,
nó là kết quả của sản phẩm công nghiệp (hoặc là phát minh sáng chế hoặc là nhãn hiệu
đăng ký) hoặc bản quyền và vấn đề hạn chế độc quyền.
Nhiều đạo luật bảo vệ quyền tài sản- nó chứng nhận về nguồn gốc và bất kỳ một thu nhập
nào được tạo ra. Giống như các tài sản khác, trí tuệ cũng được mua bán, cấp giấy phép
nhằm thu được phí và các quyền khác.

bắt những công ty Nhật trả gần 300 triệu USD cho tiền bản quyền.
Khi một công ty phát minh ra một sáng kiến thì cần phải có được bằng sáng chế. Mục
đích của việc lấy bằng sáng chế là để có khả năng sử dụng phát minh của mình trong
thương mại và ngăn chặn những công ty khác quấy nhiễu. Không phải mọi sáng kiến đều
được cấp bằng sáng chế. Bằng sáng chế chỉ được cấp khi mặt hàng phát minh đó thoả
mãn được một số tiêu chuẩn như mới, có ích, sáng tạo và có hiệu quả kinh tế.
Ví dụ :Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam cũng đã từng hứng chịu những rủi ro pháp lý
trong thương mại quốc tế khi bị nước ngoài đăng ký mất bản quyền nhãn hiệu trên thị
trường quốc tế. Nhãn hiệu Vinataba tuy đã được đăng ký trong nước nhưng chưa đăng ký
ở nước ngoài, khi tiến hành đăng ký ở nước ngoài thì phát hiện đã bị một công ty của
Indonesia chiếm đoạt tại 13 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Điều này đã gây tác hại ngiêm trọng đến quyền lợi của DN. Sản phẩm Vinataba không
thể xuất khẩu sang các nước đã bị đăng ký tước đoạt thương hiệu. Đồng thời, công ty tại
những nước này có thể sản xuất Vinataba giả để đưa vào Việt Nam. Ngoài ra, những ảnh
hưởng đến uy tín và thương hiệu của DN và ngành thuốc là Việt Nam không phải là nhỏ.
Tổng Công ty Thuốc lá đã thực hiện việc đòi lại nhãn hiệu của mình nhưng đến nay mới
chính thức thành công trên thị trường Campuchia, thị trường Lào và Trung Quốc đang
trong quá trình xử lý. Việc khiếu kiện để đòi lại nhãn hiệu mới chỉ thực hiện ở 3 nước
nhưng đã rất khó khăn và tốn kém.
Luật sáng chế khác nhau rất nhiều giữa các nước. Chúng ta không nên vội kết luận rằng
vấn đề khó khăn trong việc cấp bằng sáng chế chỉ giới hạn ở các nước kém phát triển, các
nước đang phát triển hay các nước có nền kinh tế chỉ huy. Các nước công nghiệp phát
triển cũng loại trừ một số mặt hàng ra khỏi danh mục những mặt hàng được bảo hộ. Nhật
với ý đồ đẩy mạnh ngành công phần mềm máy tính đã đề nghị sửa đổi luật bản quyền để
cho phép các công ty Nhật có quyền sao chép hợp pháp một phần của chương trình phần
mềm hiện có mà không cần xin phép người thiết kế phần mềm đầu tiên. Canada là nước
công nghiệp duy nhất yêu cầu cấp giấy phép cho việc sản xuất và buôn bán thuốc
* Sự đảm bảo và trách nhiệm đối với sản phẩm
Hầu hết các quốc gia đều có đạo luật bảo vệ sản phẩm, luật này đưa ra các tiêu
chuẩn áp dụng cho các nhà sản xuất. Trách nhiệm đối với sản phẩm yêu cầu các nhà sản

* Đạo luật chống độc quyền
Các đạo luật nhằm chống các công ty ấn định giá cả, chiếm lĩnh thị trường và tận
dụng những lợi thế do độc quyền gọi là đạo luật chống độc quyền. Những đạo luật này cố
gắng cung cấp cho khách hàng những sản phẩm đa dạng ở mức giá hợp lý.
Các công ty bị chế tài bởi luật chống độc quyền cho rằng họ bị mất lợi thế do phải
chia sẻ thị phần với các đối thủ cạnh tranh trong nước. Vì vậy, những hãng hoạt động ở
những nước có đạo luật chống độc quyền thường được miễn thuế trong một số giao dịch
quốc tế. Một số tiểu thương cho rằng họ có thể có điều kiện cạnh tranh tốt hơn đối với
các công ty quốc tế lớn nếu không vi phạm luật chống độc quyền.
Như vậy, hệ thống pháp luật khác nhau tác động khác nhau đối với các hoạt động kinh
doanh. Việc tác động qua lại giữa môi trường pháp luật trong nước, môi trường pháp luật
ngoài nước và môi trường pháp luật quốc tế tạo ra vô số những cơ hội mới song cũng gây
nên không ít những khó khăn, chướng ngại vật mới cho kinh doanh
Kết luận, môi trường văn hoá,chính trị và pháp luật rất đa dạng và phức tạp. Một công ty
hoạt động trên quy mô quốc tế không những chịu tác động của nền văn hoá và hệ thống
chính trị, luật pháp nước mình mà còn bị ảnh hưởng bởi nền văn hoá,hệ thống chính trị và
phải tuân thủ luật pháp của nước sở tại. Vì thế việc tìm hiểu kĩ về môi trường văn
hoá,chính trị,luật pháp trong kinh doanh quốc tế là rất cần thiết. Một doanh nhân hoạt
động trên phạm vi quốc tế cần phải hiểu rõ luật pháp nước sở tại liên quan đến cạnh
tranh, định giá, phân phối, trách nhiệm sản phẩm, bằng sáng chế, nhãn hiệu và quảng cáo
v.v…và có những hiểu biết về nền văn hoá,những nét đặc trưng trong phong cách giao
tiếp,kinh doanh nhằm tránh những rủi ro. Ngoài việc phải chú ý đến luật pháp nước mình,
luật pháp nước sở tại, các nhà kinh doanh quốc tế còn cần phải biết đến những quy định
có tính bắt buộc của các điều ước quốc tế hữu quan. Làm được những điều nêu trên, các
nhà hoạt động kinh doanh quốc tế mới có cơ hội thành công trên thương trường quốc tế .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status