Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 1
Tiểu luận Phân tích môi trường Singapore và phương
thức xâm nhập cho cà phê hạt Việt Nam
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 2
3. ĐỐI THỦ CẠNH TRANH 21
4. PHÁP LÝ 21
1. Về phía Việt Nam: 21-24
2. Về phía Singapore: 25
PHẦN IV: NHỮNG PHƯƠNG THỨC XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG DÀNH CHO
NGÀNH CÀ PHÊ TẠI SINGAPORE. 25
I. CÁC PHƯƠNG THỨC XÂM NHẬP. 25
1. Xuất khẩu: 25
2. Liên minh chiến lược 26
3. Liên doanh: 27
II. PHƯƠNG THỨC LỰA CHỌN XÂM NHẬP CÀ PHÊ SANG
SINGAPORE…………………………………………………………… 27-29
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 4 LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với nhịp độ toàn cầu hóa, sự giao lưu, kinh doanh quốc tế giữa các quốc
gia ngày càng phát triển.Việt Nam cũng đang hòa vào dòng chảy đó của nhân loại, tích
cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Là một quốc gia nhỏ bé ở khu vực Đông Nam Á, Singapore là một đất nước trẻ
trung và năng động và là Quốc gia thu hút được nhiều Doanh nghiệp lớn từ nước
ngoài. Singapore đứng vào hàng nước giàu có nhất thế giới, trở thành trung tâm tài
chính nổi tiếng, trung tâm thương mại quan trọng trong khu vực, hải cảng sầm uất vào
hạng nhất trên thế giới và là địa điểm hàng đầu cho việc đầu tư. Luôn được nhắc đến là
quốc gia mẫu mực trong sạch về nạn tham nhũng, hiệu quả và ổn định về chính trị,
Singapore dành được sự chú ý và công nhận từ khắp nơi trên toàn thế giới.
1 – Vị trí địa lý
Singapore là một trong những nước nhỏ nhất Đông Nam Á với tổng diện tích là
712 km
2
gồm một đảo chính và hơn 54 hòn đảo lớn nhỏ khác. Hầu hết các hoạt động
của Singapore đều diễn ra trên hòn đảo chính, với tổng diện tích đất khoảng 697 km
2
và một bờ biển khoảng 193 km. Đảo chính của Singapore có chiều ngang từ Đông
sang Tây là 42 km và chiều dài từ Bắc xuống Nam là 23 km, hòn đảo chính khá bằng
phẳng, với vài vùng đất cao ở khu vực trung tâm. Trong số những hòn đảo nhỏ, ba hòn
đảo Pulau Tekong, Pulau Ubin và Sentosa có diện tích lớn nhất. Singapore đã tiến
hành lấy đất từ các ngọn đồi, đáy biển và nhập khẩu từ một số nước trong khu vực để
thực hiện việc mở rộng lãnh thổ của mình.
Singapore có một vị trí vô cùng thuận lợi là phía Bắc giáp với Malaysia và
phía Nam cách đảo Riau của Indonesia qua eo biển Singapore, nằm trong eo biển
Malacca, trấn giữ con đường huyết mạch, thuộc trục đường vận tải biển từ Á sang Âu,
từ Đông sang Tây, đây là cửa ngỏ ra vào của Châu Á. Singapore còn là tâm điểm nối
liền các châu lục Á – Âu – Phi – Úc với Bắc Mỹ và Nam Mỹ ở phía Tây Malaysia.
Với vị trí như thế, Singapore được đánh giá là một trong những cảng tấp nập nhất thế
giới, thu hút nhiều tàu thuyền qua lại rất thuận lợi cho các hoạt động giao thương trên
đường biển, là nơi trung chuyển của hơn 400 hãng tàu lớn trên thế giới và liên kết hơn
700 cảng của trên 130 nước. Ngoài ra, Singapore còn là trung tâm hàng không nối liền
châu Âu với châu Á và châu Đại Dương, nối đường hàng không với 53 nước và 101
thành phố trên thế giới, là một quốc gia có ngành hàng không dân dụng phát triển nhất
ở châu Á, chỉ sau Nhật Bản. Vị trí thuận lợi như vậy giúp cho việc giao thương của
Singapore đối với các nước trở nên dễ dàng hơn và ngành du lịch của quốc gia này
cũng khá phát triển. Trung bình mỗi năm Singapore đón 6 triệu khách du lịch và 27
triệu lượt khách quá cảnh. Bên cạnh đó, Singapore còn được xem là “thiên đường mua
sắm” của khách du lịch.
Tài nguyên ở Singapore rất hiếm. Với sự phát triển và công nghiệp hóa như
hiện nay tỉ lệ đất của Singapore được phân bổ như sau: 49,7% đất xây dựng, 1,7% đất
trồng trọt, 4,4% rừng, 2,4% đất đầm lầy và bị tác động bởi thủy triều và 41,9% phần
còn lại bao gồm các hồ dự trữ nước, nghĩa trang, công viên, v.v… Tài nguyên đất đang
là một trong những điều lo ngại của Singapore hiện nay. Tuy nhiên, nhiều công viên
đã được gìn giữ với sự can thiệp của con người, đất ở các công viên và các khu bảo tồn
chiếm khoảng hơn 4% tổng diện tích đất của Singapore, trong đó có Khu Bảo tồn
Thiên nhiên Bukit Timah, Vườn thực vật quốc gia…Mặc dù nhiều loại thực vật
nguyên thủy ở đây đã bị đốn hết để phát triển đô thị, những loại cây cối tương tự sau
này đã được nhập vào từ các nước lân cận. Động vật ở đây phổ biến là các loài bò sát,
từ loại thằn lằn nhỏ sống trong nhà đến những loại thằn lằn lớn ngoài đồng cùng với
nhiều loài rắn khác nhau. Ở đây có hơn 40 loại rắn, nhưng rất ít rắn độc. Cuối năm
1996 các vườn bách thú ở Singapore đã tiến hành một chương trình đưa các loại động
vật nguyên thủy vào những khu bảo tồn thiên nhiên. Các giống quý hiếm và có nguy
cơ diệt chủng như một số loại hươu, mèo rừng và rái cá đã nằm trong danh sách của
chương trình này. Kết quả là hệ động thực vật ở Singapore vô cùng phong phú. Các
khu bảo tồn được xây dựng một mặt có thể giúp cân bằng hệ sinh thái, mặt khác tạo ra
các cơ hội phát triển ngành du lịch, các ngành dịch vụ khác ở Singapore.
Một khó khăn nữa của Singapore là không có nước ngọt từ sông và hồ. Nguồn
cung cấp nước chủ yếu của Singapore là từ những trận mưa rào được giữ lại trong
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 7
những hồ chứa hoặc lưu vực sông. Mưa rào cung cấp khoảng 50% lượng nước, phần
còn lại được nhập khẩu từ Malaysia hoặc lấy từ nước tái chế - một loại nước có được
sau quá trình khử muối. Nhiều nhà máy sản xuất nước tái chế đang được đề xuất và
xây dựng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu.
Nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài dưới dạng nguyên liệu thô, Singapore
chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; đất canh tác hẹp, chủ yếu để trồng cao su, dừa,
rau và cây ăn quả. Vì thế nền kinh tế Singapore phát triển được phần lớn dựa vào các
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 8
Singapore hiện đang được xếp vào nhóm 20 nước có nền kinh tế và chính trị
vận hành tốt nhất thế giới do Ngân hàng Thế giới xếp hạng, là quốc gia thực hiện rất
tốt sáu biện pháp quản lí theo cuộc khảo sát tiến hành trên 212 quốc gia (Anonymous,
2007). Hệ thống Pháp Luật Singapore chịu ảnh hưởng lớn của pháp luật Anh. Bên
cạnh pháp luật Anh, Singapore đã ban hành nhiều luật và pháp lệnh theo mô hình của
các nước khác cho phù hợp hơn với điều kiện thực tế.
Singapore là thị trường hoàn toàn tự do, và chính phủ còn dành ưu đãi cho
nhà đầu tư nước ngoài với luật pháp minh bạch, hệ thống quản lý và bộ máy chính
quyền có hiệu quả. Singapore không hạn chế giao dịch ngoại hối, tái đầu tư hoặc hồi
hương vốn đầu tư và lợi nhuận, hỗ trợ tài chính cho các công ty vừa và nhỏ
Singapore được coi là đất nước hầu như không tham nhũng. Bên cạnh đó, các công ty
nước ngoài có vốn đầu tư từ $200 triệu trở lên được hưởng mức thuế doanh thu 10%
(mức chung 25.5%) trong 10 năm; hoặc công ty đạt doanh số xuất nhập khẩu 200 triệu
SGD/năm - International Trader (cho một số mặt hàng khuyến khích, chủ yếu là hàng
nông sản) được hưởng mức thuế doanh thu 10% trong năm đó. Singapore đã ký kết
giải quyết một số tranh chấp quốc tế và các công ước trọng tài. Singapore cũng đã rất
tích cực trong việc theo đuổi các hiệp định thương mại tự do với việc tham gia nhiều
cam kết WTO, ASEAN, APEC Bảy thỏa thuận có hiệu lực và các cuộc đàm phán
song phương quốc tế bổ sung đang được tiến hành với các nước như Canada, Panama,
Kuwait, Ấn Độ và Hàn Quốc…. nhằm tự do hóa nền kinh tế, tăng năng lực cạnh
tranh toàn cầu của hàng hóa, dịch vụ và của cả nền kinh tế. Trong tháng 3 năm 2007,
Singapore đã trở thành quốc gia đầu tiên phê chuẩn một hiệp ước quốc tế về nhãn hiệu
hàng hoá đã được tạo ra dưới sự bảo trợ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2006.
Động thái này làm nổi bật sự ổn định của môi trường đầu tư của đất nước và tín hiệu
cam kết của chính phủ về quyền sở hữu trí tuệ đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Phương thức kinh doanh thành lập liên doanh hoặc công ty con sở hữu toàn bộ có
thể được áp dụng vì luật kinh doanh tại Singapore cực kỳ thông thoáng và thuế thu
thành lập một cơ quan chuyên trách được gọi là Hiệp hội khách hàng của Singapore
(viết tắt theo tiếng Anh là CASE - Consumer Association of Singapore) có nhiệm vụ
hòa giải tranh chấp hoặc tư vấn đưa vụ kiện lên Tòa án cấp cao hơn. Hệ thống tiêu
chuẩn hàng hóa khá khắt khe, tương đương với tiêu chuẩn ở các nước châu Âu,
đặc biệt là đối với mặt hàng thực phẩm. Khi xuất khẩu hàng hóa sang đây các
Doanh Nghiệp cần nghiên cứu các tiêu chuẩn này thật kĩ, đáp ứng đầy đủ để tạo
lòng tin với khách hàng. Đây là một thách thức đối với các doanh nghiệp xuất
khẩu, nhưng nếu làm được điều này, doanh nghiệp có thể tự tin mở rộng sản xuất
và thâm nhập nhiều thị trường lớn khác thông qua các cảng mậu dịch tự do ở
Singapore.
2.3) Chính sách đối ngoại của Singapore :
Hai vấn đề cơ bản trong chính sách kinh tế đối ngoại của Singapore là: an ninh và
thịnh vượng của Singapore gắn liền với khu vực Đông Nam Á; là quốc gia nhỏ (diện
tích khoảng 712 km
2
tính cả đất khai hoang), Singapore phải tìm cách mở rộng không
gian kinh tế, không chỉ trong khu vực mà trên phạm vi toàn thế giới; ủng hộ hệ thống
quốc tế có trật tự để làm kinh tế.
Vì sự hạn chế về tài nguyên thiên nhiên cho nên Singapore luôn cố gắng nỗ
lực liên kết với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Các tổ chức kinh tế mà
Singapore đã tham gia: ADB, AOSIS, APEC, ARF, ASEAN, BIS, C, CP, EAS, FATF,
G-77, IAEA, IBRD, ICAO, ICC, ICRM, IDA, IFC, IFRCS, IHO, ILO, IMF, IMO,
IMSO, Interpol, IOC, IPU, ISO, ITSO, ITU, ITUC, MIGA, NAM, OPCW, PCA, UN,
UNCTAD, UNESCO, UNMIT, UPU, WCO, WHO, WIPO, WMO, WTO. Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 10
thức và giao thức vẫn còn nhiều nét theo truyền thống châu Á. Do đó, trong hoạt động
kinh doanh của mình các doanh nghiệp cần nghiên cứu cẩn thận, chú ý tránh cung
cấp những sản phẩm, dịch vụ không phù hợp với văn hóa địa phương.
3 – Ngôn ngữ
Singapore có ngôn ngữ đại diện cho từng dân tộc trong số bốn nhóm dân
tộc chính của mình. Bốn ngôn ngữ chính thức trong Hiến pháp của Singapore là tiếng
Anh, tiếng Hoa, tiếng Mã Lai và tiếng Tamil. Tuy tiếng Mã Lai là quốc ngữ của
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 11
Singapore nhưng tiếng Anh và tiếng Hoa là 2 ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong
cuộc sống hàng ngày. Đa số người dân tại Singapore có thể sử dụng ít nhất hai ngôn
ngữ trong đó có tiếng Anh. Điều này tại điều kiện rất thuận lợi trong giao tiếp khi
kinh doanh, giao thương với đối tác Singapore, giảm bớt rào cản về ngôn ngữ trong
kinh doanh quốc tế.
4 – Giáo dục
Chính phủ Singapore rất chú trọng phát triển giáo dục. Trẻ em bắt đầu đi học
khi 6 tuổi, hệ thống giáo dục cơ bản của Singapore là 10 năm, gồm 6 năm cấp I và 4
năm cấp II. Sau đó, học sinh có thể chọn tiếp vào học dự bị đại học (pre-university)
hoặc vào các trường kỹ thuật (polytechnic). Bên cạnh đó, Singapore liên tục cải tiến hệ
thống giáo dục, có chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho các giáo sư tiến sĩ. Hiện tại, du học
sinh đến Singapore là rất lớn và nước này cũng là một trong những trung tâm đào tạo
uy tín của thế giới. Có thể kể đến các trường đại học danh tiếng như Công nghệ
Nanyang (NTU), Học viện phát triển quản lý Singapore (MDIS), Đại học Quốc gia
Singapore (NUS) Chính nhờ những chính sách giáo dục rất hiệu quả, Singapore có
đội ngũ lao động cấp cao hàng đầu thế giới. Những người này tạo ra năng suất vô cùng
lớn, thành thạo về chuyên môn, kĩ thuật và có thái độ làm việc tích cực giúp Singapore
có một sự phát triển và cạnh tranh vượt bậc trong các ngành như công nghệ thông tin,
điện tử…(những ngành đòi hỏi lượng chất xám cao). Tại Singapore, Chính phủ rất coi
trọng giá trị con người. Họ xem giáo dục là một phương tiện quan trọng giúp thế thế
những đặc điểm, nét văn hóa, những nguyên tắc nhất định mà nếu chỉ cần vô tình
quên, doanh nghiệp có thể phá vỡ tất cả những thành quả đã tạo dựng trước đó.
6 - Ẩm thực
Với khoảng 77% dân số là người Hoa, văn hóa Singapore mang nhiều bản sắc
của người Hoa đại lục. Trà được xem là 1 trong 7 thứ quan trọng trong cuộc sống.
Dùng Trà để tiếp khách là một thói quen của người Hoa. Trà đã thịnh hành ở Trung
Quốc từ hơn ngàn năm trước và khi di cư sang Singapore, người Hoa nhập cư vẫn giữ
bản sắc riêng đặc trưng của mình. Từ đó, Trà đã hình thành nên một nét độc đáo trong
cộng đồng người Hoa ở Singapore. Họ coi việc pha, thưởng thức Trà là một nghệ thuật.
Café lại là một khái niệm Tây phương với người Hoa, tuy nhiên trong một xã hội mà
văn hóa phương Tây ảnh hưởng sâu sắc ngoài văn hóa sắc tộc như Singapore thì việc
dùng Café trong cuộc sống hàng ngày cũng không hề xa lạ.Cafe tượng trưng cho sự
mạo hiểm, cởi mở, trẻ, năng động và giàu có với lối sống đô thị. Do đó, Singapore là
một thị trường đã, đang và sẽ là thị trường xuất khẩu cà phê tốt cho Việt Nam ở khu
vực Asian. Mặc khác, xuất khẩu chè) sang Singapore lại mở ra một thị trường mới
cho các nhà xuất khẩu.
Với những nét đặc trưng đã phân tích, các doanh nghiệp Việt Nam muốn thâm
nhập thị trường Trà hoặc Café sang Singapore đòi hỏi sự đầu tư, tìm hiểu xu hướng tiêu
dùng của thị trường và từng nhóm cộng đồng ở đây. Và xuất khẩu trà đã qua chế biến là
một hướng đi mới mà các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm. Cần quan tâm khai
thác tốt thị trường Café Singapore. Đó là ý kiến của nhiều chuyên gia thuộc Hiệp hội
Cacao, Cà phê Việt Nam. Xuất khẩu Café 6 tháng đầu năm 2011 đạt 21 triệu USD, tăng
72,59% so với cùng kỳ, chiếm 2,4% trong tổng kim ngạch. Với mức sống cũng như văn
hóa Singapore, những quán hoặc chuỗi cửa hàng café với đầy đủ các tiện nghi cũng là
một gợi ý cho các doanh nghiệp Việt Nam muốn thâm nhập thị trường café
Singapore.Tương tự, họ cũng ưa thích văn hóa ẩm thực của các nước khác và yêu cầu
cao về chất lượng thực phẩm. Đây là triển vọng đầu tư vào lĩnh vực ẩm thực, nhà
hàng cho các nhà đầu tư.
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 13
xây dựng) và dịch vụ là hai công cụ của nền kinh tế Singapore và chiếm 26,7% và
67,5% tương ứng, tổng sản phẩm nội địa của Singapore trong năm 2010. Kinh tế của
Singapore chủ yếu dựa vào các mặt hàng nhập khẩu cho các ngành công nghiệp như
điện tử, lọc dầu, chế biến cao su, chế biến thực phẩm và thương mại xuất nhập khẩu.
Xuất khẩu máy vi tính, linh kiện điện tử…mở ra một thị trường mới để phát triển
ngành công nghiệp gia công máy móc thiết bị ở Việt Nam.
Để duy trì vị thế cạnh tranh của nền kinh tế, mặc dù tiền lương tăng, chính phủ
tìm cách thúc đẩy các hoạt động giá trị gia tăng cao hơn trong sản xuất và các ngành
dịch vụ. Nó cũng đã mở ra, hoặc là trong quá trình mở cửa, dịch vụ tài chính, viễn
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 14
thông, và phát điện và các lĩnh vực bán lẻ để các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và
cạnh tranh hơn. Chính phủ cũng đã theo đuổi các biện pháp cắt giảm chi phí, bao gồm
cắt giảm thuế và tiền lương và cắt giảm tiền thuê, để giảm chi phí kinh doanh tại
Singapore. Chính phủ đang tích cực đàm phán tám hiệp định thương mại tự do (FTA)
với các đối tác kinh tế mới nổi và đã kết luận 18 FTA với nhiều đối tác thương mại
quan trọng của nó, bao gồm cả một với Hoa Kỳ có hiệu lực từ 1 tháng một năm 2004.
Là một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Singapore là
một phần của Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), và ký kết ASEAN FTA
với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, và một thỏa thuận chung với New
Zealand và Úc. Singapore cũng là một bên tham gia Hiệp định Liên minh các chiến
lược đối tác kinh tế, bao gồm Brunei, Chile, và New Zealand. Điều này tạo ra một
môi trường thuận lợi và dễ dàng liên kết với các tổ chức quốc tế nhằm thu hút các
nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, Singapore đang có sự chuyển đổi dần trong cơ cấu kinh tế: từ
giảm dần tỷ trọng nhập khẩu hàng thô, sơ chế có nguồn gốc từ nông – lâm – khoáng
sản, những mặt hàng kinh doanh kém hiệu quả, chuyển sang tăng nhanh tỷ trọng nhập
khẩu vật tư đầu vào cho các ngành sản xuất công nghiệp nhằm tái tạo, lắp ráp các sản
phẩm công nghiệp hoàn chỉnh, kỹ thuật cao mang lại hiệu quả kinh tế cao khi xuất
định và di động, có khoảng 175 điện thoại trên 100 người. Trong năm 2008, có 3,37
triệu người sử dụng Internet.
Cảng Singapore là bận rộn nhất của thế giới về tổng số chuyến và trọng tải vận
chuyển, các thùng chứa, cập cảng khoảng 140.000 tàu mỗi năm . Cảng cũng xây dựng
một trong ba nhà máy lọc hóa dầu lớn nhất thế giới. Các hoạt động đóng tàu và các cơ
sở sữa chữa tàu thủy với kỹ thuật tiên tiến và hiệu quả nhất của Đông Nam Á. Cơ quan
đăng ký tàu biển Singapore có hơn 3.000 tàu được đăng ký tổng cộng hơn 29 triệu tấn,
và cung cấp các lợi thế về thuế và các ưu đãi tài chính cho các tàu đăng ký tại
Singapore theo chương trình quốc tế được các doanh nghiệp vận chuyển đường biển
chấp thuận. Chính phủ cũng đã phê duyệt đề án, chương trình ưu đãi Tài chính Hàng
hải, Quỹ hàng hả Clusteri.
Hệ thống ngân hàng với hơn 100 ngân hàng trong đó có hơn 40 ngân hàng
liên kết với nước ngoài hoạt động rất hiệu quả. Có 6 Ngân hàng lớn thuộc sở hữu của
ba tập đoàn ngân hàng: DBS Bank Limited, Công ty TNHH Viễn Đông Ngân hàng,
Ngân hàng Trung Quốc ở nước ngoài Corp Ltd, Singapore đảo Ngân hàng, Công ty
TNHH Ngân hàng Hồi giáo Châu Á, và Ngân hàng United Overseas Ltd.
Chính phủ quản lí hầu như tất cả các kênh phát sóng truyền hình trong nước
và tất cả các đài phát thanh. Chỉ có một đài phát thanh, đài BBC World Service, là
hoàn toàn độc lập. Cáp thuê bao có thể truy cập các kênh tin tức nước ngoài rất nhiều.
Các phương tiện truyền thông in được thống trị bởi một công ty có quan hệ gần gũi với
chính phủ. Báo hàng ngày được xuất bản bằng tiếng Anh, Trung Quốc, Mã Lai, và
Tamil.
Mặc dù có nguồn tài nguyên hạn chế nhưng Sigapore đạt được những thành
tựu to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển công nghệ. Số lượng bằng sáng chế
của Singapore được đăng ký bởi các công ty, cá nhân và các tổ chức khác tăng điều
đặn từ 572 vào năm 2005 lên 729 năm 2007 và 827 trong năm 2009. Singapore đã và
đang đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển, với ngân sách chiếm từ 1,9% đến
2,5% GDP trong khoảng từ năm 2000 đến 2007, và đã xây dựng được mối quan hệ
gắn bó giữa giới nghiên cứu học thuật với các doanh nghiệp. Hệ quả là, thành tựu
nghiên cứu của Singapore phần lớn do đóng góp của nghiên cứu ứng dụng và công
1979 – 1990, do có vấn đề Cam-pu-chia nên quan hệ hai nước không có tiến triển.
Từ năm 1991, cùng với chuyển biến chung của cục diện quốc tế và tình hình
khu vực, đặc biệt là việc ký Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia năm 1991, cũng như tác
động của chính sách đổi mới của ta, quan hệ hai nước được cải thiện nhanh chóng.
Sau khi Việt Nam tham gia Hiệp ước Bali (7/1992) và trở thành thành viên
đầy đủ của ASEAN tháng 7/1995, quan hệ hai nước chuyển sang một giai đoạn phát
triển mới về chất. Singapore rất coi trọng phát triển quan hệ hợp tác với Việt Nam và
Việt Nam trở thành một trong những thị trường chính về hợp tác thương mại, đầu tư
của Singapore ở Đông Nam Á.
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 17
Trong chuyến thăm làm việc Singapore của Thủ tướng Phan Văn Khải
(3/2004), hai bên đã ký "Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện trong thế kỷ
21", tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác
nhiều mặt giữa hai nước.
Ngày nay,lãnh đạo cấp cao của hai nước thường xuyên có các chuyến thăm lẫn
nhau. Hai nước cũng thường xuyên tổ chức các cuộc đối thoại và chuyến thăm chính
thức để tìm cách thúc đẩy hơn nữa hợp tác giữa hai quốc gia.
1.3 – Quan hệ kinh tế thương mại:
Hai bên đã ký kết được những văn bản sau như Hiệp định hàng hải thương
mại (4/1992); Hiệp định về vận chuyển hàng không(4/1992); Hiệp định thương mại
(9/1992); Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư (10/1992); Hiệp định hợp tác
trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường (14/5/1993); Hiệp định tránh đánh thuế
hai lần (3/1994); Hiệp định hợp tác về du lịch (8/1994);và một số thoả thuận hợp tác
trên một số lĩnh vực như thanh niên (3/1995) và báo chí (01/1996), văn hoá thông tin
(4/1998) Đặc biệt, quan hệ kinh tế Việt Nam – Singapore đã vươn tới tầm cao mới kể
từ khi hai nước thực hiện Hiệp định Kết nối Việt Nam – Singapore (2006) là chương
trình hợp tác toàn diện tập trung vào 6 nội dung cụ thể, bao gồm: tài chính, giáo dục và
đào tạo, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và truyền thông, đầu tư, thương mại
phát triển ở thị trường Singapore.
Thứ nhất, xét về nhu cầu cà phê của người Singapore, đây là một trong những
nước có diện tích nhỏ nhất Đông Nam Á. Diên tích đất nông nghiệp rất ít và tất nhiên
cà phê sẽ không được trồng phổ biến ở Singapore. Để đáp ứng nhu cầu trong nước,
Singapore phải nhập cà phê từ nước ngoài. Nữa đầu niên vụ 2009/2010 Singapore phải
nhập 3 nghìn tấn từ Việt Nam, đến niên vụ 2010/2011 con số này tăng lên 16 nghìn
tấn, tức là sản lượng đã tăng 433%. Nguồn cà phê của Singapore phục vụ vào hai việc
chính là đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và tái xuất khẩu sang các nước khác.
Theo báo cáo, trong năm 2010 Singapore là quốc gia đúng thứ 5 trên thế giới về sản
lượng cà phê tái xuất khẩu với 1,5 triệu bao. Đối với nhu cầu trong nước, dù kinh tế có
khó khăn nhưng nhu cầu tiêu thụ cà phê của Singapore cũng không giảm do cà phê đã
trở thành một loại thức uống không thể thiếu trong nếp sinh hoạt hằng ngày của người
dân nơi đây. Bằng chứng là suốt trong nhiều ngày tại hội chợ ẩm thực quốc tế tại khu
triển lãm Expo của Singapore, quầy hàng cà phê lúc nào cũng có hàng chục người xếp
hàng để chờ thưởng thức hương vị cà phê của Việt Nam. Nhiều quán cà phê lớn nhỏ
có thể dễ dàng được tìm thấy ở đất nước Singapore, người Singapore cũng có thói
quen tụ tập ở các quán cà phê để tán gẫu. Thêm vào đó, mỗi năm Singapore đón
khoảng 6 triệu du khách, chưa kể 27 triệu du khách quá cảnh từ khắp nơi trên thế giới
đến Singapore, nhu cầu về ăn uống cũng tăng cao, trong đó có những du khách đến từ
những quốc gia yêu chuộng cà phê, đây là những khách hàng tiềm năng cho việc tiêu
thụ cà phê tại Singapore.
Thứ hai là xét về khả năng đáp ứng nhu cầu cà phê của Việt Nam. Việt Nam tiếp
tục đứng thứ hai thế giới về sản lượng cà phê trong niên vụ 2010/2011 với tổng sản
lượng là 18.725 nghìn bao. Hiện nguồn cung cà phê thế giới đang thiếu hụt do biến đổi
khí hậu làm mất mùa ở một số quốc gia, đồng thời cũng đẩy giá cà phê luôn ở xu
hướng tăng. Trong khi đó, những vùng trọng điểm trồng cây cà phê ở Việt Nam đều có
khả năng cho năng suất cao, từ 3 tấn cà phê nhân/ha trở lên. Bên cạnh nâng sản lượng
để đáp ứng nhu cầu cà phê hiện tại, các doanh nghiệp Việt Nam đã chú trọng đến khâu
chế biến bằng cách đầu tư các thiết bị tiên tiến, xây dựng và lấp đặt dây chuyền chế
biến hiện đại, tìm nguồn cung đạt tiêu chuẩn nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cà
những quán cà phê đủ loại loại kích thước lớn nhỏ đã góp phần tạo nên sự đa dạng
cho khẩu vị của khách hàng.
Như vậy ta có thể thấy cùng với việc không ngừng mở rộng loại hình kinh doanh
dạng quán cà phê để phục vụ cho dân địa phương và khách du lịch đồng nghĩa với
nhu cầu cà phê là rất lớn. Hơn nữa, xu hướng uống cà phê hiện nay ở Singapore
theo phong cách phương Tây, uống cà phê xay ngay tại chỗ thì sản phẩm cà phê hạt
ở thị trường này có tiềm năng hơn hết.
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 20 b- Khách hàng là doanh nghiệp thu mua cà phê và tái xuất khẩu.
Hiện nay Singapore là quốc gia đứng thứ 5 thế giớ về tái xuất khẩu cà phê,
như vậy ta cần quan tâm tới đối tượng khách hàng này.
2- Nhà cung ứng
Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu cà phê. Sản phẩm chúng ta đi xuất
khẩu đa phần là cà phê vối robusta, và một lượng nhỏ là Arabica. Khoảng 85 – 90%
diện tích cà phê hiện do các hộ nông dân nhỏ lẻ khai thác, khoảng 10 – 15% còn lại do
các nông trường nhà nước khai thác. Diện tích gieo trồng cà phê theo các niên vụ có xu
tăng nhưng chậm trong thời gian từ 2008 đến 2011, trong niên vụ 2009/2010 nguồn
cung cà phê của Việt Nam đạt 19.731 nghìn bao, niên vụ 2010/2011 tạo ra nguồn cung
khoảng 20.588 nghìn bao.
Đứng trước thực trạng trên, để đảm bảo nguồn cung cho mình, doanh nghiệp cần
chủ động hơn trong việc tìm kiếm nguồn cung. Với việc phần lớn diện tích cà phê do
người dân trồng, cộng vào đó yêu cầu về tiêu chuẩn đối với thị trường Singapore nói
riêng và thế giới nói chung là rất khắt khe, doanh nghiệp nên hỗ trợ nông dân về kĩ
thuật cũng như nguồn vốn và các yếu tố cần thiết khác.
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 21
năm 2009 Indonesia chỉ sản xuất được 689 tấn cà phê. Đến năm 2010, riêng cà phê
hạt Indonesia đã xuất khẩu 350.000 tấn trị giá 795,5 triệu USD, trong đó có 280.000
tấn cà phê robusta trị giá 504,4 triệu USD và 56.000 tấn cà phê arabica trị giá 224,1
triệu USD. Trong số các đồn điền trồng cà phê ở Indonesia, 96 % do nông dân canh
tác, nhà nước chỉ kiểm soát 2% và phần còn lại thuộc về các công ty tư nhân. Do đồn
điền chủ yếu do nông dân quản lý, thương canh tác theo phương pháp truyền thống
nên sản lượng sản xuất và chất lượng sản phẩm còn thấp. Bù lại diện tích đất trồng cà
phê rộng lớn và nguồn nhân lực dồi dào đã góp phần tăng khả năng cạnh tranh cho
Indonesia trên thị trường xuất khẩu cà phê.
Ngoài ra phải kể đến Colombia là nước sản xuất arabica chất lượng cao lớn
nhất thế giới, có thể cạnh tranh với Việt Nam trong việc thâm nhập thị trường
Singapore.
Muốn giành thắng lợi trong cuộc chơi với các doanh nghiệp nước ngoài thì
các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh cà phê trong nước buộc phải nâng cao năng
lực hoạt động, đổi mới phương thức kinh doanh và tích cực bảo vệ quyền lợi chính
đáng của nông dân cũng như bảo vệ thương hiệu cà phê Việt…Việt Nam cần tập trung
đủ nguồn lực nội tại để tự tin bước ra nước ngoài cạnh tranh với những thương hiệu cà
phê đã trở nên quá nổi tiếng và quen thuộc với phong cách công nghiệp tại Singapore.
Marketing toàn cầu GVHD: TH.S Quách Thị Bửu Châu
Trang 23
4- Pháp lý
4. 1 – Về phía Việt Nam
Theo kế hoạch được Bộ duyệt, ban kỹ thuật về tiêu chuẩn cà phê
(TCVN/TC/F16) mà Hiệp hội là cơ quan chủ trì đã hoàn thành việc soát xét một số
tiêu chuẩn nhà nước về cà phê và được Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng trình
lên Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường xét duyệt. Ngày 05/11/2001, Bộ trưởng
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã có quyết định số 57/2001/QĐ-KHCNMT
ban hành 5 bản tiêu chuẩn về cà phê đó là:
TCVN 4193:2005: Cà phê nhân- yêu cầu kỹ thuật (Soát xét lần 3 – Thay thế
Hạng 3 Hạng 3
Hạng 4 -
Màu sắc: Màu đặc trưng của từng loại cà phê nhân.
Mùi: Mùi đặc trưng của lừng loại cà phê nhân, không có mùi lạ.
Độ ẩm: Nhỏ hơn hoặc bằng 12,5 %.
Tỉ lệ lẫn cà phê khác loại, được qui định trong bảng 2.
Bảng 2 - Tỉ lệ lẫn cà phê khác loại cho phép trong các hạng cà phê
Loại cà
phê
Hạng đặc biệt và
hạng 1
Hạng 2 Hạng 3 Hạng 4
Cà phê chè
Không được lẫn R
và C
Được lẫn R: ≤
1% và C: ≤ 0,5%
Được lẫn R: ≤
5% và C: ≤ 1%
Được lẫn R: ≤
5% và C: ≤ 1%
Cà phê vối
Được lẫn C: ≤
0,5% và A: ≤ 3%
Được lẫn C: ≤
1% và A: ≤ 5%
2b
2c
60
-
-
-
120
150
200
Hạng 3 120 250
Hạng 4 150 -
Tỷ lệ khối lượng đối với từng hạng cà phê trên sàng lỗ tròn, được qui
định trong bảng 4 và kích thước lỗ sàng theo phụ lục B.
Bảng 4 - Tỷ lệ khối tượng đối với từng hạng cà phê trên sàng lỗ tròn
Hạng chất lượng Cỡ sàng Tỷ lệ tối thiểu
(%)
Cà phê chè Cà phê vối
Hạng đặc biệt No18/No16 No18/No16 90/10
Hạng 1 No16/No14
No16/No 12
2
1
90/10
Hạng 2
No 12
2
1