mua theo hợp đồng kinh tế hai chiều. Chính sách này chưa phát huy tác dụng ngay trong
năm 1980 mà phải sau đó một năm mới thực sự có tác động tốt .
2.1.2 Sau năm 1986 đến nay
*) Sự vận hành giá cả thị trường
Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường của hàng hoá
Giá cả thị trường có những chức năng chủ yếu sau đây:
+ Chức năng thông tin: Những thông tin về giá cả thị trường cho người sản xuất biết
được tình hình sản xuất trong các ngành, biết được tương quan cung và cầu, biết được sự
khan hiếm đôí với các loại hàng hoá. Nhờ đó mà đơn vị kinh tế có liên quan ra được
những quyết định thích hợp. Như vậy những thông tin về giá cả điều chỉnh hướng sản
xuất và quy mô sản xuất , từ đó điều chỉnh cơ cấu sản xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu
của xã hội.
+ Chức năng phân bố các nguồn lực kinh tế: Sự biến động của giá cả sẽ dẫn đến sự biến
động trong phân bố các nguồn lực kinh tế. Những người sản xuất sẽ chuyển vốn từ nơi
giá cả thấp, do đó lợi nhuận thấp đến nơi có giá cả hàng hoá cao , do đó lợi nhuận cao ,
tức là các nguồn lực sẽ được chuyển đến nơi mà chúng được sử dụng với hiệu quả cao
nhất , cân đối giữa tổng cung và tổng cầu .
+ Chức năng thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật: Để có thể cạnh tranh được về giá cả , buộc những
người sản xuất phải giảm sản phẩm đến mức tối thịêủ bằn cách áp dụng kỹ thuật và công
nghệ tiên tiến . Do đó thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật , công nghệ và sự phát triển lực lượng
sản xuất . Ngoài ra giá cả còn thực hiện chức năng phân phối lại .
Do đó việc chuyển sang cơ chế một giá - giá cả thị trường dối với tất cả các loại hàng hoá
, chỉ trừ một số rất ít hàng hoá do nhà nước định giá là bước chuyển có ý nghĩa quyết
định từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường ở nước ta .
Tuy nhiên giá cả thị trường còn phụ thuộc vào các nhân tố sau :
+ Giá cả thị trường: giá cả thị trường là kết quả của sự cân bằng các giá trị cá biệt của
hàng hoá trong cùn một ngành thông qua cạnh tranh. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn
đến hình thành một giá trị xã hội trung bình . Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của sức
sản xuất của mỗi ngành mà giá trị thị trường có thể ứng với một trong biến áp trường hợp
sau :
. Trường hợp 1: giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của đại bộ phận hàng hoá được
- Tương quan cung và cầu điều chỉnh giá cả thị trường , chính xác hơn là điều chỉnh
sự chênh lệch giữa giá cả thị trường với giá trị thị trường . Sự biến đổi của tương quan
cung và cầu sẽ dẫn đến sự lên xuống của giá cả thị trường , ngược lại giá cả cũng ảnh
hưởng trở đối với cung và cầu. Cầu biến đổi ngược chiều vói giá cả thị trường và cùng
chiều với mức thu nhập còn cung biến đổi ngược chiều với giá cả đầu ra , nhưng cũng
biến đổi ngược chiều với giá cả đầu vào .
Khi hướng tới trạng thái cân bằng , cung và cầu tạo khả năng khôi phục nhưng cân đối đã
bị phá hoại trong nền kinh tế.
Tuy nhiên sự cân bằng cung cầu là tạm thời , sự không cân bằng giữa cung và cầu là
thường xuyên. vì cung và cầu vốn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố , mà các nhân tố này
luôn luôn biến đổi , nên cung và cầu thường xuyên là không cân bằng . Chính điều này đã
hình thành quá trình tác động lẫn nhau giữa cung cầu giá cả ; quá trình này đưa đến sự
cân bằng tạm thời giữa cung và cầu.
Như vậy trạng thái cân bằng cung cầu là do quá trình mất cân bằng hình thành.
- Cung và cầu đảm bảo mối liên hệ giữa khâu đầu và khâu cuối của quá trình tái sản
xuất , tức là mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng , đồng thời quan hệ cung và cầu còn
biểu hiện quan hệ về lợi ích gtữa người sản xuất và người tiêu dùng , giữa người bán và
người mua.
+ Cạnh tranh trên thị trường : Cạnh tranh là một khái niệm rộng, không những tồn tại
trong lĩnh vực kinh tế mà còn tồn tại trong lĩnh vực xã hội . Trong kinh tế thị trường các
chủ thể hành vi kinh tế vì lợi ích riêng của bản thân mình mà tiến hành cạnh tranh với
nhau . Cạnh tranh được hiểu là sự đấu tranh giữa các chủ thể hành vi kinh tế nhằm dành
lợi ích tối đa cho mình . Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của cơ chế thị trường . Nó là hiện
tượng tự nhiên , tất yếu của kinh tế thị trường , ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì
ở đó có cạnh tranh.
Vai trò của cạnh tranh được hiểu qua các chức năng của nó :
_ Cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt sản xuất xã hội và do đó làm cho sự phân bố
các nguồn lực kinh tế của xã hội một cách tối ưu . Mục đích hoật động của các doanh
nghiệp là lợi nhuận tối đa , do đó họ sẽ đầu tư vào nơi có lợi nhuận cao, tức là các nguồn
lực kinh tế của xã hội sẽ được chuyển đến nơi mà chúng được sử dụng với hiệu quả cao
kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ , bình đẳng phát huy và kết hợp hài
hoà sức mạnh của tập thể và xã viên.
Bên cạnh đó kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục phát triển trong các lĩnh vực sản xuất theo sự
quản lý của Nhà nước. Hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản
Nhà nước dưới nhiều hình thức. Từng bước hình thành, mở rộng đồng bộ các thị trường
hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, dịch vụ…tiếp tục đổi mới và hoàn thiện công cụ quản lý
vĩ mô trọng yếu của Nhà nước. Xây dựng các chính sách tài chính quốc gia và thực hiện
cải cách cơ bản tài chính Nhà nước theo hướng thúc đẩy khai thác tiềm năng tự nhiên của
các tầng lớp nhân dân, vừa tích tụ vốn ở đơn vị kinh tế vừa đảm bảo nguồn vốn tập trung
của Nhà nước.
*) Sự hình thành giá cả trong điều kiện độc quyền
- sự hình thành thị trường nhà nước với việc nhà nước chủ động mở rộng thị trường trong
nước bằng việc bao mua sản phẩm của các xí nghiệp độc quyền thông qua những hợp
đồng được kí kết đã giúp tư bản tư nhân khắc phục được một phần khó khăn trong thời kì
khủng hoảng thừa, góp phần bảo đảm cho quá trình tái sản xuất được diễn ra bình
thường. Các hợp đồng kí kết với nhà nước giúp cho các tổ chức độc quyền tư nhân vừa
tiêu thụ được hàng hoá vừa đảm bảo lợi nhuận ổn định vừa khắc phục được tình trạng
thiếu nhiên liệu, nguyên liệu chiến lược.
- sự tiêu thụ của nhà nước được thực hiện qua những đơn đặt hàng của nhà nước, quan
trọng hơn cả là các đơn đặt hàng quân sự do ngân sách nhà nước chi mỗi ngày một tăng.
Các hợp đồng này đảm bảo cho các độc quyền tư nhân kiếm được khối lượng lợi nhuận
lớn và ổn định, vì tỷ suất lợi nhuận của việc sản xuất những hàng hoá đó cao hơn hẳn lợi
nhuận thông thường.
Trong cơ chế thị trường giá cả nông phẩm không chỉ ảnh hưởng đến mức thu nhập, mức
sống của người nông dân mà còn ảnh hưởng đến sản lượng nông sản, đến sự ổn định xã
hội . Trong những năm được mùa giá cả nông phẩm thường giảm sút nghiêm trọng , ảnh
hưởng xấu đời sống của nhân dân và quy mô sản xuất trong những năm tiếp theo. Do đó
nhà nước cần quy định giá sàn đối với nông phẩm.Để giá sàn đựoc thực hiện trên thực tế
thì nhà nước cần có hỗ trợ về tài chính cho các công ty thu mua nông sản.Bên cạnh đó
nhà nước cần phải thực hiện áp dụng giá trần đối với một số loại hàng hoá như giá
lĩnh vực tác động rất lớn tới đời sống kinh tế xã hội.
Đối với nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn mang nặng tính nông
nghiệp lạc hậu,cơ sở vật chất kỹ thuật còn phụ thuộc các nước khác,tuy nhiên Đảng và
nhà nước đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng trong việc đổi mới xã hội cũng như
hiểu rõ vai trò và tác dụng của quy luật giá trị mà từ đó thực hiện nhiều cuộc cải cách
kinh tế… tuân theo nhưng nội dung của quy luật giá trị nhằm hình thành và phát triển nền
kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa đa dạng và đã đạt đựơc những hiệu quả thành tựu đáng
kể ,tuy nhiên trong thời gian qua sự vận dụng đó còn chưa quán triệt sâu sắc nhiều khi
vẫn còn dập khuôn máy móc,nên cần phải có những biện pháp khắc phục nhanh chóng
những sai lầm.
liệu tham khảo
1. Bộ giáo dục và đào tạo, giáo trình Kinh tế chính trị Mác – LêNin, Nhà xuất bản
chính trị Quốc gia 2002.
2. Bài “Kinh tế Việt Nam thời kỳ cả nước cùng xây dựng xã hội chủ nghĩa 1976-
1995”- sách lịch sử kinh tế quốc dân , NXB giáo dục 1999.
3. Đại học Kinh tế Quốc dân môn lịch sử các học thuyết Kinh tế – Lịch sử các học
thuyết kinh tế – Nhà xuất bản thống kê1999.
4. Trần Hậu Thư – Vai trò quản lý của Nhà nước theo nền kinh tế thị trường nước ta,
NXB chính trị Quốc gia 1994.