vận dụng vào thực tiển phân tích các quy luật kinh tế của sản xuất và lưu thông hàng hóa - Pdf 25

MỤC LỤC
I: LỜI MỞ ĐẦU
Đối với mỗi quốc gia thì sản xuất hàng hoá luôn luôn giữ vị trí quan trọng, đây
là một trong những hoạt động có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của quốc gia.
Sản xuất hàng hoá thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động, phát triển chuyên
môn hoá, tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị sản xuất,
tạo điều kiện cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ sản suất, mở rộng phạm vi sản
xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngoài ra, sản xuất hàng hoá còn làm cho quá
trình giao lưu kinh tế văn hoá giữa các địa phương, các vùng, các nước ngày càng
phát triển, đời sống tinh thần được nâng cao, phong phú và đa dạng, tạo điều kiện
cho sự phát triển tự do độc lập của cá nhân. Trong sản xuất hàng hoá, có một quy
luật rất quan trọng đó là quy luật giá trị. Đây là quy luật cơ bản của sản xuất hàng
hoá. Theo quy luật này, sản xuất và trao đổi hàng hoá được thực hiện theo hao phí
lao động xã hội cần thiết. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường sẽ thấy được
sự hoạt động của quy luật giá trị giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị hàng
hoá và trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị. Cơ chế này phát sinh tác dụng
trên thị trường thông qua cạnh tranh, cung - cầu, sức mua của đồng tiền. Điều này
cắt nghĩa vì sao khi trình bày quy luật kinh tế chi phối hoạt động của sản xuất và
lưu thông hàng hoá người ta chỉ trình bày quy luật giá trị, một quy luật bao quát cả
bản chất và các nhân tố cấu thành cơ chế tác động của nó.
1
1
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, phải đối mặt với rất nhiều thách thức
và khó khăn nhất là trong phát triển kinh tế, do đó đòi hỏi chúng ta phải áp dụng
những biện pháp phát triển kinh tế thật thận trọng, khẩn trương và có hiệu quả.
Chính vì vậy, việc vận dụng quy luật giá trị vào phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay
là rất quan trọng.
II: QUY LUẬT KINH TẾ
1/ Nội dung
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổi hàng
hoá. Do đó ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự xuất hiện và hoạt

M = (P * Q)/V
Trong đó:
M là lượng tiền phát hành cần thiết cho lưu thông
P là mức giá cả hàng hoá, dịch vụ
Q là khối lượng hàng hoá , dịch vụ đem ra lưu thông
V là vòng quay trung bình của đồng tiền cùng loại
- Ở dạng cụ thể, khi C.Mác xem xét công thức khái quát gắn với các chức năng
thanh toán, gắn với tín dụng, công thức biểu diễn nội dung quy luật này là:
M = 1 - (2 + 3) + 4
Trong đó:
(1) là tổng giá cả hàng hoá, dịch vụ đem bán
(2) là tổng giá cả hàng hoá, dịch vụ bán chịu
(3) là tổng giá cả hàng hoá, dịch vụ khấu trừ cho nhau
(4) tổng giá cả hàng hoá, dịch vụ đến kỳ thanh toán
3
3
(5) là vòng quay trung bình của tiền tệ cùng tên gọi.
Từ công thức trên có thể thấy những nhân tố có quan hệ đến lượng tiền phát
hành đến lượng tiền phát hành, trong đó: M tỷ lệ thuận với (1) và (4) và tỷ lệ nghịch
với (2), (3) và (5).
Cần ý thức rằng quy luật lưu thông tiền tệ như đã phân tích ở trên là quy luật
lưu thông của tiền (vàng). Khi vận dụng quy luật này trong điều kiện tiền giấy thì
tình hình có sự khác đi nhất định. Vì tiền giấy không có tác dụng tự điều chỉnh qua
hai kênh lưu thông và tích luỹ như tiền (vàng) . Bởi vậy, để quy luật này có hiệu lực
trong điều kiện tiền giấy phải rất coi trọng khi điều khiển và khống chế lượng tiền
giấy phát hành cho lưu thông.
b. Quy luật cung cầu hàng hoá, dịch vụ
lý luận và thực tiễn đều khẳng định: ở nơi nào có nhu cầu thì ở nơi đó cũng xuất
hiện luồng cung ứng hàng hoá, dịch vụ để hình thành mối quan hệ cung cầu.
Mối quan hệ nhân quả giữa cung và cầu liên tục tiếp diễn trên thị trường, tồn tại

kinh doanh, vừa có lợi cho xã hội. Cạnh tranh không lành mạnh là dùng những thủ
đoạn phi đạo đức, vi phạm pháp luật( trốn thuế, nâng giá ) có hại cho xã hội và
người tiêu dùng.
Quy luật cạnh tranh có tác dụng đào thải cái lạc hậu, bình tuyển cái tiến bộ để
thúc đẩy xã hội phát triển.
Tóm lại: nghiên cứu các quy luật giá trị, lưu thông tiền tệ và cung cầu không chỉ
để nhận thức lực lượng khách quan chi phối thị trường , mà còn có ý nghĩa đối với
việc thực hiện chức năng quản lý ở hai tầng quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước và
quản lý vi mô của các doanh nghiệp.
Có thể khái quát mối quan hệ giữa các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị
trường qua sơ đồ sau:
Quy luật giá trị
Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật cạnh tranh
Quy luật cung cầu
5
5
Từ sơ đồ trên cho thấy không thể làm chủ kinh tế thị trường và cơ chế vận hành
của nó nếu không nắm bắt và vận dụng một cách tổng hợp các quy luật kinh tế nói
trên trong kinh tế và quản lý kinh tế. Cũng từ sơ đồ trên cho thấy các quy luật cạnh
tranh, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu chỉ là những quy luật phát sinh
từ quy luật giá trị. Nó có tác dụng bổ sung và thông qua bổ sung tạo ra vẻ đẹp cho
sự hoạt động hay tạo ra cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. Từ đó cần phê phán
những quan điểm không đúng khi họ cường điệu quá đáng, thậm chí thừa nhận quy
luật cung cầu mà không thừa nhận quy luật giá trị với tư cách là quy luật kinh tế căn
bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá đã được các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ
điển và C.Mác phát hiện và hoàn thiện quy luật này.
III: QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
1/ Khái niệm sản xuất hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá: Là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó nhưng người sản xuất ra

a/ Giá trị sử dụng:
Giá trị sử dụng là công cụ của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con
người, hoặc là nhu cầu tiêu dùng cho cá nhân như lương thực, thực phẩm hoặc là
nhu cầu cho sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu; là nhu cầu vật chất
hay nhu cầu tinh thần Chính công cụ của vật phẩm làm cho nó trở thành một giá
trị sử dụng hay có một giá trị sử dụng. Bất cứ một số vật phẩm nào cũng có một số
7
7
công dụng nhất định. Giá trị sử dụng được phát hiện dần trong quá trình phát triển
của khoa học kỹ thuật và lực lượng sản xuất. Xã hội càng tiến bộ, khoa học, kỹ
thuật và phân công lao động ngày càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng càng
nhiều, chủng loại càng phong phú, đa dạng, chất lượng cao.
Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những hàng hoá vật thể hữu hình còn có những
dịch vụ mà người ta mua và bán trên thị trường. Nhiều nhà kinh tế học gọi đó là
hàng hoá phi vật thể hay hàng hoá - dịch vụ.
b/ Giá trị
Giá trị là lao động xã hội thể hiện và vật hoá trong sản xuất hàng hoá.
Các hàng hoá khác nhau về giá trị sử dụng nên không thể lấy giá trị sử dụng để
đo lường các hàng hóa. Các hàng hoá khác nhau chỉ có một thuộc tính chung làm
cho chúng có thể so sánh với nhau trong khi trao đổi, đó là các hàng hoá đều là sản
phẩm của lao động. Cơ sở cho hai hàng hoá trao đổi với nhau là lao động xã hội hao
phí vào việc sản xuất ra những hàng hóa đó. Thực chất của trao đổi hàng hoá là trao
đổi lao động ẩn giấu trong hàng hoá đó.
Lao động hao phí để tạo ra hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là cơ sở chung của
trao đổi, được gọi là giá trị hàng hoá. Giá trị hàng hoá là lao động của người sản
xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá. Giá trị hàng hoá là biểu hiện quan hệ giữa
những người sản xuất hàng hoá. Nó là một phạm trù lịch sử - có sản xuất hàng hoá
và hàng hoá thì mới có giá trị hàng hoá. Giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện
của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi. Như vậy, hàng hoá có hai
thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính cùng

lao động trìu tượng có quan hệ với tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao
động sản xuất hàng hoá. Tính tự chủ làm cho lao động của những người sản xuất
hàng hoá trở thành việc riêng của họ. Mỗi người sản xuất hàng hoá tự lựa chọn mặt
hàng mà họ nhận thấy thích hợp. Nhưng mặt khác, phân công xã hội làm nảy sinh
rất nhiều mối liên hệ giữa người sản xuất, người này làm việc vì người kia, lao động
của mỗi người trở thành một bộ phận của lao động xã hội, nằm trong hệ thống phân
công lao động xã hội. Sự phân công lao động xã hội tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau
9
9
giữa những người sản xuất hàng hoá thông qua trao đổi. Việc trao đổi hàng hoá
không thể căn cứ vào lao động cụ thể mà phải quy về lao động chung nhất, lao động
trìu tượng.
3.3/ Lượng giá trị hàng hóa
Giá trị hàng hóa là do lao động trìu tượng của người sản xuất hàng hoá kết tinh
trong hàng hoá. Vậy, lượng giá trị hàng hoá do lao động tiêu hao để làm ra hàng hoá
quyết định. Lượng lao động tiêu hao ấy được tính theo thời gian lao động.
Trong thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một loại hàng hoá, nhưng điều kiện
sản xuất, trình độ tay nghề, năng suất lao động khác nhau, do đó thời gian lao động
để sản xuất ra hàng hoá là không giống nhau, tức là hao phí lao động cá biệt khác
nhau. Thế nhưng lượng giá trị hàng hoá không phải tính bằng thời gian lao động cá
biệt, mà tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết. Thời gian lao động xã hội cần
thiết là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một một hàng hoá nào đó trong
những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội, với một trình độ thành thạo trung
bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội.
Trong thực tế, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá
thường trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ
phận loại hàng hoá đó trên thị trường. Cần chú ý rằng, trình độ thành thạo trung
bình, cường độ lao động trung bình, điều kiện lao động bình thường của xã hội ở
mỗi nước, mỗi ngành là khác nhau và thay đổi theo sự phát triển của lực lượng sản
xuất. Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá thay đổi thì lượng

lao động.
Các hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, nên có giá trị
cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì các hàng hoá đều phải đựơc trao đổi
theo giá trị xã hội. Người sản xuất có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội ở thế có
lợi, sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch; người sản xuất có giá trị cá biệt lớn hơn giá
trị xã hội thì ở thế bất lợi. Muốn đứng vững trong cạnh tranh và khỏi bị phá sản, họ
phải làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá của mình nhỏ hơn, hay bằng giá trị xã hội.
Do đó, họ tìm cách cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động. Lúc
đầu việc cải tiến còn lẻ tẻ, nhưng do cạnh tranh với nhau, nên cuối cùng việc cải
11
11
tiến mang tính xã hội. Rõ ràng, quy luật giá trị thông qua tác động này đã thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển.
Thứ ba: Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá giàu - nghèo giữa những
người sản xuất hàng hoá.
Trong quá trình cạnh tranh chạy theo lợi ích cá nhân, những người sản xuất
hàng hoá có điều kiện sản xuất khác nhau, tính năng động khác nhau, khả năng nắm
bắt nhu cầu thị trường khác nhau, khả năng đổi mới kỹ thuật , công nghệ, hợp lý
hoá sản xuất khác nhau, do đó giá trị cá biệt của hàng hoá khác nhau, phù hợp với
nhu cầu xã hội và thị trường khác nhau. Trong tình trạng đó không tránh khỏi tình
trạng một số người giàu lên, mua sắm thếm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh
doanh, còn một số người khác bị thua lỗ, thu hẹp sản xuất, thậm chí phá sản trở
thành người nghèo. Đầu cơ, lừa đảo, khủng hoảng kinh tế làm tăng thêm tácđộng
phân hoá này. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước
xã hội chủ nghĩa cần phải có sự điều tiết để hạn chế sự phân hoá giàu nghèo.
IV: SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ CỦA SẢN XUẤT VÀ LƯU
THÔNG HÀNG HÓA TRONG XÂY DỰNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA NƯỚC TA
12
12

13
triển của lực lượng sản xuất, các thành phần kinh tế, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước. Thích ứng với đặc trưng này là chiến lược
về xuất khẩu, chuyển giao công nghệ mới; đồng thời với việc sản xuất thay thế nhập
khẩu những hàng hoá ta có điều kiện và lợi thế.
- Bốn là: Kinh tế thị trường tồn tại và phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa được thực hiện qua vai trò chủ đạo trong thực tế của khu vực kinh tế nhà
nước; qua việc giữ gìn và phát huy truyền thống bản sắc dân tộc Việt Nam và qua
vai trò quan lý kinh tế vĩ mô của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Như ta đã biết hầu hết các nước đi theo kinh tế thị trường hiện đại đều có sở hữu
nhà nước và do đó có khu vực kinh tế nhà nước. Song một vấn đề có ý nghĩa về
nguyên tắc là cần phân biệt sự khác về bản chất kinh tế thị trường ở nước ta và kinh
tế thị trường ở các nước khác về định hướng phát triển kinh tế thị trường.
Một yếu tố rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, đó là sự tác động của nhà nước thông qua vai trò quản lý vĩ mô đối với nền
kinh tế thị trường. Với tư cách là cái chung của kinh tế thị trường hiện đại, vai trò
nói trên của nhà nước thì các nước đều có, nhưng ở nước ta, vai trò đó có sự khác
biệt.
2/ Mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta.
Việt Nam là nước phát triển muộn về kinh tế thị trường, lại diễn ra trong bối
cảnh khác nhiều so với trước. Để nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, rút ngắn
khoảng cách lạc hậu, tụt hậu xa so với các nước, giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa đã chọn, không thể phát triển theo mô hình kinh tế thị trường cổ điển, mà nên
chọn mô hình phát triển kinh tế rút ngắn, hiện đại là thích hợp. Tất nhiên không
hoàn toàn giống như các nước đã đi theo mô hình này, nhất là về tính định hướng xã
hội chủ nghĩa của nó. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta bao gồm các đặc trưng chủ yếu sau:
- Phát triển trong sự kết hợp hài hoà giữa quy luật phát triển tuần tự với quy luật
phát triển nhảy vọt.

huy tính hiệu quả.
15
15
Thứ hai: Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế.
Việc chuyển từ chế độ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường
thì cùng với nó là loài bỏ cơ chế xin cho, cấp phát, bảo hộ trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp phải tự hoạch toán, không bị ràng buộc quá đáng bởi
các chỉ tiêu sản xuất mà nhà nước đưa ra, phải tự nghiên cứu để tìm ra thị trường
phù hợp với các sản phẩm của mình, thực hiện sự phân đoạn thị trường để xác định
tấn công vào đâu, bằng những sản phẩm gì.
Mặt khác, cùng với xu hướng công khai doanh nghiệp để giao dịch trên sàn giao
dịch chứng khoán, thúc đẩy tiến trình gia nhập AFTA, WTO; mỗi cá nhân, mỗi
doanh nghiệp đều phải nâng cao sức cạnh tranh của mình để có thể đứng vững khi
bão táp của quá trình hội nhập ập đến. Sức cạnh tranh được nâng cao ở đây là nói
đến sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp trong
nước, giữa các doanh nghiệp trong nước và với các doanh nghiệp nước ngoài, giữa
cá nhân trong nước với cá nhân trong nước, giữa cá nhân trong nước với cá nhân
nước ngoài.
Thứ ba: Tạo ra sự năng động của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Trước sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thì đòi hỏi các thành phần kinh tế
phải năng động. Trong cạnh tranh, mỗi người phải tìm cho mình một con đường đi
mới trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh một cách có hiệu quả nhất. Các con đường
đó sẽ vô vàn khác nhau, các con đường đó luôn tạo ra những lĩnh vực sản xuất mới.
Cạnh tranh năng động sẽ làm cho hàng hoá đa dạng về mẫu mã, nhiều về số lượng,
cao về chất lượng. Mặt khác, do sự đào thải của quy luật giá trị thì đòi hỏi các thành
phần kinh tế phải năng động.
Thứ tư: Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.
Mỗi nước đều có những lợi thế, ưu thế riêng. Do thời gian và xuất phát điểm
của nền kinh tế khác nhau nên khi nước này cần vốn thì nước kia lại thừa; do tốc độ
phát triển khác nhau nên khi nước này phát triển thì nước kia lại quá lạc hậu; do sự

Nhà nước phát huy tác động tích cực và to lớn đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và
khắc phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường
17
17
KẾT LUẬN
Thông qua sự nghiên cứu ở trên, ta khẳng định lại một lần nữa tầm quan trọng của
quy luật giá trị. Quy luật giá trị không chỉ điều tiết lĩnh vực sản xuất, mà còn điều
tiết cả lĩnh vực lưu thông qua sự biến động của giá cả. Hàng hoá được đưa từ nơi có
giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn
cầu. Quy luật giá trị kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất nhằm tăng
năng suất lao động. Nó còn thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá giàu - nghèo
giữa những người sản xuất hàng hoá. Đối với mô hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa như ở nước ta hiện nay thì việc tìm hiểu và vận dụng quy
luật giá là một việc làm hết sức quan trọng. Qua đó có thể phát huy được các tác
động tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực, điều này góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế của đất nước.
18
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình kinh tế học chính trị Mác-Lênin
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2004
2. Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Phan Thanh Phố
3. Giáo trình Kinh tế quốc tế
Học viện tài chính Hà Nội
4. Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế
Học viện hành chính quốc gia Hà Nội
5. Giáo trình kinh tế chính trị (chương trình cao cấp)
Tập một: Chủ nghĩa tư bản
Học viện chính trị quốc gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status