Trong cơ cấu vốn đầu tư, vốn của tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài ngày càng
chiếm tỉ trọng lớn năm 1990 vốn nhà nước chiếm 43,8%, vốn của tư nhân và vốn
của dân cư chiếm 41,5% và vốn GDI chiếm 14,7%. Năm 1995 tỷ lệ tương ứng của
vốn GDI có chiều hướng giảm mạnh, năm 2000 mặc dù có dấu hiệu tăng trở lại
cũng chỉ đạt khoảng 18,6% của tổng dân cư xã hội. Đầu tư của tư nhân trong nước
không còn ở mức thấp mà còn tăng chậm, kết hợp với xu hướng giảm của FDI đã
ảnh hưởng xấu tới việc tăng trưởng kinh tế. Từ đó gây sức ép cho đầu tư từ ngân
sách nhà nước.
Tiết kiệm trong nước trên GDP tăng từ 2,9% năm 1990 lên 18,25 năm 1995, năm
1996 có giảm nhẹ và từ 1997 trở đi tăng liên tục, đạt 23,6% năm 1999. Trong cả
thập kỷ 90, tỉ lệ tiết kiệm/GDP tăng liên tục, kích thích đầu tư, từ đó thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
Điều này còn thể hiện rõ hơn qua tỷ lệ trong đầu tư tăng so với tổng vốn sử dụng
dành cho tiêu dùng, tích luỹ tăng nhanh từ 12,9% năm 1990 lên 24,95 năm 1995 và
ước khoảng 27,95 năm 2000. Tiết kiệm trong nước tăng nhanh đã giảm sức ép, phụ
thuộc vào vốn đầu tư từ bên ngoài, góp phần quan trọng cho tăng trưonửg kinh tế
bền vững hơn.
e) Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Một trong những tác động quan trọng nhất của chuyển đối nói chung và của tăng
trưởng kinh tế nói riêng là cải thiện chỉ số GDP bình quân đầu người. Theo giá hiện
hành, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng từ 222 USD năm 1991 lên
400 USD năm 2000.
Thu nhập của nhóm dân cư tăng đã làm thay đổi cơ cấu chi tiêu theo hướng tích
cực. Tỉ lệ chi tiêu dành cho ăn uống giảm từ mức 665 năm 1993 xuống còn 53%
năm 1998, đồng thời chi cho sinh hoạt tăng từ 34% năm 1993 lên 47% năm 1998.
So sánh mức thu nhập giữa thành thị nông thôn và các vùng có sự chênh lệch đáng
kể, mức thu nhập ở thành thị đạt 832,5 nghìn đồng/tháng năm 1999 tăng 17,8% năm
so với năm 1996, nếu loại trừ lạm phát thì mức tăng là 13,1%/năm (theo kết quả của
điều tra mức sống dân cư năm 1999 của Tổng cục Thống kê). Mức thu nhập ở nông
thôn đạt 225 nghìn đồng/tháng tăng 6,2% so với cùng kỳ nếu loại trừ yếu tố giá chỉ
còn tăng 1,9%. Như vậy mức thu nhập ở khu vực thành thị gấp 3 lần mức thu nhập
Quy luật giá trị tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Nếu không có cạnh
tranh thì không có kinh tế thị trường nên nó dần hoàn thiện cơ chế thị trường đang
được xây dựng ở nước ta.
Tuy nhiên quy luật giá trị có tác dụng phân hoá những người sản xuất nhỏ, phân hoá
giàu nghèo, dẫn dến bất công bằng trong xã hội. Từ đó hình thành nên mâu thuẫn
giữa hiệu quả và công bằng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước
ta.
2.2. Những giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta trong thời
gian tới
2.2.1. Điều tiết khống chế quản lý vĩ mô đồng thời có sự giám sát của xã hội, nhằm
khắc phục nhược điểm và mặt tiêu cực của thị trường. Muốn thế nhà nước cần có
những giải pháp như: Hoạch định chính sách ngành nghề dài hạn cho nền kinh tế
quốc dân. Thực hiện quản lý, giám sát và bảo vệ trật tự thị trường. Hoạch định
chính sách thu nhập, điều tiết phân phối thu nhập v.v
2.2.2. Nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập, tham gia tổ chức thương
mại quốc tế WTO.
Trong thời gian tới nước ta sẽ bắt đầu tiến trình hội nhập các tổ chức kinh tế trong
khu vực và thế giới. Vì vậy cần phải nâng cao sức cạnh tranh trên mọi lĩnh vực. Bao
gồm 3 yếu tố: khả năng cạnh tranh của từng mặt hàng dịch vụ, khả năng cạnh tranh
của quốc gia và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Muốn nâng cao sức cạnh tranh cần đầu tư vào nghiên cứu, ứng dụng và triển khai
khoa học công nghệ (KHCN). Bởi vì đầu tư vào KHCN làm giảm chi phí cá biệt
tăng năng suất lao động, từ đó tăng khả năng cạnh tranh. Mặt khách kích thích việc
nghiên cứu KHCN bằng nhiều cách như: đầu tư về trang thiết bị, xây dựng văn bản
pháp luật về "bảo hộ sở hữu trí tuệ" v.v
Hiện nay đất nước ta đang cố gắng hoàn thiện nền kinh tế tiến tới tham gia tổ chức
thương mại thế giới WTO.
WTO là tổ chức thương mại thế giới điều chỉnh những hoạt động buôn bán đa
phương mang tính chất tương đối tự do, công bằng và tuân thủ những luật lệ rõ
ràng. Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được hưởng nhưng cũng không ít thách thức
trước mắt và cuối cùng là xây dựng một cơ cấu công nghiệp hợp lý. Về thủ tục gia
nhập WTO, hiện nay còn rất phức tạp và quá trình gia nhập còn quá kéo dài. Hơn
thế nữa, những mục đích gia nhập thường xuyên thay đổi, trong khi đó những cuộc
đàm phán kéo dài và những lợi ích mới trong mỗi thành viên lại đạt ra những vấn đề
mới. Vì vậy cần phải duy trì các tiêu chuẩn và không làm mất hiệu lực các luật lệ
của WTO. Như vậy vẫn tồn tại một mâu thuẫn giữa việc kết nạp thêm nhiều nước
vào WTO và nhu cầu duy trì đặc tính của nó.
2.2.3. Giảm bất bình đẳng xã hội, giải quyết mâu thuẫn giữa hiệu quả và công bằng
Về mặt khách quan bộ phận dân cư cần được hỗ trợ của các chính sách xã hội được
chia thành hai phần. Phần dân cư chịu sự thiệt thòi tự nhiên so với phần còn lại do
họ bị khiếm khuyết mặt nào đó trong năng lực cá nhân và do đó thường xuyên có
thu nhập thấp. Đó chủ yếu là người tàn tật, thương binh, gia đình chính sách, các
dân tộc thiểu số có trình độ văn hoá thấp. Phần còn lại bao gồm những cá nhân gặp
khó khăn về thu nhập không thường xuyên do biến động của kinh tế, chính trị, chiến
tranh và thiên tai. Bộ phận này luôn thay đổi theo tình hình phát triển kinh tế của đất
nước.
Nhìn chung gánh nặng phúc lợi xã hội của nước ta khá lớn do hậu quả chiến tranh
kéo dài do điều kiện kinh tế xã hội quá thấp và do tốc độ tăng dân số quá nhanh
trong khi đất đai, tài nguyên của nước ta không giàu có lắm. Chính phủ không thể
không gánh vác vấn đề này. Để giải quyết nó chính phủ cần xây dựng phát huy các
chính sách như: tạo ra cơ hội có việc làm, mở các trường dạy nghề, giúp đỡ gia đình
neo đơn khó khăn. Đóng thuế thu nhập cá nhân, gây dựng quỹ phúc lợi xã hội.
Hiện nay việc giải quyết chế độ cho người thất nghiệp ở Việt Nam còn khá tự phát
và lộn xộn tuỳ thuộc chủ yếu vào năng lực taì chính của doanh nghiệp, vào chế độ
lương và việc làm của nhà nước trong từng thời kỳ, vào chính sách đào tạo của nhà
nước cũng như nhiều yếu tố khác. Chính vì chưa có đường hướng rõ ràng về vấn đề
này, nên công tác xử lý lao động dôi dư ở các doanh nghiệp cổ phần hoá gặp không
ít khó khăn. Về lâu dài, nhà nước cần phải có chính sách rõ ràng, nhằm vừa tạo điều
kiện vận hành kinh tế một cách có hiệu quả, vừa ổn định xã hội.
Tóm lại, kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến phân hoá giàu nghèo. Song sự phân hoá
5. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin - NXB Giáo dục.
6. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa - NXB Chính trị quốc gia.
7. Lý luận chính trị số 1/2002
8. Số liệu nguồn báo cáo phát triển kinh tế, con người của Tổng cục thống kê.