Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 - 2007 và định hướng đến năm 2020 - Pdf 21

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
________________
Huỳnh Phẩm Dũng Phát

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
TỈNH TIỀN GIANG THỜI KỲ 1995 – 2007
VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020 LUẬN VĂN THẠC SĨ ÐỊA LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
________________
nh tế (CCKT), chuyển
dần từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ.
Thực tiễn lịch sử phát triển kinh tế của các nước nói chung cũng như ở Việt
Nam nói riêng trong thời gian qua đã chỉ ra rằng những thành công hay thất bại
trong việc phát triển kinh tế đều bắt nguồn từ việc xác định CCKT có hợp lí hay
không. Để thúc đẩy kinh tế phát triển, đạt hiệu quả cao và bền vững, việc xác định
và hoàn t
hiện một CCKT hợp lí, phù hợp với xu hướng phát triển chung của nền
kinh tế không chỉ là yêu cầu có tính khách quan, mà còn là một trong những nội
dung chủ yếu của quá trình CNH, HĐH đất nước.
Tiền Giang là tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với
nền kinh tế còn nặng về nông nghiệp. Trong những năm qua, cùng với cả nước,
Tiền Giang đang trong tiến trình xây dựng và phát triển the
o hướng CNH, HĐH.
CCKT của tỉnh từng bước được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, tuy nhiên
do nhiều nguyên nhân khác nhau sự chuyển dịch còn chậm và chưa vững chắc.
Từ năm 2006, Tiền Giang gia nhập vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
(KTTĐPN) tạo điều kiện thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh. Với yêu cầu
đẩy mạnh CNH, HĐH và nhất là đứng trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập
quốc tế sâu rộng như hiện na
y, đòi hỏi CCKT phải được chuyển dịch nhanh và hiệu
quả hơn trong thời gian tới.
Xuất phát từ cơ sở lí luận, từ thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT)
tỉnh Tiền Giang và tính cấp thiết của vấn đề, tác giả chọn đề tài “Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007 và định hướng đến năm 2020” để
nghiên cứu và m
ong muốn đóng góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp phát triển kinh tế
của tỉnh nhà trong thời gian tới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn về

2007. Phần định hướng, đề xuất một số giải phá
p chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến
năm 2020.
4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là xu thế tất yếu của đất nước trong quá trình phát
triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. CDCCKT giữ vai trò quan
trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH. Trong thời gian qua, ở nước ta đã có nhiều
công trình nghiên cứu về CCKT và sự CDCCKT. Trong đó, có một số công trình
tiêu biểu về mặt lí luận và thực tiễn như: “Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành ở t
hành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
của TS. Trương Thị Minh Sâm (chủ biên) năm 2000; “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ 21” của TS. Nguyễn Trần Quốc (chủ biên)
năm 2004; “Định hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế vùng kinh tế
trọng điểm ph
ía Nam” của TS. Trần Du Lịch, PGS. TS. Đặng Văn Phan (chủ
nhiệm đề tài) năm 2004; “Các cấp ủy Đảng ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính
trị” của Trần Trác, Trần Văn năm 2005; “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt
Nam” của PGS. TS. Bùi Tất Thắng (chủ bi
ên) năm 2006; “Những vấn đề chủ yếu
về kinh tế phát triển” của PGS. TS. Ngô Doãn Vịnh năm 2006;…
Đối với tỉnh Tiền Giang chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu
về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Các đề tài chỉ dừng ở mức nghiên cứu
chung về kinh tế xã hội như: “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Tiền Giang đến năm
2020” của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang; hay nghiên
cứu, quy hoạch về từng ngành kinh tế riêng lẻ như “Quy hoạch phát triển ngành
công nghiệp tỉnh Tiền Giang đến 2010” của Sở Công nghiệp tỉnh Tiền Giang,
“Báo cáo rà soát, bổ sung quy hoạch ngành nông lâm nghiệp – nông thôn giai đoạn

.
5.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Quá trình phát triển kinh tế và CDCCKT có sự biến chuyển theo thời gian và
không gian. Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh vào trong nghiên cứu đề tài để
thấy được nguồn gốc nảy si
nh, quá trình diễn biến của các yếu tố kinh tế trong từng
giai đoạn, trong những điều kiện thời gian và không gian cụ thể. Từ đó đánh giá
chính xác hiện trạng CDCCKT trong hiện tại và định hướng phát triển của các
ngành kinh tế, CDCCKT Tiền Giang trong tương lai.
5.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Nghiên cứu những vấn đề kinh tế phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát
triển bền vững. Phát triển bền vững đã trở th
ành mục tiêu phát triển KT – XH của
hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới. Phát triển KT - XH, CDCCKT phải đi đôi
với sử dụng hợp lí, bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, chống gây ô nhiễm môi
trường; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
Đây là một phương pháp rất quan trọng vì trên cơ sở những nguồn tài liệu, số
liệu có liên quan đến nội dung nghiê
n cứu thu thập được từ sách báo, tạp chí khoa
học, internet, niên giám thống kê, các báo cáo thường niên, quy hoạch tổng thể của
Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ban ngành tác giả mới rút ra được các đặc điểm về
tình hình phát triển kinh tế xã hội cũng như nhìn nhận, đánh giá chính xác sự
CDCCKT tỉnh Tiền Giang.
5.2.2. Phương pháp thống kê toán học
Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyê
n như công cụ để phân tích,
lựa chọn những giá trị đúng nhất, gần với thực tiễn trên cơ sở các nguồn số liệu thu

Ngoài ra, đề tài còn thể hiện các mối quan hệ địa lí thông qua hệ thống các
bảng số liệu và biểu đồ.
5.2.
7. Phương pháp dự báo
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình vận động và phát triển lâu dài, muốn
thành công thì phải dự báo trước sự phát triển để có hướng điều chỉnh CCKT phù
hợp, đúng đắn. Đề tài sử dụng phương pháp dự báo xu hướng và dự bá
o biến động
dựa trên cơ sở tính toán từ các nguồn số liệu đã thu thập được, sự phát triển có tính
qui luật, những biến động của các sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và
tương lai.
6.Cấu trúc của luận văn
Đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007 và
định hướng đến năm 2020” ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung ba
o gồm
ba chương:
Chương I: Cơ sở lí luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chương II: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007.
Chương III: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền
Giang đến năm 2020.
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

1.1. Cơ cấu kinh tế
1.1.1. Khái niệm cơ cấu, cơ cấu kinh tế
Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện một chức năng của
chỉnh thể [36, tr.223].
Từ “cơ cấu” tương đương với từ “structure” hay “construction”. Nhưng chính
xác hơn “structure” tương ứng với thuật ngữ “cấu trúc” của Việt Nam và thực sự có
ý nghĩa rộng hơn thuật ngữ cơ cấu. Cấu trúc là một khái niệm nó

loại cơ cấu thường không tồn tại một cách cố định bất b
iến mà có sự thay đổi,
chuyển dịch cần thiết, phù hợp với biến động và thay đổi của điều kiện tự nhiên,
kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử.
CCKT không chỉ quy định về số lượng và tỉ lệ giữa các yếu tố cấu thành, biểu
hiện về lượng (là sự tăng trưởng của hệ thống), mà còn thể hiện những mối quan hệ
cơ cấu giữa các yếu tố, biểu hiện về chất (là sự phát triển của hệ thống). Mối qua
n
hệ giữa lượng và chất trong cơ cấu của nền kinh tế thực chất là những biểu hiện về
tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đó. Nền ki
nh tế chỉ có thể ổn định và tăng
trưởng bền vững khi có cơ cấu cân đối, hợp lí. Như vậy, nghiên cứu CCKT nhằm
nhận biết cấu trúc của nền kinh tế và phát hiện xu hướng vận động của nền kinh tế
theo từng thời kỳ để có những tác động cần thiết, thúc đẩy các xu hướng tích cực
hay hạn chế những tiêu cực, tiến tới đạt các mục tiêu định trước. N
ghiên cứu CCKT
có ý nghĩa rất lớn đối với thực tiễn phát triển kinh tế trong từng thời kỳ phát triển
KT - XH của đất nước.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ: nền kinh tế quốc dân có
một cơ cấu kinh tế hợp lí là cơ cấu kinh tế trong đó các ngành, các vùng, các thành
phần, các loại hình sản xuất có qui mô và trình độ kĩ thuật khác nhau phải được bố
trí cân đối, liên kết với
nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm cho nền kinh
tế phát triển ổn định.
Theo tác giả luận văn, CCKT là tổng thể những mối liên hệ giữa các bộ phận
hợp thành nền kinh tế gồm các ngành sản xuất, các thành phần kinh tế, các vùng
kinh tế. CCKT là một hệ thống động, biến đổi không ngừng nhằm đạt hiệu quả cao
về mặt kinh tế xã hội và môi trường tr
ong những điều kiện cụ thể của đất nước, phù
hợp với mục tiêu đã xác định của nền kinh tế.

nh
kinh tế cấp 4 và 642 ngành kinh tế cấp 5.
Theo quan điểm hiện nay của nước ta, các ngành cấu thành KVI gồm có nông,
lâm nghiệp và thủy sản. Đến lượt mình, nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi
và dịch vụ nông nghiệp; còn lâm nghiệp có trồng, chăm sóc rừng và khai thác lâm
sản; thủy sản có đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản. KVII là công nghiệp và xây
dựng; công nghiệp lại bao gồm nhiều phân ngành thuộc ba nhóm: công nghiệp khai
thác mỏ; công nghiệp chế biến; sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước. KVIII
là tập hợp của nhiều ngành và hoạt động liên quan đến dịch vụ với đặc điểm chung
là các sản phẩm tạo ra không tồn tại dưới hình thái vật thể bao gồm: kh
ách sạn và
nhà hàng; vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; tài chính, tín dụng; hoạt động khoa
học và công nghệ; các hoạt động liên quan tới kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn;
giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động cứu trợ xã hội; hoạt động văn hóa, thể
thao;…
Đối với nền kinh tế quốc dân chuyển dịch cơ cấu ngành có nghĩa là sự vận
động và biến đổi của các ngành kinh tế thuộc khu vực I, II, III theo chiều hướng
tăng tỉ lệ các ngành khu vực II và III, giảm tỉ lệ các ngành khu vực I trong cơ cấu
tổng sản phẩm q
uốc nội (GDP).
1.1.2.2. Cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế gắn với các loại hình sở hữu nhất định về tư liệu
sản xuất. Tùy theo phương thức sản xuất mà có các thành phần kinh tế chiếm địa vị
chi phối ha
y chủ đạo và các thành phần kinh tế khác cùng tồn tại [19, tr.24].
Nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần gồm kinh
tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước (tập thể, tư nhân, các thể) và khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế được xác định với vai trò khác nhau,
trong đó lấy kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể làm nền tảng.
Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng

theo một cấu trúc hợp lí, mà nhờ đó có thể tạo ra khả năng tăng trưởng kinh tế trong
quá trình vận hành nó.
CCKT theo ngành, theo thành phần và theo lãnh thổ là sự biểu hiện về bản
chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền kinh tế, giữa chúng có mối quan hệ
tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trò chủ đạo trong
toàn bộ quá trình phát triển, cơ cấu theo thành phần kinh tế giữ vai trò quan trọng
để thực hiện cơ cấu ngành và cơ cấu theo lãnh thổ là cơ sở cho các ngành, các
thành phần kinh tế phân bố hợp l
í các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân đối
và đạt hiệu quả cao giữa các ngành và giữa các thành phần kinh tế của một nền
kinh tế. 1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành cơ cấu kinh tế
Có nhiều nhân tố tác động đến việc hình thành cơ cấu kinh tế. Tựu chung lại,
có thể chia thành hai nhóm nhân tố chính sau:
Nhóm nhân tố trong nước
Thị trường và nhu cầu tiêu dùng trong nước là nhân tố có ý nghĩa quan trọng
đối với việc hình thành CCKT. Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến phân công lao
động xã hội cũng như qui mô, tỉ trọng của các ngành trong cơ cấu nền kinh tế.
Trình độ phát triển của sức sản xuất góp phần phá vỡ thế cân đối cũ để tạo nê
n
CCKT mới với sự thay đổi về tương quan giữa các bộ phận hợp thành, nhằm thích
hợp với yêu cầu của đất nước trong thời kỳ mới.
Đường lối, chính sách của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể có vai trò
quan trọng hàng đầu đối với việc hình thành cơ cấu kinh tế.
Nguồn lực
trong nước là tiền đề vật chất để hình thành CCKT. Tuy nhiên,
nguồn lực này chỉ được phát huy mạnh mẽ thông qua sự tác động của một số nhân
tố khác.

hì tỉ lệ lao
động KVI khá cao và KVII đang dần chiếm vị trí quan trọng trong CCKT.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi CCKT từ trạng thái này sang trạng
thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển. Về thực chất, đó là sự điều chỉnh
cơ cấu trên ba mặt biểu hiện (ngành, lãnh thổ, thành phần kinh tế) nhằm hướng sự
phát triển của cả nền kinh tế vào các chiến lược KT - XH đã được đề ra cho từng
thời kỳ cụ thể [37, tr.209].
CDCCKT ở nước ta thực chất là quá trình cải biến K
T - XH từ lạc hậu, mang
tính chất tự cấp, tự túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kĩ thuật, công
nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh
cho nền kinh tế [4, tr.535]. Quá trình chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa các
ngành của nền kinh tế mà bắt đầu từ nội bộ của từng ngành t
heo những xu hướng
nhất định.
CDCCKT có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển KT - XH của mỗi quốc
gia. Nó giúp cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, vững chắc và mặt khác, có
khả năng hội nhập với khu vực và thế giới.
Theo tác giả, CDCCKT là sự điều chỉnh cơ cấu trên các mặt biểu hiện gồm cơ
cấu ngành, lãnh thổ và thành phần kinh tế nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội
và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế để đạt được những mục tiêu kinh tế xã
hội đã đề ra cho từng thời kỳ cụ thể.

1.2.2. Tính tất yếu khách quan của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Mỗi cơ cấu kinh tế đều mang tính lịch sử và xã hội nhất định, nền kinh tế chỉ
phát triển khi những bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội xác lập được những

còn tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống. Tức là tỉ trọng các ngành có năng suất
lao động cao, chứa đựng hàm lượng công nghệ cao và chất xám cao ngày càng lớn
và các ngành có năng suất lao động thấp giảm đi trong toàn bộ lao động xã hội. Xu
hướng tăng, giảm này diễn ra càng nhanh càng tốt. Quá trình CDCCKT bắt đầu từ
sự chuyển dịch những ngành then chốt hay chủ lực có tính mũi nhọn.
- Trong nội bộ các ngành, tỉ trọng sản xuất hàng hóa tăng lên, làm cho độ mở
của nền kinh tế lớn lên. Độ mở của nền ki
nh tế càng lớn càng chứng tỏ nền kinh tế
hội nhập càng mạnh với bên ngoài. Bên cạnh mặt tích cực của xu hướng này cũng
phải chú ý đến vấn đề phụ thuộc lẫn nhau vào bên ngoài khi mở cửa lớn, khi hội
nhập sâu.
- Xu hướng chuyển dịch các thành phần ki
nh tế cũng diễn ra đồng thời theo
qui luật chung: tỉ trọng của bộ phận kinh tế ngoài nhà nước ngày càng tăng, tỉ trọng
của kinh tế nhà nước có thể giảm xuống một cách tương đối song vẫn phải giữ vững
vai trò đảm bảo an toàn cho toàn bộ nền kinh tế vì đó là điều cần thiết.
- CCKT chuyển dịch từ đơn giản đến phức tạp (tức là số ngà
nh, số sản phẩm
ngày càng nhiều; phạm vi liên kết ngày càng rộng: từ ít đến nhiều, từ trong nước ra
ngoài nước) và cũng tức là từ trạng thái có trình độ thấp sang trạng thái có trình độ
cao hơn (ý nói về trình độ công nghệ và qui mô, chất lượng sản xuất hàng hóa ngày
một cao) nhằm đem lại lợi ích lớn hơn như mong muốn của con người qua các thời
kỳ phát triển.
1.2.
4. Các nguyên tắc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CDCCKT phải xuất phát từ sự thay đổi của những ngành chủ lực, đáp ứng yêu
cầu ngày càng tăng về qui mô, chất lượng, khả năng cạnh tranh và phát triển bền
vững trên cơ sở phát huy có hiệu quả các lợi thế so sánh có tính tới điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa và tiến bộ khoa học công nghệ.
CDCCKT phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và qua

Thực tế chỉ ra rằng tiến bộ khoa học công nghệ cũng như tác động cải tiến
công nghệ tác động trực tiếp và có tính quyết định đến hì
nh thành và phát triển
CCKT. Tiến bộ khoa học công nghệ làm thay đổi tận gốc các thành phần tạo nên
CCKT. Trước hết điều đó thể hện ở mỗi khi khoa học công nghệ tiến bộ, nó làm
cho qui mô, chất lượng phát triển các ngành thay đổi và dẫn tới CCKT thay đổi. Khi
có tiến bộ khoa học công nghệ, các lãnh thổ có thể được kéo lại gần nhau, đư
ợc lôi
cuốn tham gia vào các quá trình sản xuất của nền kinh tế. Theo dự báo của các
chiến lược gia trong những năm tới dù bất cứ nền kinh tế phát triển ở trình độ thấp
hay cao cũng đều phải chú ý những hướng vào một trong những ngành như công
nghệ vũ trụ, công nghệ sinh học, gien và vật liệu mới, công nghệ thông tin,... Vai
trò của từng loại công nghệ mũi nhọn đối với từng nền kinh tế và từng thời kỳ phát
triển rất khác nhau. Đối với những nước đang phát triển hay phát triển đang còn ở
trình độ thấp thì công nghệ sinh học, công nghệ điện tử - tin học g
iữ vai trò quan
trọng hơn cả.
Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, liên kết, liên minh trở thành hiện
tượng phổ biến và có tính chủ đạo. Tự do hóa thương mại trở thành điều kiện
quan trọng cho phát triển
Ngày xưa khi nói đến toàn cầu hóa người ta không thể không nói đến chuỗi
giá trị toàn cầu với ý nghĩa các quốc gia tham gia chủ động và tích cực vào các quá
trình sản xuất tạo ra của cải xã hội cho nhâ
n loại trong điều kiện toàn cầu hóa, khu
vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình này các nước liên kết với nhau
theo nguyên tắc phân công lao động xã hội toàn cầu trên cơ sở thế mạnh của mỗi
nước có tính tới yêu cầu cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam khi xác định cơ cấu
kinh tế các tỉnh cũng phải tính tới điều kiện toàn cầu hóa, khu vực hóa, liên kết, liên
minh quốc tế và liên vùng nga
y trong nước. Các tỉnh kề cận thành phố phải tính tới

Trong những năm 1950 – 1970, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và một số
nước Đông Á khác đã áp dụng mô hình bằng cách thực hiện các hàng rào bảo hộ
nghiêm ngặt, giảm tối đa nhập khẩu. Chiến lược này trong thới gian đầu tỏ ra hiệu
quả, mang lại thành công cho một số ngành song sự thành công này không được lâu
bền. D
o áp dụng mạnh các chính sách bảo hộ nên sản xuất sớm rơi vào tình trạng trì
trệ, kém hiệu quả.
Mô hình chuyển dịch hướng ngoại
Đây là mô hình với xu thế đưa nền kinh tế phát triển theo hướng thiên về mở
cửa có khả năng thúc đẩy thương mại cùng với các nguồn đầu tư từ bên ngoài vào,
thu được nhiều lợi nhuận thông qua sản xuất hàng xuất khẩu.
Ưu điểm ch
ính của mô hình là thúc đẩy quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế
cũng như năng suất lao động xã hội và tạo ra khả năng thích nghi của nền kinh tế.
Dẫu sao, việc mở cửa cũng có những hạn chế tương đối như tính tự chủ của nền
kinh tế, khả năng phát triển công nghệ trong nước do nhập khẩu tư liệu sản xuất,
công nghệ và những rủi ro có thể xảy ra trên thị trường quốc tế.
Từ những năm 1980, những nước và vùng lãnh thổ đặc biệt xuất sắc như Hàn
Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông đã theo đuổi mô hình này và đạt được kết
quả thần kì trong tăng trưởng và CDCCKT. Tuy nhiên do phụ thuộc nhiều vào biến
động của thị trường thế giới làm cho việc áp dụng mô hình này không còn thuận lợi
như những thập niên qua.
Mô hình chuyển dịch theo hướng kết hợp nội lực với n
goại lực
Đây là mô hình tương đối phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Trong mô hình
này có sự kết hợp chặt chẽ giữa việc khai thác có hiệu quả nguồn lực trong nước với
việc mở rộng quan hệ với bên ngoài để xây dựng một nền kinh tế năng động. Một
trong những nét đặc trưng của mô hình là tập trung vào công nghiệp hóa cùng với
sự phát triển cân đối của ngành. Tuy nhiên,
mô hình cũng không chủ trương phát

phát triển như: công nghiệp dầu khí, sản phẩm thép, xi măng, cơ khí đóng tàu, lắp
ráp ô tô xe máy…

Biểu đồ 1.1: Cơ cấu GDP Việt Nam phân theo khu vực kinh tế
Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp đã có chuyển dịch đáng kể theo hướng công
nghiệp hóa, từng bước hiện đại hóa, phát huy lợi thế của từng ngành, từng sản
phẩm, gắn sản xuất với thị trường trong nước và quốc tế. Cơ cấu sản xuất và cơ cấu
sản phẩm công nghiệp đã được chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng công
nghiệp c
hế biến trong giá trị tăng thêm. Ngành công nghiệp chế biến đã bước đầu
khai thác được các lợi thế về nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước để nâng cao
chất lượng sản phẩm xuất khẩu.
Cơ cấu khu vực dịch vụ có những chuyển hướng tích cực. Các ngành dịch vụ
truyền thống như thương nghiệp, vận tải, bưu chính - viễn thông, khách sạn, nhà

hàng phát triển khá. Đặc biệt, một số ngành dịch vụ có tỉ lệ chi phí trung gian thấp
như ngân hàng, bảo hiểm… đã phát triển khá nhanh, góp phần làm cho giá trị tăng
thêm của ngành dịch vụ tăng cao. 1.4.2. Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Kinh tế nhà nước có xu hướng giảm tỉ trọng từ 40,2% năm 1995 xuống 36,4%
GDP vào năm 2007 [33, tr.76]. Kinh tế nhà nước mà trước hết là doanh nghiệp nhà
nước tiếp tục được đổi mới, sắp xếp lại theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3,
khóa IX, chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt và tập trung hơn vào những lĩnh
vực chủ yếu của nền kinh tế. Các doanh nghiệp sau khi sắp xếp lại hoạt động có
hiệu quả hơn, phát huy được vai trò tích cực v
à chủ động trong các hoạt động kinh
tế - xã hội.
Kinh tế ngoài nhà nước, nhất là kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển nhanh với

Kết quả cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu thành phần ki
nh tế trong thời
gian qua có ý nghĩa rất tích cực trong việc huy động tiềm năng các thành phần kinh
tế, khơi dậy tính sáng tạo và tạo động lực mới cho phát triển và hội nhập quốc tế.
Nguồn lực phát triển của các thành phần kinh tế đã đư
ợc huy động và sử dụng có
hiệu quả hơn.
1.4.3. Chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc đã khai thác tốt hơn thế mạnh về đất và
rừng, bước đầu phát huy để phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia
súc và kinh tế trang trại. Công nghiệp của vùng đã có bước phát triển phù hợp với
điều kiện của vùng như chế biến lâm sản, vật liệu xâ
y dựng; phát triển thủy điện,
nhiệt điện than, công nghiệp luyện kim, chế tạo cơ khí… CCKT trong vùng đã có
sự dịch chuyển tích cực. Tuy nhiên, tỉ trọng của vùng so với cả nước hiện khá thấp,
chỉ chiếm 6% GDP [14, tr.26].
Vùng đồng bằng sông Hồng đã hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối
đồng bộ, bước đầu phát triển một số ngành công nghiệp có trình độ công nghệ cao,
nông nghiệp cao sản và chất lượng cao; du lịch và dịch vụ đa dạng. CC
KT trong
vùng đã có sự dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa với tỉ trọng các ngành phi
nông nghiệp chiếm 83,8%. Tỉ trọng GDP của vùng hiện đứng thứ hai cả nước (sau
Đông Nam Bộ) chiếm 22,5%.
Vùng Duyên hải miền Trung đã chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng phát
huy lợi thế vùng ven biển, hải đảo. N
hiều khu kinh tế, khu, cụm công nghiệp bắt
đầu được xây dựng và từng bước phát huy hiệu quả; du lịch bước đầu được phát
triển; chuyển đổi cây trồng, mùa vụ, vật nuôi phù hợp, giảm thiểu tác động xấu của
thiên tai… GDP của vùng hiện bằng 14,5% của cả nước; CCKT trong vùng có sự
chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp khá rõ nét.

Trích đoạn Dựa vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Dựa vào nhận diện cơ hội và thách thức đem đến từ sự hội nhập Luận chứng các phương án Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status