BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ BẠCH TUYẾT BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH THỜI KÌ 1997 - 2007:
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành: Địa lí kinh tế - xã hội
Mã số: 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM THỊ XUÂN THỌ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
THƯ
VIỆN
Lời cảm ơn
TP. HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
TNGT : Tai nạn giao thông
VKTTĐPN : Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Địa lí dân cư là một ngành khoa học thuộc hệ thống của khoa học địa lí. Đối tượng của địa
lí dân cư là nghiên cứu tính quy luật và những đặc điểm phát triển về dân cư theo lãnh thổ (gia
tăng dân số, quy mô, mật độ, động lực, phân bố dân cư…) nhằm góp phần giải quyết những
nhiệm vụ kinh tế, trong phân công lao động, sử dụng hợp lí nguồn nhân lực, đáp ứng những nhu
cầu sản xuất và tiêu thụ trên các địa bàn với những khác biệt về dân số từng vùng.
Hiện nay, quy m
ô dân số thế giới đang ở mức cao và có sự khác nhau về gia tăng dân số
giữa hai nhóm nước phát triển và đang phát triển, đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết, ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của hai nhóm nước này. Phát triển dân số là một trong
những yếu tố quan trọng tác động đến quá trình phát triển kinh tế. Trong điều kiện hiện nay,
giải quyết vấn đề gia tăng dân số là một yếu tố quan trọng trong những giải pháp để phát triển
kinh tế, vừa có tính cấp bách vừa là vấn đề phải giải quyết lâu dài cùng với tiến trình phát triển
kinh tế - xã hội của các nước.
Thành phố Hồ Chí Minh - thành phố lớn nhất cả nước về quy m
ô dân số và tiềm lực kinh
tế, là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học kĩ thuật, trung tâm công nghiệp, đầu mối
giao thông vận tải và giao dịch quốc tế lớn nhất Việt Nam. Thành phố đang trong quá trình đô
thị hóa mạnh mẽ, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế cả nước. Trong thời gian qua, dân số TP.
HCM gia tăng nhanh chóng, trong đó chủ yếu do gia tăng dân số cơ học. Người nhập cư tự do
từ các vùng, các khu vực khác nhau của cả nước đổ về thành phố để học tập, lao động, sinh
sống... Sự gia tăng nhanh chóng dân cư vào đô thị có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế -
xã hội TP. HCM, đặt ra nhiều vấn đề giải quyết.
Tác
giả chọn đề tài: “Biến động dân số thành phố Hồ Chí Minh thời kì 1997 - 2007:
2.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
2.3.1 Về không gian
Đề tài tập trung phân tích, đánh giá biến động dân số TP. HCM thời kì 1997 - 2007 bao gồm
gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học. Đặc biệt chú ý đến sự biến động dân số các quận nội thành
cũ, quận đô thị hóa mới và các huyện ngoại thành trong thời gian gần đây. Phân tích nguyên nhân
và đánh giá những ảnh hưởng của gia tăng dân số đến phát triển kinh tế - xã hội TP. HCM.
2.3.2 Về thời gian
Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích biến động dân số TP. HCM trong thời kì đổi mới
nền kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn 1997 - 2007. Đây là thời kì mở cửa nền kinh tế, TP. HCM
có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, các ngành kinh tế phát triển sôi động, đa dạng nhiều ngành
nghề đã tạo lực hút mạnh mẽ đối với người lao động từ mọi miền đất nước đến TP. HCM, đẩy
nhanh quá
trình đô thị hóa, làm cho dân số thành phố gia tăng nhanh chóng. Đề tài cũng cập
nhật các số liệu mới bổ sung vào phần đánh giá của mình.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Biến động số dân có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự tăng lên hay
giảm đi của dân số (tăng giảm tự nhiên hay cơ học) đều ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, mật độ
dân số và lao động của một quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt
Nam. Vấn đề biến động dân số từ lâu đã t
hu hút được sự nghiên cứu của các nhà khoa học, đặc
biệt từ sau khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, gia tăng dân số diễn ra với tốc độ nhanh
chóng càng làm các nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm hơn.
Năm 1994 đề tài luận án TS của tác giả Nguyễn Kim Hồng về “Sự phát triển dân số và
mối quan hệ của nó với phát triển kinh tế - xã hội ở TP. HCM”. Đề tài phân tích sâu sắc sự phát
triển dân số của thành phố và xác định được những mối quan hệ thuận nghịch giữa sự phát triển
dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội ở TP. HCM. Đề tài cũng đã đưa ra nhiều phương hướng
giải quyết nhằm
phát triển dân số thành phố một cách hợp lí, phù hợp với sự phát triển kinh tế -
4.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Dân số, kinh tế, xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì vậy khi nghiên cứu sự phát
triển dân số của một vùng, một nước nào đó phải dựa trên nhiều yếu tố, xem xét trong mối quan
hệ tổng hợp tự nhiên, kinh tế, xã hội để làm cho gia tăng dân số phù hợp với phát triển nhằm
đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội, môi trường.
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Các đối tượng, hiện tượng địa lí đều có sự tác động qua lại với nhau trong một hệ thống
nhất định, khi một thành phần của hệ thống bị tác động làm nó thay đổi phát triển thì nó gây ra
những ảnh hưởng đến các thành phần khác của hệ thống, làm cho các thành phần đó cũng thay
đổi theo và cuối cùng làm cho cả hệ thống thay đổi.
TP. HCM là một trong hai đô thị lớn nhất và có tầm ảnh hưởng quan t
rọng nhất trong hệ
thống đô thị Việt Nam. Trong quá trình chuyển dịch nền kinh tế từ bao cấp sang cơ chế thị
trường, TP. HCM đã có những thay đổi lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội làm cho quá trình đô thị
hóa diễn ra mạnh mẽ và kéo theo là sự gia tăng dân số đô thị, phân hóa giàu nghèo, vệ sinh môi
trường… Do đó, khi nghiên cứu sự biến động dân số thành phố cần phải được nghiên cứu trong
mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại lẫn nhau trong hệ thống kinh tế - xã hội không chỉ riê
ng
TP. HCM mà rộng hơn là vùng Đông Nam Bộ và cả nước nói chung.
4.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Các hiện tượng địa lí đều có quá trình phát sinh, phát triển và thay đổi không ngừng theo
không gian và thời gian. Do đó, để đánh giá hiện tượng địa lí trong hiện tại và dự báo sự phát
triển của chúng trong tương lai, phải đứng trên quan điểm lịch sử, nghiên cứu quá khứ, hiện tại
và dự báo tương lai mới chính xác.
TP. HCM có lịch sử hình thành và phát triển hơn 300 năm với nhiều giai đoạn tăng giảm
dân số khác nhau. Mỗi giai đoạn lịch sử đều mang các bản sắc riêng do tác động của nhiều
nguyên nhân và ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội thành phố ở mức độ khác
về biến động dân số ở TP. HCM thời kì 1997 - 2007, so sánh sự khác biệt về gia tăng dân số
trong các giai đoạn lịch sử nhất định, sự gia tăng khác nhau giữa các quận, huyện; phân tích
nguyên nhân của sự biến động đó.
4.2.4 Phương pháp bản đồ biểu đồ
Khi nghiên cứu các vấn đề địa lí nói chung và kinh tế - xã hội nói riêng thì phương pháp
bản đồ, biểu đồ là phương pháp rất quan trọng cũng là một đặc thù của khoa học địa lí. Các bản
đồ cho phép chúng ta tìm hiểu vấn đề chính xác hơn, phong phú hơn thuận tiện trong việc so
sánh, đánh giá.
4.2.5 Phương pháp dự báo
Đây là giai đoạn khái quát hóa, hệ thống hóa thông tin ở mức cao nhằm xác định một vấn
đề trong tương lai. Phương pháp dự báo mang tính chất phức tạp và tính xác suất, tính chính
xác của dự báo còn phụ thuộc vào mối quan hệ với sự biến động kinh tế - xã hội của thành phố.
4.2.6 Phương pháp hệ thống thông tin địa lí (GIS
)
Hệ thống thông tin địa lí (GIS) được sử dụng phổ biến để lưu trữ, phân tích xử lí các thông
tin không gian lãnh thổ. Hệ GIS cho phép chồng xếp các thông tin địa lí để thấy được nét đặc
trưng riêng của các đối tượng địa lí. Luận văn sử dụng phần mềm MapInfo7.5 để thiết lập hệ
thống bản đồ minh họa cho đề tài.
5. Các đóng góp chính của đề tài
Tổng quan có chọn lọc một số vấn đề cơ bản lí luận về dân cư, các đặc điểm của biến động
dân số và vận dụng vào TP. HCM để tìm hiểu sự biến động dân số ở thành phố thời kì 1997
- 2007.
Phân tích sự biến động dân số ở TP. HCM thời kì 1997 - 2007, đánh giá nguyên nhân và
những tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Dự bá
o tốc độ gia tăng dân số thành phố trong tương lai, đưa ra các giải pháp phát triển dân
số và phân bố dân cư phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Dân số được thể hiện theo quy m
ô, cơ cấu và phân bố:
- Quy mô dân số: là tổng số người sống trên một lãnh thổ nhất định trong một khoảng thời
gian xác định.
- Cơ cấu dân số: là tỉ lệ dân số được phân loại theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác. Đây là những đặc trưng biểu t
hị chất lượng
dân số, có liên quan chặt chẽ với quy mô và tốc độ gia tăng dân số.
- Phân bố dân số: là sự sắp xếp số dân một cách tự phát hoặc tự giác trên một lãnh thổ phù
hợp với điều kiện sống của họ và với các yêu cầu nhất định của xã hội [28].
1.1.2 Các học thuyết dân số
Từ xưa đến nay trong dân số học đã xuất hiện nhiều học thuyết dân số nhằm mục đích
giải thích sự phát triển dân số của thế giới nói chung và từng khu vực nói riêng. Cách đây
khoảng 4000 năm người Ai Cập đã chú ý đến vấn đề sinh đẻ, nhân khẩu. Hippocrat, Aristote,
Platon đã bàn đến vấn đề dân số. Thời La Mã đã có những chính sách quốc gia về vấn đề dân
số. Các quốc gia phong kiến phương Đông cũng quan tâm đến vấn đề dân số trong chinh chiến
và xây dựng… Các học thuyết dân số này rất khác về cơ sở khoa học, độ tin cậy và mục đích sử
dụng. Nhiều lí thuyết thiên về màu sắc chính trị và tôn giáo, là công cụ cho các thế lực cai trị
đất nước. Trong các học thuyết có ba học thuyết tiêu biểu là học thuyết Malthus, học thuyết của
K. Marx và Engels và học thuyết quá độ dân số.
1.1.2.1 Học thuyết Malthus về dân số
Thomas Robert Malthus (1766 - 1834) là mục sư, nhà kinh tế học người Anh, người xây
dựng nên học thuyết
dân số. Thuyết Malthus một mặt bao gồm hệ thống quan điểm về tái sản
xuất dân cư và vai trò của nó trong việc phát triển xã hội và mặt khác, phản ánh đặc điểm lịch sử
của các quy luật dân số.
Căn cứ vào cơ sở thực tiễn về biến đổi dân số ở Hoa Kì vào cuối thế kỉ XVII và đầu thế kỉ
XVIII (dân số tăng gấp 2 lần t
rong vòng 15 năm). Malthus cho rằng “dân số có khuynh hướng
Học thuyết của Malthus bị K. Marx phê phán toàn bộ vì nó không phù hợp với tư tưởng
của Người về một chế độ Cộng sản chủ nghĩa. Mặc dù K. Marx và Engels không xây dựng một
học thuyết dân số cụ thể, các ông chỉ đưa ra những nguyên tắc cơ bản mà theo các ông sẽ quyết
định quy mô dân số và các quan hệ kinh tế - xã hội. Theo quan điểm của K. Marx “dân số là cơ
sở v
à là chủ thể của nền sản xuất xã hội” và cùng với phương thức sản xuất, hoàn cảnh địa lí
tạo nên tồn tại xã hội. K. Marx cho rằng không có một quy luật tự nhiên hoặc phổ biến nào
chung cho dân số và nói mỗi một phương thức lịch sử có các quy luật riêng về dân số, có tính
lịch sử và chỉ có giá trị trong phạm vi đó.
Engels, trong khi hoàn toàn ủng hộ quan điểm của K. Marx, cũng bổ sung thêm một số ý
kiến. Ông cho rằng, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, dư thừa nh
ân khẩu gắn với dư thừa tư bản và
mâu thuẫn đó của chủ nghĩa tư bản có thể khắc phục bằng sự tổ chức lại xã hội.
Trong tuyên ngôn Đảng Cộng sản và trong tác phẩm “Nguồn gốc loài người", K. Marx và
Engels cũng đã nói đến việc g
iải phóng phụ nữ. Mặc dù không nói đến điều đó sẽ làm giảm
mức sinh nhưng dù sao cũng là ý tưởng liên quan đến vấn đề dân số.
Có thể tóm tắt những ý chung nhất về học thuyết dân số của K. Marx và Engels như sau:
- Mỗi hình thái xã hội có quy luật riêng về dân số. Nguyên nhân của sự nghèo khổ nằm ngay
chính trong lòng của chủ nghĩa tư bản, mà sự thể hiện là ở sự bần cùng hóa giai cấp vô sản.
- Mỗi dân tộc có trách nhiệm x
ác định số dân tối ưu của mình, căn cứ vào những điều kiện địa
lí, tự nhiên và kinh tế - xã hội cụ thể của đất nước mình.
- Sự nghèo khổ không phải là định mệnh đi suốt lịch sử của mọi dân tộc. Xóa bỏ nghèo khổ là
phải xóa bỏ bất công, muốn vậy phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó chính là con đường để
thực hiện được mối quan hệ tối ưu giữa dân số và phát triển, giữa dân số và tài nguyên, tái tạo
vật chất [1
5], [35].
1.1.2.3 Học thuyết quá độ dân số (Demographic transition)
Hiện nay, quá độ dân số là một quan niệm được sử dụng rộng rãi trong dân số học để lí
Tỉ lệ tử
Tỉ lệ cao
Tỉ lệ thấp
gia. Trong đó, nghiên cứu biến động dân số tự nhiên là một trong những nội dung cơ bản của dân
số học. Biến động dân số tự nhiên bao gồm quá trình sinh, tử của con người.
1.2.1.1 Mức sinh
a. Khái niệm
Mức sinh là biểu hiện khả năng sinh sản tự nhiên của con người trên thực tế. Mức sinh
được chia làm hai loại: mức sinh tự nhiên và mức sinh thực tế.
Mức sinh tự nhiên: là sự sinh sản không có kiểm soát của con người. Trong xã hội kém
phát triển, con người thường sinh đẻ tự nhiên do không có ý thức hoặc không biết sử dụng các
biện pháp tránh thai chính vì vậy mức sinh rất cao. Người ta đưa ra những con số khác nhau về
mức sinh đẻ tự nhiên. Theo K.Pali (Liên Xô) khả năng sinh đẻ tự nhiên trung bình là 10,54 con.
Theo M.Verhacghe ở Pháp mức sinh đẻ tự nhiên ước tính của một gia đình trung bình là 6 đến
7 con. Theo Alfrea Sauvy thì số con là 10 đối với những cặp vợ chồng kết hôn từ tuổi dậy thì và
ăn ở với nhau cho tới khi mãn kinh. Theo Đinh Quang Thắng khả năng sinh đẻ của đời người
phụ nữ thường là 8 đến 10 con [35].
Mức sinh thực tế: là mức sinh có sự can thiệp của con người trong quá trình si
nh sản.
Năm 1999 tổng tỉ suất sinh của Việt Nam là 2,33 con/phụ nữ, năm 2007 giảm xuống còn 2,07
con/phụ nữ.
Ngày nay hầu hết các nước đều tiến hành kiểm soát mức sinh, nhằm đạt mức sinh phù hợp
thông qua thực hiện các biện pháp tránh thai, nhất là biện pháp tránh thai hiện đại.
b. Các chỉ tiêu đánh giá mức sinh
Tỉ suất sinh thô
(Crude Birth Rate): được sử dụng rộng rãi trong dân số học, tính bằng tỉ
số giữa số trẻ em sinh ra trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời gian ấy (đơn vị
x
: tỉ suất sinh đặc trưng ở độ tuổi x.
B
fx
: số trẻ em sinh ra trong năm của những phụ nữ ở độ tuổi x.
P
wx
: số phụ nữ ở độ tuổi x.
Tổng tỉ suất sinh (Total Fertility Rate): là số con trung bình của một phụ nữ trong suốt
cuộc đời nếu như họ trải qua những năm tháng sinh sản phù hợp với tỉ suất sinh đặc trưng theo
tuổi vào một năm nhất định.
Công thức:
TFR =
1000
49
15
ASFRx
Bảng 1.1: Mức sinh của các vùng trên thế giới năm 2008
Dân số
(triệu người)
CBR
(
0
/
00
)
14
21
19
11
18
2,6
1,6
2,8
4,9
2,1
2,5
2,4
1,5
2,4
Nguồn: World Population Data Sheet 2008
Số liệu bảng 1.1 cho thấy, nhìn chung, tỉ suất sinh thô và tổng tỉ suất sinh có quan hệ chặt
chẽ với trình độ phát triển của các nước. Đối với các nước phát triển, tỉ suất sinh thô và tổng tỉ
suất sinh thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển. Ở các châu lục khác nhau, do trình độ
phát triển khác nhau nên các chỉ số này cũng khác nhau.
c. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh
Mức sinh chịu sự tác động đa dạng, phức tạp của nhiều yếu tố cả về mặt kinh tế, xã hội và
môi trường. Sinh đẻ không chỉ là hiện tượng sinh học, nó còn chịu sự tác động trực tiếp và gián
tiếp của nhiều yếu tố khác nhau. Có thể phân các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh thành các
nhóm sau:
Tự nhiên, sinh học
Sinh đẻ trước hết là hiện tượng sinh học, vì vậy nó chịu sự tác động của yếu tố này. Mọi
m lí xã hội chưa thay đổi ngay.
Phong tục tập quán và tâm lí xã hội có tác động rất lớn đến mức sinh và được chia thành hai
loại:
- Phong tục tập quán và tâm lí xã hội cũ, lạc hậu biểu hiện ở chỗ: kết hôn sớm, muốn có
nhiều con, thích con trai, muốn “có nếp có tẻ”… chính vì vậy làm tăng mức sinh. Tư tưởng này
xuất hiện và tồn tại ở các nước có trình độ phát triển kinh tế thấp,
văn hóa lạc hậu, ở đó thường
tồn tại quan niệm “trời sinh voi, trời sinh cỏ” đã khuyến khích đẻ nhiều và tự hào khi có nhiều
con.
- Khi cơ sở kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi, đời sống của người dân được cải thiện,
phong tục tập quán và tâm lí xã hội cũ mất đi, xuất hiện phong tục tập quán và tâm lí xã hội
mới. Tồn tại trong xã hội phát triển với những đặc điểm kết hôn muộn, gia đì
nh ít con, nam nữ bình
đẳng dẫn đến mức sinh giảm.
Trình độ học vấn cũng ảnh hưởng đến mức sinh. Thông thường, trình độ học vấn tỉ lệ
nghịch với mức sinh. Những người có học vấn cao, nhất là phụ nữ thường sinh ít con hơn so
với những người có trình độ học vấn thấp. Bởi vì khi đã đạt đến một trình độ học vấn nhất định,
người phụ nữ thường kết hôn m
uộn, đẻ muộn, đẻ ít. Họ hiểu biết hơn, có điều kiện tiếp cận các
biện pháp tránh thai phù hợp, dành thời gian cho học tập, giao lưu văn hóa, tìm việc làm có thu
nhập khá.
Kinh tế
Yếu tố này rất đa dạng và tác động theo nhiều hướng khác nhau. Có nhiều quan điểm khác
nhau về ảnh hưởng của nó đối với sự biến động mức sinh. Theo quan điểm của đa số các nhà
nhân khẩu học và bằng hiện tượng thực tế, người ta xác minh rằng đời sống thấp thì mức sinh
cao và ngược lại. Mức sinh đẻ trong thời đại phong kiến cao hơn chế độ tư bản chủ nghĩa. Đối
với các nước kém phát triển tỉ lệ sinh cao hơn so với các nước kinh tế phát triển. Hoặc trong
cùng một nước, một thời kì nhóm
xã hội có trình độ phát triển, có mức sống khác nhau thì mức
31
23
11
26
21,4
11,1
23,9
21
12
23
Nguồn: Giáo trình dân số và phát triển - NXB ĐH Kinh tế quốc dân, trang 77; World population data sheet
2008.
Qua bảng 1.2 ta thấy rằng trong hơn nửa thế kỉ qua, mức sinh giảm một cách liên tục cùng
với sự phát triển kinh tế - xã hội (chung cho toàn thế giới cũng như đối với từng nhóm nước).
Hoặc trong cùng một thời kì mức sinh của các nước phát triển thấp hơn nhiều so với các nước
đang phát triển.
Di dân và đô thị hóa
Tác động của di dân đến mức sinh khá phức tạp, theo chiều hướng khác nhau. Di dân có
thể làm giảm mức sinh vì quá trình di chuyển cần có thời gian ổn định nơi ăn chốn ở, tìm việc
làm sẽ làm gián đoạn việc kết hôn và sinh con. Trái lại, di dân cũng có thể làm tăng mức sinh
cục bộ đối với cộng đồng dân cư nào đó với mục đích tăng cường sức lao động, sức mạnh của
gia đình, dòng họ ở nơi cư trú mới.
Đô thị hóa cũng ảnh hưởng đến mức sinh: đô t
hị hóa là quá trình chuyển từ hoạt động
nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp. Quá trình đô thị hóa góp phần làm thay đổi đời
sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các vùng lãnh thổ, cư dân nông thôn và có tác động làm giảm
mức sinh. Mức sống vật chất và tinh thần của đô thị cao hơn ở nông thôn nên mức sinh t
chính sách kinh tế - xã hội ưu đãi những gia đình đông con. Ngược lại, các nước đang phát triển
có chính sách hạn chế sinh nhằm giảm tỉ lệ gia tăng dân số như Việt Nam, Ấn Độ…
1.2.1.2 Mức tử
a. Khái niệm
Có nhiều khái niệm khác nhau diễn đạt cái chết. Liên Hợp Quốc và tổ chức Y tế Thế giới
đã thống nhất đưa ra định nghĩa sau: Chết là sự mất đi vĩnh viễn tất cả những biểu hiện của
sự sống, tại một thời điểm nào đó sau khi có sự kiện sinh sống sảy ra mà không có khả năng
nào khôi phục lại được.
Theo định nghĩa trên thì sự kiện chết chỉ sảy ra sau khi có sự kiện sinh sống (loại trừ hình
thức chết lâm
sàng hoặc chết bào thai). Mức tử là sự biểu thị mức độ chết của con người tính
trung bình trên một số dân xảy ra trong một khoảng thời gian nào đó. Thông qua mức tử có thể
đánh giá, so sánh và biết được tần suất, cường độ chết của các nhóm dân cư khác nhau từ đó
đánh giá được trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước đó.
b. Cá
c chỉ tiêu đánh giá mức tử
Trong đo lường mức tử, người ta dùng các thước đo khác nhau. Mỗi thước đo phản ánh
khía cạnh này hay khía cạnh khác của mức tử và có những ưu, nhược điểm riêng.
Tỉ suất tử thô
(Crude Death Rate): phản ánh mức tử của dân số nói chung xảy ra trong
một năm nào đó là nhiều hay ít, được tính bằng tỉ số giữa số người chết trong năm so với dân số
trung bình cùng thời điểm (đơn vị
0
/
00
).
Công thức
x
: số lượng dân số của độ tuổi x tính trung bình trong năm hoặc giữa năm.
Tỉ suất tử vong trẻ em 0 - 1 tuổi
(Infant Mortality Rate): phản ánh mức tử của số trẻ
em mới sinh trong năm đầu tiên của cuộc đời (đơn vị
0
/
00
).
Công thức:
IMR =
B
D
IMR: tỉ suất tử vong trẻ em 0 – 1 tuổi.
D
o
: số trẻ em 0 - 1 tuổi chết trong một năm nào đó.
B
o
: số trẻ em mới sinh sống trong cùng một năm nào đó.
Mức tử trẻ em 0 - 1 tuổi cao hay thấp phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của
một nước. Vì vậy nghiên cứu mức tử trẻ em có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nghiên cứu
mức tử và dân số nói riêng, phát triển nói chung.
c. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức tử
Tử chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, có thể chia thành các nhóm yếu tố như sau:
Mức sống dân cư
65
57
66
54
67
49
68
Các nước phát triển
10
75
8
75
6
76
6
77
Các nước đang phát triển
67
63
62
64
59
65
54
67
Nguồn: World population data sheet 2008; Giáo trình Giáo dục dân số sức khỏe sinh sản, Nguyễn Minh
Tuệ, trang 77.
Trình độ phát triển y học, mạng lưới y tế, vệ sinh phòng bệnh
Cùng với việc thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, việc
đẩy nhanh tiến bộ khoa học kĩ thuật trong lĩnh vực y tế đã góp phần đáng kể vào việc khống chế
< 15 tuổi > 65 tuổi
CDR
(
0
/
00
)
IMR
(
0
/
00
)
Eo
(năm)
Toàn thế giới
+ Trong đó:
- Các nước phát triển
- Các nước đang phát triển
+ Theo các châu lục
- Châu Phi
- Bắc Mĩ
- Mĩ Latinh và vùng biển
Caribe
- Châu Á
- Châu Âu
- Châu Đại Dương
28
17
7
11
7
49
6
54
82
7
23
45
6
25
68
77
67
54
78
73
69
75
76
Nguồn: World population data sheet 2008
Bảng 1.4 cho thấy: đối với nhóm nước đang phát triển có cơ cấu dân số trẻ, tỉ suất tử thô
không cao nhưng do tỉ suất tử của trẻ em cao nên tuổi thọ trung bình còn thấp. Ngược lại, nhóm
dịch. Tính đến tháng 12/2009 số người tử vong vì đại dịch cúm A/H1N1 trên toàn thế giới
12.220 người.
Thiên tai cũng là mối đe dọa khủng khiếp tới sự tồn tại và phát triển của con người cũng
như thế giới động vật. Hàng năm, Thế giới và Việt Nam có hàng triệu người chết vì bão lụt, hạn
hán, động đất, sóng thần… Thảm họa sóng t
hần ở Ấn Độ Dương vào năm 2004 làm hơn
200.000 người chết.
Trận động đất ở Haiti tháng 1/2010 với cường độ 7 richter đã làm chết gần
300.000 người, phá hủy 250.000 ngôi nhà.
Trong xã hội đương đại, tai nạn giao thông là mối quan ngại của nhiều quốc gia. Tai nạn
giao thông rất đa dạng, tai nạn đường sắt, đường bộ, hàng không…làm cho hàng trăm ngàn
người chết và bị thương mỗi năm, gây tổn thất lớn cho gia đình và xã hội.
1.2.1.3 Biến động dân số tự nhiên
Biến động dân số tự nhiên là sự đổi mới không ngừng dân số bởi các sự kiện sinh và tử.
Đó là sự th
ay đổi quy mô, cơ cấu dân số chỉ do tác động của sinh đẻ và tử vong trong một
khoảng thời gian nào đó.
Biến động dân số tự nhiên được phản ánh thông qua “tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên”. Tỉ
suất gia tăng dân số tự nhiên (Rate of Natural Increase) được xác định bằng hiệu số giữa tỉ
suất sinh thô và tỉ suất tử thô t
rong một khoảng thời gian xác định, trên một đơn vị lãnh thổ
xác định.
Công thức: RNI = CBR – CDR
RNI: tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên.
CBR: tỉ suất sinh thô.
CDR: tỉ suất tử thô.
Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên còn có thể xác định bằng hiệu số trẻ em sinh ra và số
người chết trong năm so với dân số trung bình của năm đó.
Công thức:
dân đồng nhất với sự di động dân cư.
Theo nghĩa hẹp: đã có nhiều tác giả đưa ra những khái niệm
di dân khác nhau như
V.I.Perevedensev (1966), coi di dân là tổng hợp sự di chuyển của con người gắn với sự thay
đổi chỗ ở. Còn theo V.V.Onhikienkô và V.Popokin (1973) di dân thường được hiểu là sự thay
đổi nơi thường trú của con người với tổng thể các nhân tố và nguyên nhân chính [3, tr.9]
Theo Liên Hợp Quốc: Di dân là sự di chuyển của dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến
một đơn vị lãnh thổ khác nhằm tạo nên một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian xác
định. Định nghĩa này được Li
ên Hợp Quốc sử dụng nhằm khẳng định mối quan hệ giữa sự di
chuyển theo một khoảng cách nhất định qua một địa giới hành chính, với việc thay đổi nơi cư trú.
Như vậy, theo nghĩa hẹp chỉ có sự di chuyển, thay đổi vĩnh viễn nơi cư trú mới tạo nên di
dân và những người thay đổi nơi ở thường trú mới gọi là người di cư thực sự. Những người
sống lang thang, đi du lịch, người đi làm ăn theo mùa vụ, di chuyển tạm thời và không có mục
đích cư trú lâu dài ở nơi đến thì không được coi là di dân. Liên quan tới khái niệm di dân, cần
phân biệt hai bộ phận cấu thành của một quá trình l
à xuất cư và nhập cư.
Xuất cư là việc di cư tự nguyện hay bắt buộc rời khỏi lãnh thổ này sang lãnh thổ khác để
sinh sống thường xuyên hay tạm thời trong khoảng thời gian dài. Đây là hiện tượng đặc trưng
cho nhiều nước đang phát triển do nhiều nguyên nhân như muốn cải thiện mức sống, tình trạng
thiếu lao động ở các nước kinh tế phát triển, chính trị, thiên tai…
Nhập cư là việc đi đến một lãnh thổ khác để sống thường xuyên hay tạm thời (
thường là
thời gian dài) của công dân một nước khác hay dân cư vùng khác trong một quốc gia. Nó bị chi
phối bởi nhiều nhân tố: kinh tế, chính trị, tôn giáo…Cũng như xuất cư, nhập cư ảnh hưởng
nhiều đến kết cấu và động lực tăng dân số.
Gia tăng cơ học có thể là dương nếu số người xuất cư ít hơn số người nhập cư. Ngược lại,
gia tăng cơ học là âm khi số người xuất cư nhiều hơn số người nhập cư. Trên phạm vi toàn thế
giới, chuyển cư không ảnh hưởng tới số lượng dân nói chung, nhưng đối với từng nước, từng