Sự thống nhất cơ bản giữa Chánh cương và Luận cương của Đảng năm 1930
(PGS.TS Ngô Đăng Tri)
Cương lĩnh chính trị là cơ sở để vạch ra các mục tiêu, nhiệm vụ, xác định
chủ trương, biện pháp tập hợp lực lượng và tổ chức đấu tranh thực hiện các mục
tiêu và nhiệm vụ chính trị cụ thể thích ứng với điều kiện và tình thế chính trị của
mỗi giai đoạn đấu tranh chính trị(
[1]
). Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập
đến nay đã có bốn cương lĩnh chính trị (kể cả Cương lính bổ sung, phát triển năm
2011), một cương lĩnh ruộng đất và một số văn kiện khác có tính cương lĩnh về
văn hóa, về quân sự
Các cương lĩnh chính trị của Đảng có mối liên hệ kế thừa và phát triển triển
theo hướng càng ngày càng hoàn chỉnh và đầy đủ hơn. Tuy nhiên, lâu nay có một
số ý kiến cho rằng giữa Chánh cương vắn tắt và Luận cương chánh trị của Đảng
năm 1930 có mâu thuẫn với nhau, cái sau phê phán cái trước và thụt lùi so với cái
trước. Để góp phần làm rõ vấn đề này, chúng tôi trình bày mối liên hệ giữa hai văn
kiện ấy qua sáu phương diện có tính chất chung, cơ bản là: 1) Mục đích và đường
lối chiến lược; 2) Nhiệm vụ chiến lược; 3) Lực lượng cách mạng chủ yếu; 4) Giai
cấp lãnh đạo; 5) Phương pháp cách mạng; 6) Quan hệ đồng minh quốc tế.
1.1. Về mục đích và đường lối chiến lược
Hiểu theo nghĩa đơn giản, cương lĩnh là văn bản xác định mục đích chiến
lược và con đường đi tới mục đích ấy (cương là dây, lĩnh là đỉnh). Chánh cương
vắn tắt và Luận cương chánh trị đều có mục đích như nhau, đều chủ trương đưa
cách mạng phát triển trải qua hai giai đoạn: cách mạng tư sản kiểu mới và cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng tư sản kiểu mới hay cách mạng tư sản dân
quyền có mục đích là đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc và dựng
nên chính quyền dân chủ, đưa ruộng đất cho dân cày. Cách mạng xã hội chủ nghĩa
là cuộc cách mạng kế tiếp cách mạng tư sản dân quyền, có mục đích là xây dựng
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản để giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp,
giải phóng con người.
Chánh cương vắn tắt ghi: Đảng “chủ trương làm tư sản dân quyền c.m và
Cả hai cương lĩnh đều xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt
Nam trong giai đoạn đầu, giai đoạn cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế
quốc và phong kiến, làm cho nước Việt Nam được độc lập, nhân dân được tự do,
đưa ruộng đất cho dân cày nghèo…
Chánh cương vắn tắt ghi: “A. Về phương diện xã hội: a) Dân chúng được
tự do tổ chức; b) Nam nữ bình quyền; c) Phổ thông giáo dục theo công nông hóa.
B. Về phương diện chính trị: a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong
kiến; b) Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập; c) Dựng ra Chính phủ công nông
binh; d) Tổ chức ra quân đội công nông. C Về phương diện kinh tế: a) thủ tiêu hết
các thứ quốc trái; b) Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân
hàng,v.n) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông
binh quản lý; c) Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho
dân cày nghèo…”(
[4]
). Luận cương chánh trị ghi: “Nhiệm vụ cốt yếu của cách
mạng tư sản dân quyền là: a) Đánh đổ đề quốc chủ nghĩa Pháp, phong kiến và địa
chủ; b) Lập chánh phủ công nông; g) Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập; h) Lập
quân đội công nông”(
[5]
).
Nghĩa là cả hai cương lĩnh đều xác định cách mạng Việt Nam trong giai
đoạn đầu là tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng. Tư sản dân quyền cách mạng
là cách mạng về phương diện chính trị, thổ địa cách mạng là cách mạng về phương
diện kinh tế. Hai nhiệm vụ chiến lược ấy quan hệ mật thiết với nhau hợp thành
cách mạng tư sản kiểu mới. Không có cương lĩnh nào nói chống đế quốc là hàng
đầu hay chống phong kiến là hàng đầu như một số công trình khẳng định. Cũng
không có cương lĩnh nào nói vấn đề ruộng đất là là thứ hai, là để phục vụ nhiệm
vụ dân tộc. Tuy nhiên, theo cách nói đánh đổ “Đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn
vua quan, phong kiến địa chủ” thì cần hiểu là cả hai cương lĩnh đều coi mục tiêu,
nhiệm vụ chống đế quốc là hàng đầu.
[7]
). Nếu
nói Luận cương chánh trị là “tả” trong vấn đề xác định lực lượng cách mạng và
kẻ thù cách mạng thì Thư này của Ban Phương Đông ra đời muộn hơn cũng mắc
hạn chế tương tự.
Điều đáng lưu ý là trong giai đoạn này có một văn kiện đề cập đến cả hai
cương lĩnh. Đó là Chỉ thị của Trung ương Thường vụ về vấn đề thành lập Hội
“Phản đế đồng minh” ngày 18-11-1930. Chỉ thị có đoạn: “Chánh cương sách lược
của cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương đã phân tích: Giai cấp công
nhân không đồng minh được với giai cấp nông dân là lực lượng tất yếu của cách
mạng thì không đánh đổ được đế quốc Pháp và tụi phong kiến phản cách mạng
trong nước; trái lại đông minh với nông dân mà không có khẩu hiệu chia đất cho
dân cày, thì dân cày sẽ không hưởng ứng. Như vậy cũng không làm được cuộc
cách mạng tư sản dân quyền thành công.
Trên đó là hai động lực chính căn bản cho sự bố trí hàng ngũ cách mạng;
còn mặt khác nữa là giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở
Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật đông,
thật kín thì cuộc cách mạng cũng khó thành công (rộng là toàn dân cùng đứng
trong một mặt trận chống đế quốc và tụi phong kiến làm tay sai phản động hèn hạ;
kín là đặt để công nông trong bức tường thành dân tộc phản đế bao la).
Từ trước các đồng chí chưa rõ vấn đề ấy, mà nay cũng vẫn mập mờ, nên dù
tổ chức cách mạng vẫn đơn thuần công nông và là một màu sắc nhất định- như:
Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Thanh niên đỏ, Sinh hội đỏ, và Cứu tế đỏ; do đó thiếu
mặt tổ chức thật quảng đại quần chúng, hấp thụ các tầng lớp trí thức dân tộc, tư
sản dân tộc…
Đó chính là hiểu chậm chạp và chưa thật triệt để Luận cương cách mạng tư
sản dân quyền… Do đó chúng ta đã tách rời dân tộc cách mạng với giai cấp cách
mạng làm hai đường mà chưa nhận định đúng là dân tộc cách mạng vẫn là một
nhiệm vụ trong giai cấp cách mạng. Sự chuyển biến lối này hay lối khác đó là
hoàn cảnh từng nơi từng lúc, chứ không phải hai đường sai trái nhau.
quần chúng nhân dân mà công nông là lực lượng đông đảo nhất, cách mạng nhất,
không có liên minh công nông sẽ không có cách mạng Việt Nam. Mặt khác, đã là
Đảng Cộng sản thì đương nhiên phải quan tâm đến lợi ích của quần chúng lao
động, đông đảo nhất, căn bản nhất là công nông. Không quan tâm đến lợi ích của
nhân dân, trong đó cơ bản, đông đảo nhất là công nông thì đó không phải là Đảng
Cộng sản. Điều này thuộc về nguyên tắc bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản và
quan niệm đó không trái với quan điểm coi trọng lợi ích toàn dân tộc. Đây là điểm
riêng có của Đảng Cộng sản, một đảng chính trị, có tính giai cấp rõ ràng mà càng
quan tâm đến lợi ích giai cấp mình thì càng quan tâm đến lợi ích của mọi giai tầng
xã hội khác, muốn giải phóng giai cấp mình thì phải ra sức giải phóng tất cả các
giai tầng xã hội, phải giải phóng dân tộc. Hiện nay, Đảng ta vẫn kiên định quan
điểm này nên luôn chủ trương độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, việc tập hợp lực lượng cách mạng quá coi trọng liên minh
công nông, nhấn mạnh vai trò và quyền lợi của giai cấp công nhân, giai cấp nông
dân vào thời điểm đất nước còn bị đế quốc đô hộ là chưa phù hợp, thể hiện tư
tưởng giáo điều, “tả” khuynh, nóng vội. Cả hai cương lĩnh đều mắc hạn chế này.
Chánh cương vắn tắt cho rằng “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận
dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa c.m đánh trúc bọn bọn
đại địa chủ và phong kiến”. “Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư
bản An Nam mà chưa rõ mặt phản c.m thỉ phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ
trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản c.m (Đảng Lập hiến, v.v ) thì phải đánh
đổ”. “Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng
một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp ”([12]). “Không
bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một
giai cấp nào khác”([13]). Đoạn trích đó thể hiện Chánh cương vắn tắt có quan
điểm giai cấp rất “rạch ròi”, có sự phân biệt và “dè dặt” trong tập hợp lực lượng
cách mạng.
Luận cương chánh trị ghi: “bọn tư bổn thương mại… đứng về một phe với
đế quốc chủ nghĩa và địa chủ mà chống cách mạng. Bọn tư bổn công nghệ…vì sức
lực yếu kém, có dính dáng với địa chủ, sợ phong trào vô sản “cho nên chúng nó
tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản
đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”(trong Điều lệ vắn tắt)(
[18]
).
Luận cương chánh trị ghi: “Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô
sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh
đạo thì cách mạng mới thắng lợi được”(
[19]
). “Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi
của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một
đường lối chánh trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng,
và từng trải đấu tranh mà trưởng thành. Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp
lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc mà đại biểu quyền lợi chánh và lâu dài,
chung cho cả giai cấp vô sản ở Đông Dương và lãnh đạo vô sản giai cấp Đông
Dương ra tranh đấu để đạt được mục đích cuối cùng của vô sản là chủ nghĩa cộng
sản”(
[20]
). “Trong công tác, Đảng phải liên lạc mật thiết với Đảng Cộng sản Pháp,
Tàu và Ấn Độ”(
[21]
). Chúng tôi cho rằng ở vấn đề này- vấn đề Đảng và xây dựng
Đảng, Luận cương chánh trị rõ ràng và đầy đủ hơn so với Chánh cương vắn tắt.
1.5. Về phương pháp cách mạng
Cả hai cương lĩnh đều nói là phải sử dụng bạo lực cách mạng, tức là phải
sử dụng sức mạnh của nhân dân. Chánh cương vắn tắt có sử dụng từ “đánh đổ”
chính quyền đế quốc, phong kiến và “dựng ra” chính phủ công nông binh. Nghĩa
là theo quan điểm cách mạng bạo lực, không phải bằng phương pháp cải lương,
song không rõ là “đánh đổ” như thế nào. Luận cương chánh trị ghi rõ là phải có
cách tranh đấu từ thấp đến cao, từ “phần ít” đến khi có thời cơ thì thực hiện khởi
nghĩa vũ trang giành chính quyền. Lúc đó “Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng
và Ấn Độ”(
[23]
).
Quan điểm quốc tế coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng
thế giới là mởi mẻ, đúng đắn. Với quan điểm, chủ trương đó, cách mạng Việt Nam
bắt đầu hội nhập với cách mạng thế giới, nên vừa có điều kiện tranh thủ sự giúp đỡ
của cách mạng thế giới vừa có thể đóng góp vào sự nghiệp chung của nhân dân thế
giới. Luận cương chánh trị đã đầy đủ, rộng rãi hơn Chánh cương vắn tắt về mặt
đoàn kết quốc tế và bạn đồng minh khi nhấn mạnh tới quan hệ không chỉ với vô
sản Pháp mà còn cả với quần chúng cách mạng ở các thuộc địa và bán thuộc địa,
nhất là Tàu và Ấn Độ.
Ở đây cần lưu ý là khi coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách
mạng thế giới (cách mạng vô sản) thì tính dân tộc của cách mạng Việt Nam, tư
tưởng dân tộc/yêu nước của Hồ Chí Minh và các đồng chí của Người không phải
là dân tộc/yêu nước hiểu theo phạm trù cũ mà là dân tộc/yêu nước theo lập trường
vô sản, là giải phóng dân tộc trong khuôn khổ cách mạng vô sản, một bộ phận của
cách mạng vô sản, thuộc cách mạng vô sản. Đã là cách mạng vô sản thì đánh đổ đế
quốc, phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng không phải là
mục đích cuối cùng, mà chỉ là một bước đi cần thiết trên lộ trình phải trải qua để đi
tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghiã cộng sản. Vì cách mạng vô sản có mục đích cuối
cùng là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người nên tính dân
tộc/yêu nước của Hồ Chí Minh và những người cộng sản là khác về chất so với
tính dân tộc/yêu nước của các bậc tiền bối theo lập trường phong kiến hay tư sản
Trong Di chúc, Hồ Chí Minh vẫn khẳng định Người đi theo “Cụ Các Mác, Cụ
Lênin”.
*****
Như vậy, Chánh cương vắn tắt và Luận cương chánh trị của Đảng năm
1930 là thống nhất với nhau về tất cả các nội dung cơ bản; sự sai khác nhau chỉ ở
đôi chỗ thuộc về diễn đạt và chủ yếu trong vấn đề sắp xếp lực lượng cách mạng.
Lâu nay, có nhiều người đã cho rằng Luận cương chánh trị (tháng 10-1930) đã
[26]
). “Tại sao chủ trương của H.n.h.n lại có nhiều chỗ không
đúng với chủ trương của Q.t? Đồng chí đứng ra chiêu tập H.n.h.n năm trước kia
thì được Q.t cho về tùy hoàn cảnh mà làm việc chứ chưa có được kế hoạch rõ ràng
gì. Khi đồng chí ấy về đến nơi thì thấy phong trào c.s tuy mới nổi nhưng đã chia rẽ
rồi nên tự ý hành động có nhiều việc sai lầm không đúng với kế hoạch của Q.t. Vì
đó mà có Hội nghị hiệp nhất. Đồng chí ấy nay đã nhận rõ những điều sai lầm và
cũng đã đồng ý với T.ư mà sửa đổi những chỗ sai lầm lúc trước”(
[27]
). Trung ương
chủ trương: “Trong nội bộ: a) Thủ tiêu chánh cương sách lược và Điều lệ cũ của
Đảng, lấy kinh nghiệm trong thời kỳ vừa qua mà thực hành công việc cho đúng
như Án nghị quyết và Thơ chỉ thị của Q.T.C.S”([28]),
Thư của Ban Phương Đông gửi Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày 13-11-
1930 có đoạn: “Trước hết, chúng tôi gợi ý rằng văn kiện dự thảo của hội nghị gần
đây của Ban Chấp hành Trung ương không nên gọi là “Cương lĩnh của Đảng” mà
lúc này sẽ chỉ đơn giản được công bố là dự thảo nghị quyết của hội nghị này cho
các đảng viên thảo luận nhằm chuẩn bị cho hội nghị Đảng sắp tới. Chúng tôi cho
rằng thời gian còn chưa chín muồi để Đảng Đông Dương thông qua một cương
lĩnh toàn quốc của Đảng. Một cương lĩnh như vậy là một vấn đề rất nghiêm túc và
chỉ có thể được xây dựng sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình Đông Dương và
nhiều vấn đề nghiêm trọng của phong trào cách mạng ở xứ này”. “Văn kiện dự
thảo của các đồng chí mà các đồng chí gọi là “Cương lĩnh của Đảng” còn rất sơ sài
và phải được viết lại rất cẩn thận”(
[29]
)
Những đoạn phê phán đó không hề có trong Luận cương tháng 10-1930.
Vả lại sự phê phán của các văn kiện trên là xuất phát từ ý thức, trách nhiệm
chung, theo nhận thức của Trung ương và Ban Phương Đông lúc bấy giờ, là sự
phê phán Bônsêvíc chứ không phải là mâu thuẫn, đối lập về tư tưởng. Bản thân
[4] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 2-3
[5]- Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 95
[6] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 94
[7] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 274- 275
[8] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 227-228
[9] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 4
[10] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 6
[11] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 97-98
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 4
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 6
[14] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 96-97
[15] -Văn kiện Đảng, toàn tập, Tập 3, 1931, Nxb CTQGHN, 1999, trang 157
[16] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 4
[17] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 5
[18] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 7
[19]- Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 94
[20] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 100
[21] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 103
[22] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 101- 102
[23] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 103
[24] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 108
[25] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 111
[26] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 233
[27] - Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 238
[28] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 112-113
[29]- Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, T2, Sđd, tr 274-275