Lời mở đầu
Kể từ dấu mốc lịch sử năm 1986, nền kinh tế nước ta chuyển từ tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất
nước đã có nhiều đổi mới. Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu chúng ta
đang trong quá trình xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng luôn được duy trì ở mức
cao. Trong công cuộc xây dựng đất nước ấy không thể không nhắc đến vai trò
của Kho bạc Nhà nước. Trải qua gần 20 năm hoạt động, Kho bạc Nhà nước Việt
Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, từng bước ổn định và phát triển, cùng với toàn
ngành Tài chính đạt được nhiều kết quả tích cực trong hoạch định chính sách,
quản lý, phân phối nguồ lực của đất nước. Có thể khẳng định rằng hệ thống Kho
bạc Nhà nước đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới nền tài chính quốc gia
thông qua những hoạt động cụ thể trong việc tập trung nhanh, đầy đủ nguồn thu
cho ngân sách nhà nước, thực hiện các chính sách xã hội và đảm bảo an ninh
quốc phòng, huy động một lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển kinh tế. Kho bạc
Nhà nước đã đảm bảo cung cấp thông tin chính xác về tình hình thu chi ngân
sách phục vụ sự chỉ đạo điều hành của các cơ quan trung ương và chính quyển
địa phương, góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng quản lý, hiệu quả sử
dụng ngân sách nhà nước. Sau một thời gian được thực tập tại Kho bạc Nhà nước
cùng với sư hướng dẫn chỉ bảo của giáo viên hướng dẫn và các cán bộ hướng
dẫn thực tập, em đã hoàn thành báo cáo tổng hợp về đơn vị.
Báo cáo thực tập tổng hợp gồm 3 phần
Chương 1: Tổng quan về Kho bạc Nhà nước
Chương 2: Những nét cơ bản về hoạt động của Vụ Huy động vốn Kho bạc
Nhà nước
Chương 3: Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước
1
Chương I : Tổng quan về Kho bạc Nhà nước
1.1. Lịch sử phát triển hình thành của Kho Bạc Nhà nước Việt Nam.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chuẩn bị cho sự ra
đời và hoạt động của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 28
sô 113/CP thành lập Vụ Quản lý quỹ ngân sách thuộc Ngân hàng Nhà nước, thay
thế cơ quan Kho bạc Nhà nước đặt tại Ngân hàng Quốc gia theo quyết định số
107/TTg ngày ngày 20-7-1951 của Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 4 tháng 1 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số
07/HÐBT tái thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính với
chức năng và nhiệm vụ chủ yếu là Quản lý quỹ ngân sách Nhà nước và các quỹ
dự trữ tài chính Nhà nước; tổ chức huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho
đầu tư phát triển. Theo Quyết định Số 07/HÐBT, hệ thống Kho bạc Nhà nước
được tổ chức thành 3 cấp: ở Trung ương có Cục Kho bạc Nhà nước trực thuộc
Bộ Tài chính; ở tỉnh, thành phố (trực thuộc Trung ương) có Chi cục Kho bạc Nhà
nước; ở huyện, quận và cấp tương đương có Chi nhánh Kho bạc Nhà nước. Ngày
1-4-1990, hệ thống Kho bạc Nhà nước được tổ chức khá hoàn chỉnh về chức
năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và chính thức đi vào hoạt động trện phạm vi cả
nước.
Trải qua hơn nửa thế kỷ ra đời và phát triển, kế thừa và phát huy những
truyền thống tốt đẹp vốn có của nền Tài chính cách mạng Việt Nam, Nha Ngân
khố trong những ngày đầu của Chính quyền cách mạng (thời kỳ1946 - 1951);
tiếp đến là Kho bạc nhà nước và Cơ quan quản lý Quỹ ngân sách Nhà nước trực
thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (thời kỳ 1951-1989), đặc biệt việc tái
thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính (từ năm 1990 đến
nay) đã không ngừng nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị
được giao, đóng góp có hiệu quả trong quá trình xây dựng và củng cố nền tài
chính độc lập tự chủ, trực tiếp tham gia vào công cuộc đổi mới, xây dựng và phát
triển đất nước Việt Nam ngày càng văn minh, giàu đẹp.
1.2.Vị trí và chức năng của Kho bạc Nhà nước.
1.2.1 Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức
năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách
3
nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao
quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn
chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước các khoản tiền do các tổ
4
chức và cá nhân nộp tại hệ thống Kho bạc Nhà nước; thực hiện hạch toán số thu
ngân sách nhà nước cho các cấp ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà
nước và của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của ngân sách nhà nước và các
nguồn vốn khác được giao theo quy định của pháp luật;
- Quản lý quỹ ngoại tệ tập trung của ngân sách nhà nước, định kỳ công bố tỷ giá
hạch toán phục vụ cho việc hạch toán các khoản thu chi ngân sách nhà nước bằng
ngoại tệ;
- Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ
khác do Kho bạc Nhà nước quản lý; quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu,
ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Quản lý tài sản quốc gia quý hiếm được giao theo quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà
nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước.
1.3.7 Được trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại Kho bạc Nhà nước để
nộp ngân sách nhà nước hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho
ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; từ chối thanh toán, chi trả các
khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
1.3.8 Tổ chức hạch toán kế toán ngân sách nhà nước, các quỹ và tài sản của
Nhà nước được giao quản lý, các khoản vay nợ, viện trợ, trả nợ của Chính phủ và
chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật; báo cáo tình hình thực hiện
thu, chi ngân sách nhà nước cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước
liên quan theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
1.3.9 Tổ chức thực hiện công tác thống kê kho bạc nhà nước và chế độ báo cáo
tài chính theo quy định của pháp luật.
1.3.10 Tổ chức quản lý, điều hành ngân quỹ kho bạc nhà nước tập trung, thống
nhất trong toàn hệ thống:
- Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán bằng tiền mặt,
- Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ,
chính sách đãi ngộ, thi đua khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng đối với cán
bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước theo
phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật.
1.3.17 Quản lý kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và tài sản được giao theo quy
định của pháp luật; được sử dụng các khoản thu phát sinh trong hoạt động nghiệp
vụ theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước.
1.3.18 Thực hiện cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chương trình cải
cách hành chính được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt.
1.3.19 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao
và theo quy định của pháp luật.
1.4. Cơ cấu tổ chức.
Kho bạc Nhà nước được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến
địa phương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung, thống nhất.
7
1.4.1.Cơ quan Kho bạc Nhà nước ở Trung ương
- Vụ Tổng hợp - Pháp chế;
- Vụ Kiểm soát chi ngân sách nhà nước;
- Vụ Huy động vốn;
- Vụ Kế toán nhà nước;
- Vụ Kho quỹ;
- Vụ Hợp tác quốc tế;
- Vụ Tổ chức cán bộ;
- Vụ Tài vụ - Quản trị;
- Văn phòng;
- Thanh tra;
- Sở Giao dịch Kho bạc Nhà nước;
- Cục Công nghệ thông tin;
- Trường Nghiệp vụ Kho bạc;
- Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia.
5. Kiểm soát các tổ chức
6. Nghiên cứu kinh tế, tài chính và truyền tin;
7. Thực hiện, quản lý các hoạt động hợp tác đối ngoại;
Toàn bộ hệ thống Kho bạc Nhà nước Pháp có khoảng 60 ngàn người. Số
cán bộ làm việc ở Trung ương chỉ khoảng 3%. Số cán bộ làm việc ở địa phương
chiếm khoảng 97%.
Tổ chức bộ máy của hệ thống Kho bạc Nhà nước Pháp như sau:
9
- Ở Trung ương có Vụ Kế toán công chịu trách nhiệm về các khoản thu,
chi cho ngân sách nhà nước. Bên cạnh Vụ trưởng Vụ Kế toán công có kế toán
trưởng Kho bạc Nhà nước.
- Ở tỉnh, thành phố có Chi cục Kho bạc.
- Ở cấp huyện có Chi nhánh Kho bạc.
10
Chương II : Những nét cơ bản về hoạt động của Vụ Huy động vốn
Kho bạc Nhà nước
Vụ huy động vốn thực hiện nhiệm vụ huy động vốn cho ngân sách nhà
nước và cho đầu tư phát triển thông qua phát hành các loại trái phiếu. Vì vậy hoạt
động của Vụ huy động vốn chủ yếu gắn liền với công tác phát hành trái phiếu
Chính phủ.
2.1. Quá trình phát triển thị trường trái phiếu
Trước khi hệ thống Kho bạc Nhà nước ra đời, trái phiếu Chính phủ được
phát hành chủ yếu dưới hình thức công trái xây dựng Tổ quốc và do Ngân hàng
Nhà nước đảm nhiệm. Việc phát hành không thường xuyên và kết quả còn hạn
chế do đồng tiền chưa ổn định và nguồn tích lũy trong dân còn ở mức thấp.
Sau khi hệ thống Kho bạc Nhà nước được thành lập, trái phiếu Chính phủ
được tổ chức phát hành thường xuyên dưới nhiều hình thức và phương thức khác
nhau, đã mở ra một trang sử mới của công tác huy động vốn để đáp ứng nhu cầu
bù đắp bội chi ngân sách và tăng cường nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế.
Quá trình phát triển của thị trường trái phiếu có thể được chia thành 3 giai
yếu là các ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm
Hoạt động thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc tuy còn ở giai đoạn thử
nghiệm song đã mang lại những kết quả thiết thực. Khối lượng tín phiếu đấu thầu
tăng qua các năm và là nguốn quan trọng để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà
nước. Cơ chế đấu thầu đã bước đầu tạo ra cơ hội cạnh tranh, hình thành lãi suất
tín phiếu theo cơ chế thị trường. Tín phiếu phát hành theo hình thức ghi sổ nên
giảm bớt chi phí phát hành. Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc quản lý sổ sách
và thanh toán tín phiếu đã cho phép rút ngắn thời gian thanh toán và tạo thuận lợi
cho việc chuyển giao tín phiếu trên thị trường thứ cấp. Nghiệp vụ quản lý phát
hành và thanh toán tương đối đơn giản, thuận lợi cho cả nhà phát hành và các nhà
đầu tư.
12